MỞ B ÀI
Nếu như thế kỷ XX trong lịch sử Việt Nam là “thế kỷ của những biến
đổi to lớn và sâu sắc, thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập
tự do thống nhất Tổ quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý
nghĩa lịch sử và thời đại” (1), thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng
của toàn dân tộc chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Là một quốc gia có truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, có quá
trình liên tục đấu tranh để vươn lên làm chủ cuộc sống trước thiên nhiên
khắc nghiệt và nhiều thế lực ngoại xâm hung bạo, bản thân lịch sử dân tộc
Việt Nam chính là những bài học vô cùng quý báu để giáo dục cho thế hệ
trẻ lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, khát vọng vươn lên vượt khó
để xứng đáng với quá khứ hào hùng và vinh quang của thế hệ đi trước. Hơn
thế nữa, sức mạnh của tri thức lịch sử không chỉ giới hạn ở chỗ giúp cho
những thế hệ hôm nay, ngày mai có hiểu biết đầy đủ về qúa khứ, mà còn
làm cho người đang sống có ý thức về xã hội, biết suy nghĩ cảm thụ những
gì đã xảy ra trong qúa khứ để có trách nhiệm với hiện tại và trong tương lai.
Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đã mạnh hơn nhiều, tuy
"từng bước phát triển" nhưng một số thành phần của kinh tế tri thức như
công nghệ thông tin, in-tơ-nét, điện thoại di động... trong giai đoạn 2005 2010 đã phát triển khá nhanh. Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Phần Lan, Ấn Độ... biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc
tế tạo ra, kết hợp nội lực với các thuận lợi bước đầu về phát triển kinh tế tri
thức Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Kinh tế tri thức và vấn đề đẩy
mạnh công CNH-HĐH ở Việt nam. Liên hệ với thực tế phát triển ở
TP.Thái Nguyên” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
1
NỘI DUNG
xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng
vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là
động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản
xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế
tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX,
dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi
mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là
máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán, mô phỏng được những
chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các bài
toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong
một số việc..., đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của
sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết
hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như:
công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến - nano..., trong đó công nghệ thông tin
và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống công nghệ cao là cốt lõi của
lực lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới
đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX.
II. Kinh tế tri thức và vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
1. Định hướng của Đảng cộng sản Việt nam về phát triển kinh tế
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác về sự vận động và phát
triển xã hội bao gồm 4luận điểm cơ bản:
Thứ nhất: sản xuất vật chất là nền tảng cơ sở của đời sống xã hội
Thứ hai: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Thứ ba: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh”.Tại đại hội Đảng này, Đảng ta cũng xác định rõ mục
4
tiêu: “ phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp” cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10
năm đổi mới, sự xác định rõ ràng về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi
cho nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Bước vào thế kỷ 21 bối cảnh trong nước và quốc tế có những thay
đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
(năm 2001) của Đảng nhận định: “thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi,
khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò
ngày càng nổi bật, có vai trò ngày càng lớn trong quá trình phát triển lực
lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy nhận thức của Đảng ta về CNH – HĐH
đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá trình CNH –
HĐH ở nước ta có thể rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2001 – 2010 được thông qua tại đại hội IX xác định: “con đường
CNH – HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát triển những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công
nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức”
Như vậy ngay từ khi tiến hành đổi mới thông qua các kỳ đại hội
Đảng ta đều xác định thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức. Điều này đã trở thành tôn chỉ định hướng rõ
ràng sự phát triển của nước ta.
2. Những quan điểm, nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
tố quan trọng của nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức,
kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức
mới nhất của nhân loại. Như vậy, lý luận và thực tiễn là căn cứ vững chắc
để xây dựng đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ, rút ngắn thời gian công
6
nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập
trung nguồn lực vào bốn hướng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách
kinh tế năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu
quả những tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh
nghiệp mới làm ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần
tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và
chia sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh
tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các
doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư
vấn và các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo
những mục tiêu đã xác định. Họ phải thường trực tiếp cận các kho thông
tin, tri thức của thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa" chúng
và thích nghi hóa cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ
cao mới.
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và
kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa
nước ta tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung
của khu vực và thế giới.
Thứ ba: quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần và có thể được rút
ngắn,việc cần được rút ngắn ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ
thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. bên cạnh đó bối cảnh mới trong
nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá
trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta thực hiện được công nghiệp
hoá, hiện đại hoá rút ngắn bao gồm hai mặt: thứ nhất, đạt và duy trì một tốc
độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài
8
để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó(thực
chất là tăng tốc để đuổi kịp) và thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương
thức công nghiệp hoá , hiện đại hoá cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là
bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới nền kinh tế có trình độ phát
triển cao hơn( thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp công
nghiệp hoá để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể
thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sang tỏ hơn
con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
4. Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức
Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy
năng lực sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội
tiếp thu tri thức của thế giới toàn cầu hóa.
Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế
tri thức lên ngay trình độ cao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực,
trên cơ sở cùng có lợi. Qua hội nhập và hợp tác cùng với việc gửi đi nâng
nhìn chung vẫn còn tụt hậu về công nghiệp công nghệ cao. Gần đây, sau
khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), số dự án công nghệ cao
đã tăng nhanh với vốn đầu tư lớn hứa hẹn triển vọng tốt.
Dịch vụ là một lĩnh vực rất lớn của kinh tế tri thức, có khi chiếm đến
trên 70% GDP, bởi vậy gắn kết với phát triển kinh tế tri thức sẽ có thuận
lợi đẩy mạnh hiện đại hóa nhanh dịch vụ ở nước ta. Các ngành dịch vụ
quan trọng như thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, y tế, giáo dục,
pháp luật... bắt buộc phải nhanh chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ
thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thông toàn cầu... Thời gian qua một số
ngành dịch vụ nước ta đã có tiến bộ đáng kể trong hiện đại hóa, nhưng nhìn
chung chưa khai thác hết tiềm năng, đáng lý còn có thể đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế nhiều hơn nữa.
Về mặt xã hội có nhiều loại dịch vụ quan trọng cần hiện đại hóa theo
hướng kinh tế tri thức. Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như
10
nước ta, có định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cần tập trung vào dịch vụ hành
chính điện tử (hoặc chính phủ điện tử). Đây là một cuộc cách mạng thực sự
hướng tới chủ nghĩa xã hội, vì nó, nếu được xây dựng đúng đắn và đầy đủ,
sẽ khách quan bảo đảm được công khai, minh bạch, không tham nhũng,
công bằng, dân chủ, văn minh. Đáng tiếc là thời gian qua có quyết tâm cao,
nhưng dùng người chưa đúng nên kết quả yếu kém, cần rút kinh nghiệm để
sắp tới làm tốt hơn. Khi đó sẽ có một nền hành chính điện tử được hiện đại
hóa nhanh dẫn tới rút ngắn được thời kỳ quá độ
Thời đại chúng ta là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX (1917). Cũng không phải
ngẫu nhiên mà cách mạng khoa học công nghệ bùng lên từ khoảng giữa thế
kỷ XX dẫn đến sự khởi đầu kinh tế tri thức và trở thành đặc trưng của thời
đại. Phải chăng đây là phản ánh mối quan hệ biện chứng tất yếu giữa khoa
trị tăng cao:
2.1. Các giải pháp thực hiện.
−
Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn: Ưu tiên phát triển công nghệ thông tin, đưa tri thức sản xuất kinh
doanh, tri thức khoa học công nghệ về tận người dân nông thôn, đồng thời
12
đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực, phục vụ cho đổi mới và hiện đại hóa
sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh năng suất, hiệu quả, thay đổi bộ mặt
nông thôn, chuyển lao động sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Xây
dựng những khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: sử dụng các công
nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật tự động hóa để điều khiển các
quá trình sản xuất nông nghiệp, đưa sản xuất hàng năm trên mỗi ha lên
nhiều trăm triệu đồng, hoặc hàng tỷ đồng.
Ứng dụng các công nghệ mới, đổi mới tổ chức quản lý sản xuất ở
nông thôn để phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, dịch
chuyển nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Phải khởi động
ngay ở nông thôn một khu vực khác năng động và hiện đại, đó là khu vực
công nghiệp. Từ một sự tích lũy ban đầu, khu vực này sẽ phát triển nhanh.
Đồng thời kết hợp tri thức truyền thống và tri thức hiện đại, với công nghệ
mới để hiện đại hóa, phát triển các làng nghề truyền thống để xây dựng
được một nền văn hóa kinh doanh lâu đời.
−
Đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ:
của thế giới; đó là sự nhảy vọt, tốc độ cao. Phát triển nhanh các ngành này sẽ
có hai tác dụng lớn: thúc đẩy đổi mới trong tất cả các ngành, và chuyển đổi
nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng kinh tế tri thức.
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta đòi hỏi phải tiến hành một cuộc
đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn nữa - một cuộc đổi mới mới trên
tất cả các lĩnh vực:
+
Đổi mới căn bản cách thức phát triển kinh tế: chuyển đổi triệt để
từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ dựa chủ yếu vào
nguồn lực vật chất sang dựa chủ yếu vào nguồn lực trí tuệ, chuyển trọng
tâm đầu tư từ đầu tư hữu hình sang đầu tư vô hình. Coi tri thức là nguồn
vốn quan trọng. Coi quyền sở hữu trí tuệ là quan trọng nhất trong các
quyền sở hữu.
+
Đổi mới các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng
nhất của kinh tế thị trường, là nơi biến tri thức thành giá trị. Doanh nghiệp
coi vốn tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của mình.
+
Đổi mới giáo dục đào tạo: Cải cách triệt để nền giáo dục theo
chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo,
thích nghi với sự phát triển kinh tế tri thức.
14
Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng
bá tri thức. Vì vậy người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất
trong nền kinh tế tri thức.
Trong tình hình hiện nay, việc đầu tư suy ngẫm để hoạch định một
chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo cũng không thể tách rời việc tìm
15
kiếm các giải pháp đột phá nhằm khắc phục những yếu kém hiện tại và
cũng là dọn đường cho việc thực hiện việc chiến lược cho tương lai. Ngoài
giải pháp chung về cải cách kinh tế, cải cách hành chính để tạo môi trường
thuận lợi cho giáo dục, thì theo tôi nghĩ là phải có các giải pháp sớm cho
vấn đề cấp bách như sau: Cải thiện đời sống và bồi dưỡng năng lực chuyên
môn thường xuyên cho thầy giáo để họ có điều kiện toàn tâm ý cho việc
dạy học và tham gia các công tác giáo dục – đào tạo; Cải cách các chế độ
thi cử, tuyển chọn, tuyển dụng,… để khắc phục tình trạng học chỉ để thi,
học vì bằng cấp, nạn bằng giả, học vị rởm; Tổ chức chu đáo việc nghiên
cứu cải cách chương trình và nội dung dạy học, biên soạn sách giáo khoa
và tài liệu giảng dạy cho chất lượng một cách thích hợp cho các cấp học;
Tích cực ứng dụng công nghệ tin và sử dụng Internet trong giáo dục và đào
tạo, trong việc dạy và học, phát triển dần các hình thức tự học; Và để thực
hiện các giải pháp quan trọng nhất là phải tìm cách huy động mọi nguồn
đầu tư trong xã hội cho giáo dục đào tạo, ít nhất cũng phải được khoảng
23% - 25% như nhiều nước trong khu vực; Có những cải cách trong giáo
dục đại học để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đào tạo ra những
kỹ sư, kỹ thuật viên lành nghề,các cử nhân có tri thức vững vàng. Phát triển
giáo dục đại học từng bước hiện đại như các nước phát triển khác.
Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, thì trước hết nhà nước
phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi hiền tài là “nguyên khí
quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những
Ứng dụng rộng rải công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh
vực để đổi mới và phát triển. Nhanh chóng phát triển chính phủ điện tử,
thương mại điện tử, tin học hóa các hoạt động tài chính ngân hàng, giáo
dục trên mạng, y tế từ xa…. Phấn đấu xây dựng xã hội thông tin trước năm
2015. Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân truy cập thông tin. Thực hiện
sự hài hòa giữa việc kiểm soát với quyền tự do thông tin.Giữ gìn và phát
huy truyền thống văn hóa dân tộc,giữ gìn tính đa văn hóa và tính đa ngôn
ngữ. Có chính sách, biện pháp khắc phục sự khác biệt về thông tin giữa các
vùng, các đối tượng dân cư.
17
Cần ưu tiên trợ giúp cho các vùng nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh
tiếp xúc với thông tin giá rẽ hoặc miễn phí. Mọi doanh nghiệp coi thông tin
là động lực hàng đầu cho đổi mới và phát triển. Sử dụng công nghệ thông
tin để đổi mới hệ thống tổ chức quản lý các nguồn lực hiệu quả hơn, sử
dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường, đổi mới cách sản xuất kinh
doanh, nâng cao cơ sở tri thức cho doanh nghiệp.
Đẩy mạnh hơn nữa đào tạo nhân lực cho công nghệ thông tin; đồng
thời tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ
thông tin, nhằm tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin. Phát triển phần mềm mã nguồn mở phải coi là ưu tiện
quốc gia, đó là nhân tố quan trọng để phát triển công nghệ thông tin trong
nước.
Mạng thông tin điện tử là môi trường lý tưởng cho việc quảng bá tri
thức, nâng cao kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, nó rút ngắn khoảng cách
giữa khoa học, sản xuất với tiêu dung, làm tăng nhanh tốc độ đổi mới.
Chính công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự chuyển đổi hệ thống đổi mới từ
mô hình tuyến tính sang mô hình tác động qua lại giữa các yếu tố.
Tóm lại, Việc phát triển kinh tế tri thức là một đòi hỏi mà tất cả các
kinh tế - xã hội 10 năm 2001 – 2010 nhằm: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của
nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”. Chiến lược này đã được Đảng ta
vận dụng một cách sáng tạo trong điều kiện cụ thể của đất nước để vạch ra
đường lối đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cho sự nghiệp
thúc đẩy nền kinh tế vươn lên mạnh mẽ mà không gì khác là phải : “công
nghiệp hoá hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức”.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí kinh tế và phát triển - Số chuyên đề của kinh tế MacLênin (Tháng 11/2001)
2.
Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001
3.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
4.
Tạp chí Khoa học xã hội
20