Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn oesophagostomum spp trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-----------------------------

BÙI THỊ TRÌNH

NGHIÊN CỨU SỰ Ô NHIỄM TRỨNG GIUN TRÒN OESOPHAGOSTOMUM SPP.
TRONG MÔI TRƢỜNG CHĂN NUÔI LỢN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: 43 Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan
Khoa Chăn nuôi Thú y– Trường Đaị học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và viết khóa luận, em đã nhận được sự quan
tâm, hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể cá nhân trong và ngoài trường.
Xuất phát từ lòng kính trọng em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô giáo trong

Bảng 4.6: Sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong thức ăn
của lợn.............................................................................................. 38
Bảng 4.7: Sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong nước
uống của lợn..................................................................................... 39
Bảng 4.8. Hiệu lực của thuốc tẩy giun Oesophagostomum cho lợn ............... 40
Bảng 4.9: Độ an toàn của thuốc tẩy giun Oesophagostomum cho lợn trên thực
địa..................................................................................................... 41
Bảng 4.10: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. ở lợn trước khi
thử nghiệm biện pháp phòng bệnh .................................................. 42
Bảng 4.11: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. ở lợn sau 1
tháng thử nghiệm ............................................................................. 44
Bảng 4.12: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Oesophagostomum spp. ở lợn sau 2
tháng thử nghiệm ............................................................................. 45


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Loài O. dentatum............................................................................... 5
Hình 2.2. Loài O. longicaudum......................................................................... 5
Hình 2.3. Giun O. dentatum .............................................................................. 6
Hình 2.4. Trứng giun O. dentatum .................................................................... 6
Hình 2.5 Sơ đồ vòng đời giun kết hạt. ............................................................. 6
Hình 4.1: Biểu đồ thực trạng phòng chống bệnh giun, sán cho lợn ở huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ............................................................ 29
Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn tại

4 xã thuộc huyện Phú



Dung lượng mẫu

TT:

Thể trọng

spp :

species plural


v

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp. ..................... 3
2.1.2. Bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn ........................................................... 8
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh ............................................... 10
2.1.4. Chẩn đoán bệnh ..................................................................................... 11
2.1.5. Các biện pháp phòng và điều trị............................................................ 13
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 17

trường chăn nuôi lợn ............................................................................. 31
4.3.1. Sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. ở môi trường chăn
nuôi lợn ................................................................................................. 31
4.3.2. Sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong thức ăn của
lợn ......................................................................................................... 37
4.3.3. Sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong nước uống
của lợn ................................................................................................... 39
4.4. Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng trị Oesophagostomois cho lợn ở
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. ..................................................... 40
4.4.1. Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy giun tròn Oesophagostomum
spp. cho lợn trên thực địa. ..................................................................... 40


vii

4.4.2. Nghiên cứu, thử nghiệm biện pháp phòng trị Oesophagostomosis cho
lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên ............................................. 42
4.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Oesophagostomum spp. cho lợn . 46
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 48
5.1. Kết luận .................................................................................................... 48
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiê ̣p , có tới trên 70% dân số làm nghề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, việc phòng bệnh ký sinh trùng, đặc
biệt là bệnh do giun kết hạt còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách
của thực tế chăn nuôi lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực
hiện đề tài:" Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp.
trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và thử
nghiệm biện pháp phòng trị bệnh”.

1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Oesophagostomum
spp. gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, là cơ sở khoa học cho việc
nghiên cứu các biện pháp phòng trị Oesophagostomosis ở lợn, từ đó đề xuất
quy trình phòng chống bệnh hiê ̣u quả.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi
cách phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, nhằm hạn
chế tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và thúc đẩy ngành
chăn nuôi phát triển.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp.

Skrjabin, Petrov A.M. (1977) [21] cho biết:
Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới
hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh
ghim. Con đưc có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm. Con
cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm.
Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,5 mm; con
cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi
0,453m – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [4], các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh
cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai
cổ, giun đực có túi đuôi và một gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun
cái ở gần hậu môn.
Loài Oesophagostomum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn
nhỏ, không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai
bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 – 9 mm rộng 0,14 – 0,37 mm,
có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 – 1,14 mm. Giun cái dài 8 – 11,2 mm, âm
đạo dài 0,1 – 0,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê (1998) [16], Trương Lăng, Xuân
Giao (2002) [9], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2005) [10], Phan Lục (2006) [18]:
Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già lợn, không có cánh đầu.
Túi miệng rộng, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên
chỗ phình to của thực quản. Con đực dài 8 – 9 mm x 0,37 mm có túi đuôi.
Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với rìa mép của túi
đuôi. Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời hai


5



6

Hình 2.3. Giun O. dentatum

Hình 2.4. Trứng giun O. dentatum

2.1.1.3. Vòng đời giun kết hạt lợn
Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [9], Phạm Sỹ
Lăng và cs (2005) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [11] cho biết:
Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian.
Trứng có kích thước 70 – 74 μm x 40 – 42 μm, gồm 8 – 16 hạt trong vỏ
trứng khi mới nở nhiệt độ 25 – 27ºC sau 10 – 17 giờ trứng nở thành ấu trùng
(theo Shoulsby cần 24 giờ). Ấu trùng I đo được 304 – 307 μm, lúc mới nở,
sau phát triển đo được 425 – 433 μm. Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC
phát dục thành ấu trung II dài 440 - 645 μm. Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì
ấu trùng gây nhiễm III, dài 515 – 532 μm. Kể cả vỏ dài 660 – 720 μm.
Giun trưởng thành

Trứng

Ấu trùng
10 – 17 giờ

(Ký sinh ở ruột già
lợn)
Rời

Lô ̣t 2 xác
lầ n

2.1.1.4. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh
Theo S.krjabin và cs. (1977) [21]: Ở nhiệt độ thích hợp (30ºC), trong
trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 – 18 giờ mới nở ra và vào môi
trường bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 – 50ºC trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp
3ºC trứng không phát triển.
Phan Lu ̣c (2006) [18] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống của ấu
trùng cảm nhiễm môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu. Gặp nhiệt độ và
độ ẩm thích hợp, sau 5 – 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm.
Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn.
Theo Phan Địch Lân và cs. (2002) [13], Phan Lục, Nguyễn Đức
Tâm (2000) [17], Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008) [6]: Trứng giun kết
hạt theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 – 17 giờ
nở thành ấu trùng.
2.1.1.5. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh
Alicata (1935) cho biết ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức đề
kháng tốt với nhiệt độ để ở -19ºC đến -29ºC qua 10 ngày vẫn sống, để ở nhiệt
độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm. Ấu trùng rất nhạy cảm với
khô ráo. Ấu trùng này lẫn vào thức ăn nước uống mà vào ký chủ. Khi tới mật
chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén (trích theo Phạm Sỹ Lăng và
cs. 2005) [10].


8

Skrjabin, Petrov A.M (1977) [21] cho biết: Ấu trùng cảm nhiễm
Oesophagostomum sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh
này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ cũng
như máng nước lâu ngày không cọ rửa. Những ấu trùng cảm nhiễm có sức đề
kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động của
các nhân tố hóa học tốt hơn so với ấu trùng các giai đoạn trước.

lớn tỷ lệ nhiễm cao và cường độ nhiễm nặng. Khi lợn lớn bị bệnh có rất
nhiều u kén ở ruột.
Lợn càng lớn, tỷ lệ nhiễm càng cao (lợn 8 tháng tuổi nhiễm: 73,3%) (Chu Thị Thơm và cs. 2006 [24]).
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2005) [10], Phan Địch Lân và cs. (2005) [14]
nhận xét: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn 8 tháng tuổi lần lượt như sau: 46,9%, 67,4%, 72,1%, 73,3%.
Các tác giả cũng cho biết thêm: Vì lợn có sức đề kháng đối với giun kết hạt
nên tỷ lệ nhiễm thấp, tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây
ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm
vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén. Ngoài ra do
thời gian sống của Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn tương đối dài
từ 8 – 10 tháng.
Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [11] cho biết: Tỷ lệ nhiễm
đối với lợn < 2 tháng tuổi, 3 – 7 tháng tuổi và >8 tháng tuổi lần lượt là:
46,9%, 72,4% và 73,3%.
- Tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ:
Theo Phan Địch Lân và cs. (2002) [13]: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
kết hạt phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi. Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt lợn
cao ở vụ Hè – Thu và giảm đi ở vụ Đông – Xuân.
- Tỷ lệ nhiễm theo phương thức chăn nuôi:
Lợn nuôi theo phương pháp truyền thống (tận dụng) có tỷ lệ và cường
độ nhiễm cao hơn nhiều so với lợn nuôi theo phương thức công nghiệp
(Nguyễn Thị Bích Ngà và cs. 2011 [20]).


10

2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý


Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008) [6], Phan Lục (2006) [18], lợn
bị bệnh giun kết hạt thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính:
Ỉa chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăng
cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con
vật gầy dần rồi chết.
- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời
kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm. Các triệu chứng khác không rõ lắm.
2.1.3.3 Bệnh tích
Theo Phan Lục (2006) [18]: Ở ruột có những u kén nhỏ bằng đầu đinh
ghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên trong có ấu trùng giun. Kết tràng
thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u kén ở ruột. Có khi u kén bị hoại
tử, bên trong có mủ. Có những u kén đã thành chấm sẹo. Niêm mạc ruột già
sung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột có nhiều giun kết hạt trưởng thành.
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [11] cho biết: Sau khi nhiễm giun 5 ngày,
ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ. Ở giữa kén này có điểm màu
vàng, bên trong có ấu trùng giun. Tới ngày thứ 7 – 8 thì kết tràng bị viêm có
mủ. Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạt
đậu, có khi chỉ dài 0,1 cm.
2.1.4. Chẩn đoán bệnh
* Với gia súc sống:
Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng
kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Chẩn đoán
trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun Oesophagostomum
ký sinh. Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun
Oesophagostomum ở lợn. Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng
trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun.



13

Để xác định cường độ nhiễm, sử dụng phương pháp đếm trứng giun kết
hạt trên buồng đếm Mc. Master nhằm xác định số trứng giun kết hạt trên 1
gam phân.
Phương pháp Mc. Master được tiến hành như sau: Lấy 4 gam phân cho
vào cốc thủy tinh, cho thêm nước lã sạch, khuấy đều, lọc bỏ cặn bã. Nước lọc
để lắng trong 1 – 2 giờ, gạt bỏ nước, giữ lại cặn. Sau đó thêm 56 ml dung dịch
NaCl bão hòa khuấy đều, dùng pipet bơm dung dịch vào buồng đếm Mc.
Master, để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi. Đếm tất cả trứng giun
trong buồng đếm, rồi tính theo công thức:
Số trứng có trong 1 gam phân = số trứng có trong 1 buồng đếm*2*15.
* Với lợn chết:
Việc chẩn đoán bệnh giun kết hạt (Oesophagostomum) được tiến hành
qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở ruột già và tìm giun
Oesophagostomum.
2.1.5. Các biện pháp phòng và điều trị
* Biện pháp phòng bệnh:
Theo Skrjabin, Petrov A.M. (1977) [21], muốn thanh toán bệnh giun
sán, phải phòng bệnh có tính chất chủ động. Dùng tất cả mọi phương pháp vật
lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hóa học, sinh vật học… để diệt giun sán trên
cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng,
giun sán trưởng thành).
Phạm Hữu Doanh và cs. (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy
giun sán bằng các thuốc đặc hiệu. Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch.
Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [15] cho biết: Biện pháp hữu hiệu để
phòng chống bệnh giụn sán ở gia súc là biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp.
Nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp

phân xốp để không khí lưu thông trong đống phân. Qua 3 - 7 ngày nhiệt độ
trong đống phân tăng đến 55 - 70ºC khiến sinh vật đại bộ phận bị tiêu diệt.
Nén chặt đống phân lại lúc đó lượng vi sinh vật còn sống giảm đến 90%. Ở
nhiệt độ này trứng giun bị ung, hỏng trong 15 - 25 ngày ủ.


15

* Tổ chức vệ sinh nơi ăn uống:
Nước uống, máng uống cho lợn phải sạch, sau một ngày uống nước
phải được quét rửa. Các nguồn nước không bị nhiễm hóa chất, xăng dầu
độc hại.
Các biện pháp vệ sinh khu chăn nuôi như sau:
- Vệ sinh bên ngoài: Vệ sinh nền chuồng, sân chơi không để nước tiểu,
nước rửa chuồng, nước phân chảy vào theo thức ăn xanh của lợn, phân lợn
phải được ủ trước khi mang đi sử dụng, xung quanh chuồng lợn nên trồng
nhiều cây xanh, thức ăn xanh cho lợn ăn phải được rửa nhiều lần.
- Định kỳ tẩy giun theo quy định: 2 tháng tuổi tẩy giun lần thứ nhất, lợn
5 - 6 tháng tuổi tẩy giun lần thứ 2.
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trên thế giới là sử dụng vacxin
chế tạo theo phương pháp phóng xạ để phòng bệnh giun tròn cho lợn.
- Tăng cường bồi dưỡng chăm sóc cho lợn là biện pháp tăng cường sức
chống bệnh của con vật, hạn chế tác hại do giun chiếm đoạt chất dinh dưỡng
của vật nuôi.
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong một khu vực.
Nếu có lợn ốm phải được cách ly.
Phan Lục và cs. (2006) [19], Chu Thị Thơm và cs. (2006) [24] cho biết:
Để phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ
chăn nuôi. Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để giệt trứng giun. Định kỳ tẩy giun.
Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với

dưới da liều 0,3 mg/kg TT cho lợn có tác dụng làm giảm 94 – 100% các giai
đoạn chưa trưởng thành của giun kết hạt.
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [3] có thể sử dụng: Levamisole: 5mg/ kg
TT hay Ivemectin dạng premix: 100μg/ kg TT/ ngày. Trộn vào thức ăn liên
tục 7 ngày.


17

Ngoài ra, theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [11] có thể điều trị bằng
một trong các thuốc sau:
- Levamisole: Dùng liều 12 – 15mg/ kg TT lợn, cho uống hoặc tiêm.
- Phenothiazin: Dùng liều 0,2 – 0,3g/ kg TT lợn, cho uống 2 lần vào 2
buổi sáng.
- Ivermectin (Hanmectin): Dùng liều 0,2mg/ kg TT cũng cho kết quả
khả quan và an toàn, cần tiêm thuốc cho lợn 2 lần với liều trên, cách nhau 1
ngày. Tiêm Hanmectin với liều 1ml/ 10kg TT.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tuổi lợn nhiễm các loài giun tròn nặng nhất là từ 2 – 4 tháng tuổi trên
một tỷ lệ nhiễm chung là 49 – 65,9%. Qua mổ khám thấy các loại giun sán
chính ở lợn có sự xuất hiện của Oesophagostomum (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ
Dương Thái 1978 [25]).
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2006) [5] cho biết: lợn bình thường
nhiễm giun kết hạt là 20,86%, tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là
27,02%. Mật độ nhiễm giun kết hạt ở lợn tiêu chảy nặng hơn so với lợn
bình thường.
Bùi Lập (1979) [12] cho biết, lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 7 loài giun sán
trong đó có giun kết hạt. Các loài nhiễm tăng theo tuổi lợn là: Fasciolopsis
buski, Stephanurus dentatus và O. dentatum.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status