Học viện Tài chính
nghiệp
Luận văn tốt
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập và các tài liệu đã được kiểm toán của công ty.
Tác giả luận văn
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
ii
Luận văn tốt
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
3.2.1. Đẩy mạnh hoạt động marketing....................................................................................70
3.2.2. Hoàn thiện hệ thống thông tin.......................................................................................71
SV: Nguyễn Thị Hiên
: Hoạt động môi giới
HĐTV
: Hoạt động tư vấn
HNX
: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
: Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
LNST
: Lợi nhuận sau thuế
OTC
: Thị trường chứng khoán phi tập trung
TTCK
: Thị trường chứng khoán
UBCK
: Uỷ ban chứng khoán
iv
Luận văn tốt
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
1
Luận văn tốt
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, thể hiện ở số lượng cổ phiếu, trái phiếu không ngừng được tăng lên. Tuy
nhiên, trong 5 năm đầu đi vào hoạt động, số lượng chứng khoán lưu hành trên
thị trường vẫn tương đối chậm. Điều này cũng thật dễ hiểu khi thị trường của
chúng ta mới ở dạng sơ khai, non trẻ, chưa thực sự thu hút được sự quan tâm
Luận văn tốt
Thực tiễn hoạt động môi giới tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên chứng khoán Maybank Kim Eng.
3.
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề được nghiên cứu dựa trên cơ sở kết hợp sử dụng các phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh và phương
pháp phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. đề tài đã hệ thống
lý thuyết, kết hợp với việc đánh giá phân tích thực tiễn để rút ra những kế
luận và đề xuất chủ yếu.
4.
Kết cấu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, đề ài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng môi giới chứng khoán của
công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng chất lượng môi giới của công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên chứng khoán Maybank- Kim Eng
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng môi giới chứng khoán tại
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chứng khoán Maybank- Kim
Eng
Để hoàn thành bài viết này tôi đã cố gắng và nỗ lực hết mình, tuy nhiên
vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân
thành từ phía các thầy cô và các anh chị tại đơn vị thực tập để tôi có thể hoàn
thành tốt hơn nữa đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị tại phòng môi giới công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên chứng khoán Maybank Kim Eng, đã tạo điều
kiện cho tôi để được học hỏi và làm việc trong thời gian vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Cao Minh Tiến người đã giúp đỡ
tôi hoàn thành tốt luận văn của mình.
Trải qua quá trình hàng trăm năm, tương thích với sự phát triển
của thị trường (số lượng và chủng loại khách hàng, số lượng và chủng
loại sản phẩm dịch vụ tài chính), các công ty môi giới chứng khoán
được hình thành và phát triển theo hướng rất đa dạng, cả về phương
diện quy mô, địa bàn hoạt động cũng như tính chất hoạt động. Công ty
môi giới có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như:
- Phân loại theo hình thức tổ chức kinh doanh chứng khoán :
•
Công ty TNHH: Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp vào doanh
nghiệp. Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu.
•
Công ty cổ phần: Là một pháp nhân độc lập với chủ sở hữu công ty
là các cổ đông. Cổ đông chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ và các tài sản
khác của doanh nghiệp theo số vốn góp vào doanh nghiệp.
CTCP có quyền phát hành chứng khoán (trái phiếu và cổ phiếu) ra công
chúng theo quy định của pháp luật.
Do các ưu điểm, tính đa năng của công ty TNHH và CTCP so với công ty hợp
danh nên hiện nay hai hình thức CTCK này được tổ chức chủ yếu trên thế giới.
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
•
Công ty chứng khoán phi tập trung: Là các công ty hoạt động chủ
yếu trên thị trường OTC và thường đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường.
•
Công ty trái phiếu: Là công ty chuyên kinh doanh các loại trái
phiếu.
1.1.3. Đặc điểm công ty chứng khoán
1.1.3.1. Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Là một pháp nhân hoạt động trên thị trường tài chính, để được thành lập
công ty chứng khoán phải đủ các điều kiện cơ bản sau
+ Điều kiện về vốn: CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp
định. Vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
5
Luận văn tốt
Ví dụ, Việt Nam quy định mức vốn pháp định cho từng loại hình kinh doanh
Học viện Tài chính
nghiệp
6
Luận văn tốt
2. Giấy phép thành lập doanh nghiệp.
2. Phương án nhân sự
3. Phương án hoạt động
4. Điều lệ CTCK
5. Các tài liệu minh chứng về vốn, tình hình sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất
và trình độ chuyên môn của đội ngũ quản lý với các giấy tờ khác theo quy định.
Sau thời gian nghiên cứu hồ sơ, UBCKNN sẽ thông báo kết quả về việc chấp
thuận hay từ chối cấp phép cho thành lập CTCK.
Nếu được chấp thuận, trước khi khai trương, CTCK phải tiến hành công bố
công khai việc thành lập trên báo và các phương tiện thông tin khác. Nội dung
công bố do UBCKNN quy định.
1.1.3.2. Công ty chứng khoán là trung gian trên thị trường tài chính.
Là một trung gian trên thị trường tài chính, công ty chứng khoán có đầy đủ
các đặc điểm của một trung gian tài chính khác, được thể hiện các mặt sau:
+ Trung gian thông tin:
Công ty chứng khoán được trang bị công nghệ thông tin hiện đại và đội
ngũ nhân viên chuyên nghiệp nên có thể tiếp cận được nhiều nguồn thông tin
khác nhau, thông tin từ doanh nghiêp niêm yết, từ cơ quan quản lý và cả tin đồn
trên thị trường. Từ đó,chọn lọc tập hợp lại cung cấp tư vấn cho nhà đầu tư. Các
thông tin này có thể cung cấp miễn phí cho khách hàng hoặc có những thông tin
thì khách hàng phải trả tiền phí.
+ Trung gian về vốn:
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không đựợc tiết lộ các thông tin
về tài khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ
khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.
- CTCK khi thực hiện hoạt động tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ
cho khách hàng và giải thích rõ mức độ rủi ro mà khách hàng phải gánh chịu,
không được khẳng định mức lợi nhuận mà khách hàng có thể kiếm được.
- CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các thù
lao thông thường mà dịch vụ tư vấn mang lại.
- Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư
chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường CTCK mất khả năng
thanh toán.
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không đựợc
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình,
gây thiệt hại cho khách hàng.
Các công ty chứng khoán không được thực hiện các hoạt động làm cho
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
8
Luận văn tốt
khách hàng hiểu lầm về giá cá và bản chất giá trị của chứng khoán, và các
hoạt động gây thiệt hại cho khách hàng.
• Nhóm nguyên tắc về tài chính
9
Luận văn tốt
gian cho cả nhà đầu tư và nhà phát hành. Công việc này đã tạo ra cơ chế
huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán.
1.1.4.2. Đối với nhà đầu tư
Công ty chứng khoán được phép thực hiện các nghiệp vụ như môi
giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư. Do vậy, công ty chứng
khoán đã giúp làm giảm các chi phí và thời gian giao dịch, từ đó nâng
cao hiệu quả đầu tư và tạo tính năng động trên thị trường chứng khoán.
Điều này có thể hơi ngược so với các loại hàng hóa thông thường, khi
mà hoạt động trung gian làm tăng chi phí cho người mua và người bán.
Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt, đòi hỏi người kinh doanh
phải bỏ rất nhiều thời gian và chi phí tìm hiểu thông tin, nó cũng rủi ro
rất cao khi tham gia đầu tư. Công ty chứng khoán với các hoạt động
chuyên nghiệp, chuyên môn cao và uy tín sẽ giúp thị trường hoạt động
hiệu quả hơn.
1.1.4.3. Đối với thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán muốn phát triển thì không thể thiếu được
vai trò của các công ty chứng khoán.Bởi vì:
- Công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường
Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên do
người mua và người bán không thể trực tiếp tham gia vào quá trình mua
bán nên để đưa ra mức giá cuối cùng họ phải thông qua các công ty
chứng khoán. Các công ty chứng khoán là thành viên của thị trường, họ
cũng góp phần tạo ra giá cả cho thị trường thông qua đấu giá. Trên thị
trường sơ cấp công ty chứng khoán cùng với nhà phát hành đưa ra mức
trường có những dấu hiệu tiêu cực, thiếu sự minh bạch hay có sự thao
túng, lũng đoạn thị trường. Các công ty chứng khoán có thể hiện được
vai trò này bởi họ vừa là nhà bảo lãnh phát hành, nắm các thông tin của
các tổ chức phát hành, vừa là trung gian thực hiện các giao dịch trên thị
trường, nắm các thông tin về các nhà đầu tư. Một trong những yêu cầu
của thị trường là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám
sát của các cơ quan quản lý thị trường .Việc cung cấp thông tin cho các
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
11
Luận văn tốt
cơ quan này vừa là quy định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề
nghiệp của các công ty chứng khoán.
1.1.5. Các hoạt động chính của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một trung gian tài chính, thực hiện các hoạt
động cơ bản sau: Môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát
hành, tư vấn đầu tư và các hoạt động phụ trợ khác.
1.1.5.1. Môi giới chứng khoán
Là hoạt động trung gian đại diện mua hoặc đại diện bán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán sẽ đại diện cho
khách hàng tiến hành giao dịch cho khách hàng thông qua cơ chế giao dịch tại
Luận văn tốt
thực hiện lệnh khách hàng trước lệnh của mình. Thậm chí, ở một số nước
pháp luật còn quy định công ty chứng khoán chỉ được thực hiện một trong hai
hoạt động.
+ Các hình thức tự doanh
Giao dịch gián tiếp: Các công ty thực hiên mua bán thông qua sở giao,
lệnh mua bán chứng khoán với khách hàng mà họ không xác định được trên
thị trường.
Giao dịch trực tiếp: Công ty chứng khoán tiến hành mua bán với các
công ty khác hoặc với khách hàng một loại chứng khoán trên thị trường OTC.
1.1.5.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện phát hành ra công chúng đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần
đến công ty chứng khoán tư vấn phát hành và bảo lãnh phân phối cổ phiếu ra
công chúng. Đây chính là hoạt động bảo lãnh phát hành của công ty chứng
khoán và hoạt động chiếm một tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của
công ty chứng khoán.
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán tổ chức đó gửi yêu cầu
bảo lãnh đến công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán sẽ ký một hợp đồng
tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán phát hành, số lượng, định
giá chứng khoán và đưa ra phương án phân phối chứng khoán. Để được bảo
lãnh, công ty chứng khoán phải trình lên ủy ban chứng khoán phương án bán
và cam kết bảo lãnh. Khi được thông qua, công ty chứng khoán có thể ký hợp
đồng trực tiếp với tổ chức phát hành.
Khi được ủy ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến
thời hạn giấy phép phát hành có hiệu lực thì công ty chứng khoán thực hiện
phân phối chứng khoán. Các hình thức chủ yếu là:
- Bán riêng cho các tổ chức, các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí
- Bán cho các nhà đầu tư hiện hữu hay nhà đầu tư có quan hệ với tổ chức
phát hành
Luôn nhắc nhở khách hàng là những lời tư vấn của mình chỉ mang tính
tham khảo dựa trên cơ sở lý thuyết có thể đúng hoặc sai khách hàng là người
quyết định cuối cùng trong việc sử dụng các thông tin. Nhà tư vấn sẽ không
chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà lời khuyên mình đưa ra.
Không được mời chào dụ dỗ khách hàng mua bán một một loại chứng
khoán nào đó. Hoạt động tư vấn phải dựa trên những yếu tố khách quan là quá
trình phân tích tổng hợp, logic các vấn đề nghiên cứu.
1.1.5.5. Các hoạt động khác
+ Lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ các chứng khoán của khách
hàng thông qua tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong
giao dịch chứng khoán vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là
giao dịch theo hình thức ghi sổ. Khách hàng phải mở tài khoản lưu ký tại
công ty chứng khoán hoặc ký gửi chứng khoán. Khi thực hiện hoạt động lưu
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
14
Luận văn tốt
ký chứng khoán, CTCK thu được một khoản phí từ lưu ký, chuyển nhượng
chứng khoán.
+ Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Đây là hoạt động quản lý vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào
chứng khoán thông qua một danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng
15
Luận văn tốt
+Hoạt động quản lý quỹ: Ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật
về chứng khoán còn cho phép các công ty chứng khoán tham gia quản lý quỹ
đầu tư. Theo đó, công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý sử
dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào thị trường. Công ty chứng
khoán được thu phí quản lý đầu tư.
1.2. Hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động môi giới chứng khoán
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán
Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán được hiểu là hoạt động trung
gian hoặc đại diện mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí hoặc
hoa hồng.
Thông qua hoạt động môi giới CTCK sẽ chuyển đến khách hàng của
mình những sản phẩm, dịch vụ tư vấn, và là nơi kết nối giữa những nhà đầu tư
mua- bán chứng khoán. Hoạt động môi giới thông thường là hoạt động mà
nhân viên môi giới sẽ thực hiện lệnh cho khách hàng và nhận phí hoa hồng
được hưởng. Đây là lực lượng chủ yếu của hoạt động môi giới. Những nhân
viên môi giới nay cũng cần đồi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp nhất định. Nhân
viên môi giới lập giá phải trực tiếp tìm kiếm khách hàng trong phạm vi cả trong
và ngoài công ty, nhân viên môi giới lập giá cũng đòi hỏi về kỹ năng trình độ
làm việc, nhưng họ có cường độ làm việc cao hơn so với nhân viên môi giới
thông thường, bởi họ còn phải bỏ công tìm kiếm khách hàng. Nhân viên môi
giới còn có hoạt động tạo lập thị trường, đó là việc thực hiện hỗ trợ duy trì một
thị trường ổn định đối với mỗi loại chứng khoán nhất định.
1.2.1.2. Đặc điểm hoạt động môi giới chứng khoán
Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của hoạt động môi giới là sự trung gian.
1.2.2. Quy trình môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường bậc cao so với các sản phẩm tài
chính có tính chất đặc biệt. Muốn tham gia vào thị trường họ phải tuân thủ
những quy trình cơ bản sau:
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
17
Luận văn tốt
Bước 1:
Khách hàng mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK, khách
hàng cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
- Khách hàng là tổ chức cũng như cá nhân trong và ngoài nước có đủ
tư cách pháp nhân đều có thể mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Mức phí
mở tài khoản giao dịch chứng khoán phụ thuộc vào mỗi CTCK.
- Nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chứng khoán cũng đồng nghĩa với
việc họ đã ký kết một hợp đồng ủy thác cho CTCK nơi mà mình mở tài khoản.
CTCK sẽ thực hiện các hoạt động về môi giới, lưu ký… cho khách hàng.
- Khách hàng có thể giao dịch mua bán chứng khoán đối với tài
khoản của mình sau khi đã ký kết hợp đồng.
Bước 2:
Khách hàng lưu ký chứng khoán để bán chứng khoán hoặc nộp tiền( ký
chứng khoán thì tiền bán sẽ về tài khoản chứng khoán của mình trong bao lâu.
Bước 5:
Việc thanh toán bù trừ trong giao dịch chứng khoán sẽ thực hiện thông
qua hệ thống tài khoản của công ty chứng khoán tại ngân hàng thương mại.
Đối với việc đối chiếu bù trừ về chứng khoán do Trung tâm lưu ký chứng
khoán thực hiện thông qua hệ thống tài khoản lưu ký chứng khoán.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch sẽ kết thúc bằng việc in ra các chứng
từ thanh toán. Các chứng từ được gửi cho các công ty chứng khoán và là cơ
sở để thực hiện thanh toán và giao nhận giữa các công ty chứng khoán.
Đến ngày thanh toán, công ty chứng khoán sẽ thực hiện giao tiền thông
qua ngân hàng chỉ định thanh toán và giao chứng khoán thông qua hình thức
chuyển khoản tại Trung tâm lưu ký chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại
Sở giao dịch chứng khoán, công ty sẽ thanh toán tiền và chứng khoán cho khách
hàng thông qua hệ thống tài khoản khách hàng mở tại công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán thanh quyết toán với khách hàng (T+3) dựa trên
giá trị giao dịch chứng khoán, lệ phí, phí giao dịch, và phụ phí.
Giá trị giao dịch chứng khoán là giá mua bán chứng khoán được xác
định theo giá giao dịch chính thức khi khớp lệnh.
Phí giao dịch: các công ty chứng khoán phải công bố biểu phí giao dịch
chứng khoán trước khi khách hàng thực hiện giao dịch, bao gồm:
- Phí môi giới của công ty chứng khoán do công ty chứng khoán thỏa thuận
với khách hàng trong khung do pháp luật quy định và theo từng loại chứng
khoán. Trong phí giao dịch gồm chi phí thanh toán chuyển khoản tiền và
chứng khoán lưu ký.
Phí
= giá trị lệnh đặt x tỷ lệ phí (%)
SV: Nguyễn Thị Hiên
quả cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Ngân hàng, công ty chứng khoán, các
quỹ đầu tư đều là các trung gian tài chính hoạt động trên thị trường tài chính,
thị trường chứng khoán nhằm huy động vốn cho nền kinh tế. Các tổ chức này
giữ vai trò là kênh dẫn vốn từ một bộ phận tổ chức, cá nhân có vốn dư thừa,
tạm thời nhàn rỗi đến bộ phận khác trong nền kinh tế đang thiếu vốn, cần huy
động vốn. Sự vận động của nguồn vốn thường diễn ra theo nhiều kênh khác
nhau, tuy nhiên có hai kênh quan trọng và hiệu quả nhất là hệ thống ngân
hàng và thị trường chứng khoán. Đặc điểm chung của hệ thống ngân hàng là
huy động từ những khoản tiền tiết kiệm trong nhân dân để cung cấp các
SV: Nguyễn Thị Hiên
Lớp: CQ48/17.02
Học viện Tài chính
nghiệp
20
Luận văn tốt
nguồn vốn chủ yếu là ngắn hạn và trung hạn cho nền kinh tế. Chính vì vậy,
yêu cầu cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn được đặt lên vai trò của thị
trường chứng khoán.
- Giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế của việc chuyên môn hóa, môi giới chứng khoán giúp giảm
thiểu chi phí giao dịch. Ở mọi thị trường, để thực hiện giao dịch thì người bán
và ngườ mua phải có cơ hội gặp nhau, trao đổi, thẩm định về chất lượng hàng
hóa, và thỏa thuận giá cả. Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán – thị trường
Khi thực hiện vai trò trung gian giữa người bán (tổ chức phát hành
chứng khoán) và người mua (nhà đầu tư), công ty chứng khoán, nhân viên
môi giới có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và phản ánh với nhà
cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Có thể nói, hoạt động môi giới chính là một
trong những nguồn cung cấp ý tưởng thiết kế sản phẩm, dịch vụ theo yêu cầu
của khách hàng. Kết quả về lâu dài sẽ cải thiện được tính đơn điệu của sản
phẩm, dịch vụ, nhờ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu khách
hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, trong xã hội cho
đầu tư phát triển.
Trong những thị trường mới nổi như ở Việt Nam trong giai đoạn đầu
thành lập, hànghóa và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn điệu, nếu được tổ chức tốt
thì nghề môi giới chứng khan có thể góp phần cải thiện được môi trường này.
Môi trường đầu tư với các sản phẩm đa dạng, phí dịch vụ thấp và lợi nhuận
thỏa đáng sẽ thu hút mạnh nguồn vốn cho phát triển kinh tế.
- Cải thiện môi trường kinh doanh
Hoạt động môi giới chứng khoán góp phần hình thành nền văn hóa đầu
tư. Một khi đã thâm nhập sâu rộng vào cộng đồng các doanh nghiệp và nhà
đầu tư, hoạt động môi giới chứng khoán là yếu tố quan trọng góp phần hình
thành nên ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng, thói quen và kỹ năng
sử dụng dịch vụ đầu tư. Ngoài ra, chính hoạt động môi giới cũng góp phần
hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán, vì
hoạt động ở lĩnh vực này sẽ làm phát sinh và bộc lộ rõ nhứng xung đột lợi ích
giữa các đối tượng tham gia thị trường. Nếu môi trường pháp lý không đủ
chặt chẽ và không đủ hiệu lực thì mâu thuẫn phát sinh sẽ dẫn đến đổ vỡ trên
thị trường.
1.3.
Chất lượng môi giới chứng khoán và sự cần thiết phải nâng cao
chất lượng môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán