Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội - Pdf 40

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỒ THỊ HƯƠNG MAI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN
KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2015


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỒ THỊ HƯƠNG MAI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN
KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI
Chuyên ngành

:Quản lý kinh tế

Mã số

: 62 34 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Ngọc Lợi
PGS.TS. Bùi Văn Huyền

HÀ NỘI – 2015


THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI..................................................................................................... 110
4.1. DỰ BÁO VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHU CẦU VỐN CHO KẾT CẤU HẠ
TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI ................................................................................ 110
4.2. QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRONG PHÁT TRIỂN
KẾT CẦU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................... 117


4.3. GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ
TRONG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI GIAI
ĐOẠN 2015 - 2020 .................................................................................................................. 122
4.4. ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP..................................................................... 141
4.5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ....................................................................................................... 144
5

KẾT LUẬN........................................................................................................................ 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................ 151
7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 152

8

PHỤ LỤC .......................................................................................................................... 163

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN ................................................................................................ 163


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị

- KCHTKT:

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

- NSĐP:

Ngân sách địa phương

- NSNN:

Ngân sách nhà nước

- NSTP:

Ngân sách thành phố

- NSTW:

Ngân sách trung ương

- ODA:

Hỗ trợ phát triển chính thức

- PPP:

Hợp tác công - tư



đô thị

Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013 ......................................................................... 77
 
Bảng 3.4. Kết quả thực hiện vốn ngân sách đầu tư cho phát triển KCHTGTĐT
Hà Nội giai đoạn 2011- 2015 .......................................................................... 85
 
Bảng 4.1. Cơ cấu sử dụng phương tiện giao thông đô thị của Hà Nội trong
giai đoạn 2020 - 2030 ................................................................................... 113
 
Bảng 4.2. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà
Nội giai đoạn 2015 - 2030 ............................................................................ 115
 
Bảng 4.3. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Hà Nội
giai đoạn 2015 - 2030 ................................................................................... 115
 


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1. Quy trình QLNN về vốn đầu tư trong phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông đô thị ............................................................................................. 39
 
Biểu đồ 3.1. Thu ngân sách nhà nước của Hà Nội giai đoạn 2008 -2013....... 67
 
Biểu đồ 3.2. Chi ngân sách nhà nước của Hà Nội giai đoạn 2008 -2013 ....... 68
 
Biểu đồ 3.3. Vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Hà Nội
(2008 - 2013)................................................................................................... 70

Nằm trong xu thế chung của cả nước, với tiềm năng, lợi thế của một
thành phố lớn, thủ đô - trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của cả nước, quá
trình đô thị hóa ở Hà Nội đã diễn ra hết sức mạnh mẽ trong những năm qua
và KCHTGTĐT cũng đã được quan tâm đầu tư phát triển. Luật Thủ đô
(21/11/2012) đã khẳng định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư và có chính sách huy
động các nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển các công trình hạ tầng kỹ
thuật có quy mô lớn, quan trọng trên địa bàn thủ đô” và “tập trung đầu tư
và huy động các nguồn lực đầu tư trong phát triển KCHT giao thông và hệ
thống vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Thủ đô” [54].
Tuy nhiên, KCHTGTĐT Hà Nội còn kém, chưa tương xứng với nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội của thủ đô, thường xuyên xảy ra tình trạng ách tắc


2
giao thông trên hầu hết các tuyến phố nội đô. Một trong những nguyên nhân
của hạn chế, bất cập đó là công tác quản lý nhà nước (QLNN) về vốn đầu tư
cho KCHTGT chưa hiệu quả, gánh nặng đầu tư vẫn đặt lên NSNN vốn đã hạn
hẹp, các nguồn vốn khác ngoài NSNN đã được chú trọng song chưa đáp ứng
yêu cầu. Đặc biệt, việc sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả, phân bổ vốn còn
dàn trải, chậm tiến độ; tình trạng thất thoát, sai phạm, lãng phí vốn đầu tư còn
xảy ra nhiều, gây bức xúc trong dư luận; một số công trình giao thông đô thị
chưa đạt mục tiêu như khi trình và phê duyệt dự án...
Với mục tiêu phát triển Hà Nội trở thành một thủ đô văn minh, một đô
thị bền vững, Hà Nội rất cần một hệ thống KCHTGTĐT đồng bộ, hiện đại.
Chính vì vậy mà việc hoàn thiện QLNN về vốn đầu tư trong phát triển
KCHTGTĐT Hà Nội nhằm khắc phục các hạn chế của công tác đầu tư, mang
lại hiệu quả cao là vấn đề có tính cấp thiết, cần được nghiên cứu và thực hiện
một cách thấu đáo. Do đó đề tài “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát
triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội” được tác giả chọn làm chủ
đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành: Quản lý kinh tế.

- Về thời gian và địa bàn nghiên cứu
Thực trạng QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT trên địa
bàn Hà Nội được khảo sát trong giới hạn thời gian từ năm 2008 - 2013; đề
xuất giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Địa bàn khảo sát là nội đô lãnh thổ hành chính của thành phố Hà Nội sau
khi mở rộng.
4. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp tiếp cận
Thứ nhất, tiếp cận hệ thống. Nghiên cứu QLNN về vốn đầu tư trong phát
triển KCHTGTĐT Hà Nội được đặt trong tổng thể phát triển KCHT,
KCHTGT với KCHTGTĐT của quốc gia cả về chính sách tài chính lẫn quy
hoạch. Mặt khác, QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT được
đặt trong mối quan hệ với QLNN trong điều kiện kinh tế thị trường nói
chung, QLNN trong đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và nhằm phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.


4
Thứ hai, tiếp cận đa ngành. QLNN về vốn đầu tư trong phát triển
KCHTGTĐT là lĩnh vực hết sức phong phú, rộng lớn, đa dạng với nhiều loại
nguồn vốn, đầu tư cho nhiều loại công trình giao thông khác nhau với những
hình thức khác nhau nên cần có cách tiếp cận đa ngành.
Thứ ba, tiếp cận lịch sử - cụ thể. Cách tiếp cận lịch sử - cụ thể được sử
dụng khi xem xét QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT gắn với
bối cảnh, điều kiện cụ thể của Hà Nội trong từng thời kỳ nhất định để có thể
rút ra những nhận định khoa học trung thực, chính xác, thuyết phục.
Thứ tư, tiếp cận hiệu quả và bền vững. Với cách tiếp cận này, QLNN về
vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội được xem xét gắn với hiệu
quả kinh tế và xã hội của việc sử dụng vốn đó phù hợp với quan điểm phát
triển bền vững đô thị, đảm bảo sự phát triển hệ thống KCHTGTĐT phù hợp

từ vốn NSNN. Cụ thể một số tài liệu thứ cấp tác giả đã sử dụng nghiên cứu
như: Niên giám thống kê thành phố Hà Nội do Cục thống kê Hà Nội công bố
các năm 2008 đến 2012, các báo cáo của UBND Thành phố, Sở Kế hoạch và
Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Tài chính từ năm 2008 đến nay… và được
phân tích trong chương 3.
Đồng thời tác giả còn sử dụng các kết quả đã công bố từ các luận án, các
đề tài khoa học, sách, bài báo của các nhà khoa học trong và ngoài nước để
phục vụ cho nghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã làm rõ thêm lý luận về QLNN về vốn đầu tư trong phát
triển KCHTGTĐT từ khái niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá QLNN vốn đầu
tư trong phát triển KCHTGTĐT từ khâu lập kế hoạch, huy động, phân bổ,
thanh quyết toán và đặc biệt làm rõ vai trò của công tác kiểm tra, giám sát
trong toàn bộ quy trình quản lý.
- Luận án đã phân tích 05 nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về
vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT.
- Luận án cũng đã tổng hợp kinh nghiệm của một số địa phương trong và
ngoài nước theo các nội dung quản lý và các nhóm vấn đề chủ yếu chỉ ra tầm
quan trọng của việc đa dạng hoá các nguồn lực, tăng cường kiểm tra, giám sát


6
của Nhà nước trong quá trình huy động, phân bổ và thanh quyết toán vốn đầu
tư trong phát triển KCHTGTĐT.
- Dựa trên dữ liệu thu thập từ điều tra và phỏng vấn và các báo cáo,
nghiên cứu đã công bố, luận án phân tích tổng thể quá trình QLNN về vốn đầu
tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013, chi tiết trên tất
cả các khâu, từ các căn cứ xây dựng, quá trình thực hiện và kết quả thực hiện,
từ đó chỉ ra thành công và hạn chế cũng như nguyên nhân của QLNN về vốn
đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT Hà Nội trong giai đoạn này.


QLNN về vốn đầu tư nói chung và QLNN về vốn đầu tư trong phát triển
KCHTGTĐT đã được đề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước. Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, trong quá trình tăng
trưởng và phát triển, thực hiện công cuộc CNH, HĐH, tái cấu trúc nền kinh
tế, mức độ đô thị hóa ngày càng cao, khoảng cách giữa nhu cầu phát triển
giao thông đô thị và khả năng đáp ứng vốn của quốc gia nói chung và các địa
phương nói riêng ngày càng lớn thì người ta càng có xu hướng quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề QLNN về vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT một
cách bền vững, nhằm hướng tới các giải pháp huy động và sử dụng có hiệu
quả vốn đầu tư, trong điều kiện nhu cầu vốn ngày càng cao, nguồn lực vốn từ
NSNN cho đầu tư ngày càng khan hiếm.
Có thể thấy rằng, hầu hết các công trình nghiên cứu QLNN đối với vốn
đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT tập trung vào các nội dung sau đây:
(i) Nghiên cứu đầu tư công hoặc quản lý đầu tư công.
(ii) Nghiên cứu QLNN về vốn đầu tư trong phát triển nói chung, trong đó
có vốn đầu tư cho phát triển KCHTGTĐT.
Cả hai hướng nghiên cứu này có thể tiếp cận QLNN trên bình diện quy
trình quản lý vốn đầu tư trong phát triển hoặc tiếp cận nghiên cứu độc lập các
khâu trong quy trình quản lý. Chẳng hạn, nghiên cứu QLNN đối với việc huy
động và quản lý các nguồn lực vốn cho đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT;
các nguồn vốn đầu tư trong phát triển KCHTGTĐT như vốn từ NSNN, vốn


8
ODA, hợp tác công tư (PPP) trong đầu tư phát triển KCHTGTĐT; giám sát
quá trình sử dụng vốn đầu tư KCHTGTĐT).
Sau đây là những hướng nghiên cứu chính liên quan đến đề tài luận án.
1.1.1. Tiếp cận quản lý nhà nước về vốn đầu tư
  trong



9
đó có 40 quốc gia có thu nhập thấp, chỉ số cho phép điểm chuẩn giữa các
vùng và các nhóm quốc gia và phân tích chính sách có liên quan nhiều sắc
thái và xác định các lĩnh vực cụ thể mà nỗ lực cải cách có thể được ưu
tiên [90].
Jim Brumby trong nghiên cứu: “Đường giao thông đến nơi nào, cây cầu
cho sự tăng trưởng: Chúng ta biết gì về hiệu quả đầu tư công ở các nước đang
phát triển”cho thấy: “Ở nhiều nước đang phát triển, kết cấu hạ tầng là một
“nút cổ chai” trong triển vọng tăng trưởng của họ. Đặc biệt, với những nước
có thu nhập thấp, hạn chế, yếu kém trong KCHT, đặc biệt là đường giao
thông, truyền thông làm giảm hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây nên những
hạn chế về cấu trúc, bộ máy quan liêu, tham nhũng và thâm hụt vốn đầu tư
trầm trọng. Việc huy động các nguồn lực vốn để đầu tư vào KCHTKT sẽ là
nút gỡ để đạt tăng trưởng kinh tế cao hơn, bền vững hơn”. Tuy nhiên, một
thực tế là vốn ngày càng khan hiếm, trong khi nhu cầu đầu tư cho KCHT,
trong đó có KCHTGT ngày càng tăng, nên hiệu quả đầu tư công (lợi nhuận
lớn hơn trên một đồng vốn so với trước đây) được xem như cách thức để tháo
gỡ sự khan hiểm của vốn đầu tư [93].
Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho thấy, hiệu quả đầu tư
công có tác động lên tăng trưởng theo hướng thuận chiều. Có nghĩa là khi đầu
tư công được quản lý một cách hiệu quả thì tăng trưởng kinh tế sẽ gia tăng.
Ngược lại, khi một đồng vốn bỏ ra lãng phí thì sẽ hạn chế tăng trưởng ở mức
tương ứng. “Sự chuyên chế của khái niệm: CUDIE (tích luỹ, khấu hao, nỗ lực
đầu tư) là không vốn” của Pritchett,L cũng cho rằng, chi tiêu đầu tư công
bằng tích lũy vốn. Việc sử dụng vốn kém hiệu quả, tham nhũng, lãng phí làm
sai lệch hiệu quả đầu tư công. Ví dụ: rất nhiều đường giao thông chưa hoàn
chỉnh đã hư hỏng, bỏ không, cây cầu chưa hoàn chỉnh, các dự án quy hoạch
treo…Vì thế, để xóa bỏ khoảng cách giữa vốn và KCHT chỉ bằng cách “đầu

kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí trong việc xây dựng các công trình công
cộng là một thực trạng nhức nhối. Quản lý đầu tư công trong các doanh
nghiệp nhà nước (DNNN) đang là bài toán khó cho các nhà quản lý trong việc
nâng cao hiệu quả vốn nhà nước. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả đầu tư công, trong đó nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong


11
việc phối hợp, bố trí vốn đầu tư với việc quy hoạch đầu tư hợp lý, tái đầu tư
công, xây dựng quy trình đầu tư công phù hợp, tính toán đến tính hai mặt của
đầu tư công.
Nguyễn Phương Thảo trong bài viết “Kinh nghiệm quản lý đầu tư công
của một số quốc gia trên thế giới”, cũng khẳng định vai trò của đầu tư công
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần tạo nên kết cấu hạ tầng xã
hội. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đầu tư công ở Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh trong tất cả các khâu của quy trình
đầu tư, từ khâu quản lý quy hoạch, tổ chức quản lý đầu tư và thẩm định, điều
chỉnh dự án, ủy thác đầu tư, giám sát đầu tư. Tuy mỗi quốc gia, với mức độ
phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính
sách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt, song kinh
nghiệm của các quốc gia này đều cho thấy rằng, việc xây dựng khung khổ
pháp luật, chính sách quản lý vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư từ NSNN một
cách đầy đủ, hệ thống, có tầm bao quát rộng là căn cứ để nâng cao hiệu quả
QLNN về vốn đầu tư công. Mặt khác, QLNN chỉ có hiệu quả khi và chỉ khi
xây dựng được quy trình đầu tư công chặt chẽ [114].
Nguyễn Xuân Thành trong nghiên cứu “Đầu tư công Việt Nam, nhà
nghèo lãng phí”, đã chứng minh sự lãng phí vốn đầu tư qua cơ cấu vốn đầu
tư và cách thức thực hiện của Việt Nam khi phân tích các công trình được
cho là hiệu quả nhất của Việt Nam như dự án đường cao tốc Tp.HCM đi
Long Thành - Dầu Giây và cảng container Cái Mép - Thị Vải là những nút

dựng giao thông, các công cụ QLNN và phân chia chức năng trong bộ máy
quản lý, để làm căn cứ đánh giá thực trạng QLNN đối với xây dựng giao
thông ở nước ta.
Vấn đề “Quản lý nhà nước về KCHTKT” cũng đã được đề cập trong
một số nghiên cứu, tuy nhiên, hầu hết đều nghiên cứu vấn đề này như một bộ
phận cấu thành trong quản lý đô thị, chứ không nghiên cứu tách bạch thành
vấn đề riêng như sách “Những vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư và quản lý cơ
sở hạ tầng đô thị” của tác giả Nguyễn Dục Lâm [40], luận án tiến sỹ “Phát
triển thành phố Viêng Chăn theo hướng đô thị bền vững” của Sổm Bắt
Dialyhơ [65]... Trong các nghiên cứu đó, các tác giả chủ yếu đánh giá thực


13
trạng công tác QLNN đối với KCHTKT ở các đô thị lớn và kinh nghiệm quốc
tế, đưa ra một số bài toán để giải quyết vấn đề về QLNN đối với hạ tầng kỹ
thuật đô thị.
Luận án “Khai thác và quản lý vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật đô thị tại Việt Nam” của Phan Lan Tú [71] đã đề cập tổng thể từ lý
thuyết đến thực tiễn việc khai thác và quản lý đầu tư vào KCHTKT đô thị ở
nước ta trong giai đoạn 1991 - 2000. Tác giả đi sâu vào làm rõ khái niệm
KCHT đô thị, vai trò của việc phát triển KCHT đô thị trong việc phát triển
kinh tế, xã hội ở các đô thị ở nước ta. Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm ở
một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước phát triển khác,
tác giả rút ra nhiều bài học quý giá cho Việt Nam.
Nguyễn Quang Vinh nghiên cứu “Đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh
vực kết cấu hạ tầng” [85] đề cập các vấn đề chung về KCHT và QLNN đối
với lĩnh vực này. Thông qua đó, những vấn đề QLNN đối với KCHT nói
chung được nghiên cứu ở đây, cũng có thể là những tham khảo có ích trong
nghiên cứu của luận án sau này.
Các nghiên cứu này góp phần bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận về

đối với dự án đầu tư từ NSNN ở Việt Nam đến năm 2020.
Đề tài nghiên cứu cấp Thành phố của Hà Nội “Nghiên cứu các giải pháp
nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư do thành phố quản lý để
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thủ đô”, phân tích cụ thể
công tác quản lý vốn đầu tư do thành phố Hà Nội quản lý, tìm ra các thành
công và hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, định hướng khai thác và quản
lý có hiệu quả nguồn vốn này. Nghiên cứu này cũng đề cập đến vốn đầu tư
cho phát triển hạ tầng giao thông Hà Nội, tuy nhiên, thời lượng và mức độ
còn khá hạn chế. [73]
Luận án: “Phát triển KCHT giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HHĐ ở
Việt Nam” của Trần Minh Phương đã tổng quan về những lý luận cơ bản và
làm sáng tỏ khái niệm về KCHT, KCHTGT, phát triển KCHTGT; vai trò của
KCHTGT đối với phát triển kinh tế và xã hội; những nhân tố ảnh hưởng tới
phát triển KCHTGT; làm rõ quan niệm về CNH, HĐH và yêu cầu của CNH,
HĐH đối với phát triển KCHTGT; đề xuất các chỉ tiêu mang tính định lượng


15
(quy mô và chất lượng) và mang tính định tính (đồng bộ, kết nối, cạnh tranh
và năng lực quản lý...) phát triển KCHTGT đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. [48]
Tóm lại, các luận án đã đề cập đến quy trình QLNN với vốn đầu tư
phát triển nói chung và vốn đầu tư KCHTGT nói riêng, từ khâu quy hoạch, kế
hoạch đến khâu huy động, phân bổ, thanh quyết toán vốn và kiểm tra giám sát
vốn đầu tư. Trong luận án sẽ kế thừa những cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu
trong các công trình này, song tiếp cận hẹp hơn từ khâu huy động vốn đến
kiểm tra giám sát vốn đầu tư phát triển
1.1.2.3. Quản lý nhà nước đối với các nguồn vốn trong phát triển giao
thông đô thị
- Nghiên cứu về hệ thống các nguồn lực cho đầu tư kết cấu hạ tầng
Các nghiên cứu về việc huy động các nguồn lực cho phát triển

KCHT ở một số nước trên thế giới như Cộng hòa Séc, Nam Phi, Ấn Độ, Tuyni-đi, Cô-lôm-bi-a (theo phương thức Quỹ Phát triển địa phương); kinh
nghiệm của Trung Quốc, Cô lôm bi a, Braxin (Đổi đất lấy hạ tầng); Trái phiếu
địa phương (Ấn Độ)… Báo cáo này góp phần hệ thống hóa lý thuyết về các
nguồn lực vốn cho phát triển KCHT đô thị, cũng như kinh nghiệm huy động
và quản lý nguồn vốn đầu tư, ưu, nhược điểm của các hình thức huy động
vốn; thực trạng huy động vốn và nhu cầu vốn của một số địa phương trong cả
nước. Tuy nhiên, Báo cáo đánh giá này nghiên cứu một khâu trong quy trình
quản lý vốn đầu tư trong phát triển, và KCHT nói chung, chứ chưa nghiên
cứu riêng về KCHTGTĐT.
Trong nghiên cứu “Cơ chế nắm bắt giá trị gia tăng để tài trợ cho cơ sở hạ
tầng giao thông vận tải” trong Báo cáo phát triển Việt Nam của WB [44] thì
đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông ở New Zealand hiện nay được huy động
từ 3 nguồn lực chính: Thu phí của người sử dụng, thu nhập của Chính phủ và
phí đối với những người sở hữu đất đai và phát triển hệ thống giao thông. Quỹ
giao thông quốc gia có thể được xem như người sử dụng phí thu được từ
những người sử dụng tài sản. Cơ quan Giao thông New Zealand (NZTA)
quản lý quỹ này thông qua chương trình giao thông quốc gia (NLTP). Chương


17
trình giao thông quốc gia có một số hoạt động được xác định bởi chính sách
quốc gia dựa trên vốn đầu tư cho giao thông. Những công việc này thường
được xác định rõ ràng và đầu tư cho các hoạt động như cải tạo đường địa
phương. Những lớp hoạt động này bao gồm cả đầu tư mới và nâng cấp kết
cấu hạ tầng, đường cao tốc, kết cấu hạ tầng giao thông công cộng, dịch vụ
giao thông công cộng, khuyến khích hệ thống an toàn đường bộ, đường đi bộ
và xe đạp, kế hoạch giao thông.
Nghiên cứu “Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho cơ sở
hạ tầng đô thị” của George E.Peterson cũng khẳng định, từ trước đến nay, các
kết cấu hạ tầng đô thị thường được đầu tư từ ba nguồn: vốn tiết kiệm từ hoạt

trong phát triển KCHT. Tác giả cho rằng: đầu tư cho kết cấu hạ tầng đòi hỏi
một lượng vốn rất lớn. Theo cách làm trước đây, người ta thường đặt ra câu
hỏi “đầu tiên-tiền đâu?” và chủ yếu trông chờ vào sự phân bổ từ ngân sách
cũng như các loại nguồn vốn có tính chất nhà nước. Thực hiện chủ trương lớn
tái cơ cấu đầu tư công và đột phá phát triển KCHT, cách nghĩ, cách làm phải
có sự đổi mới thật sự. Trong đó, nguồn vốn nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức
quan trọng, song dường như quan trọng hơn là cách sử dụng để “mồi”, để hút
các loại nguồn vốn khác và làm cho đồng vốn nảy nở sinh sôi. Tuy nhiên,
theo tư duy mới phù hợp với yêu cầu khách quan, thì trong đầu tư KCHT, vai
trò của nhà nước là chia sẻ lợi ích và rủi ro với tư nhân đảm bảo nợ công
trong phạm vi an toàn. Cần thay đổi quan điểm Nhà nước đầu tư trực tiếp
bằng các dự án cụ thể, mà chủ yếu là tạo môi trường thu hút đầu tư, kết hợp
vai trò của Nhà nước và thị trường trong phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nhà
nước chỉ tập trung đầu tư giải phóng mặt bằng sạch, đầu tư hỗ trợ thương mại
cho hệ thống KCHT, đầu tư vào các công trình mà các nhà đầu tư ngoài nhà
nước không làm được. Trong đó: Về chính sách, phải đổi mới nhằm tạo cơ
chế thị trường, khung pháp lý chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân, có
chính sách và hình thức thu phí hợp lý hấp dẫn đầu tư tư nhân, cơ chế chuyển
hóa vốn tài nguyên đất đai thành nguồn lực vốn tài chính, tiền tệ cho đầu tư
trong phát triển. Về sử dụng đồng vốn ngân sách và có nguồn gốc ngân sách:
điều chỉnh cơ chế chuyển từ đầu tư trực tiếp sang hỗ trợ và điều tiết cạnh
tranh, tạo điều kiện và môi trường để hình thành và phát triển thị trường đầu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status