Tình hình mắc bệnh cầu trùng ở giống gà thương phẩm (CP707) của công ty cổ phần chăn nuôi CP việt nam tại phường lương sơn thành phố sông công tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

LÊ THỊ VÂN ANH

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CẦU TRÙNG Ở GIỐNG GÀ THƢƠNG PHẨM
(CP707) CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI CP VIỆT NAM TẠI
PHƢỜNG LƢƠNG SƠN - THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2011- 2015

Thái Nguyên - năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

LÊ THỊ VÂN ANH

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH CẦU TRÙNG Ở GIỐNG GÀ THƢƠNG PHẨM
(CP707) CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI CP VIỆT NAM TẠI
PHƢỜNG LƢƠNG SƠN - THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG - TỈNH THÁI
NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ

luôn tận tình giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày 18, tháng11, năm 2015
Sinh viên

Lê Thị Vân Anh


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Trong chương trình đào tạo của nhà trường, giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm
một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian
để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh
viên làm quen với thực tế sản xuất. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được
phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi
ra trường trở thành một người cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu
thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp đỡ của
thầy giáo hướng dẫn T.S. Đỗ Quốc Tuấn.Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Tình
hình mắc bệnh cầu trùng ở giống gà thƣơng phẩm (CP707) của công ty Cổ
phần chăn nuôi CP Việt Nam tại phƣờng Lƣơng Sơn- thành phố Sông Côngtỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng, trị ”.
Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu
khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy,
tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để
bản khóa luận này được hoàn thiện hơn.


iii

CRD

: Bệnh hô hấp mãn tính ở gà

g

: Gram

kg

: Kilôgram

l

: Lít

E

: Eimeria



: Thức ăn

TTTĂ

: Tiêu tốn thức ăn

ĐVT


2.1.3. Giới thiệu thuốc ESB3 ....................................................................................18
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới. .................................................................19
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ....................................................................20
2.3. Một vài nét về gà thí nghiệm..............................................................................23
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......24
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................24
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .........................................................................24
3.3 Nội dung nghiên cứu ...........................................................................................24
3.3.1. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................24
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................................24
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu nghiên cứu .........................................25


vi

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................30
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................................30
4.1.1. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất .....................................30
4.2. Kết quả nghiên cứu ............................................................................................37
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm ..................................................................37
4.2.2. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà thí nghiệm tại địa điểm kiểm
tra ...............................................................................................................................38
4.2.3.Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo loài cầu trùng...................................................38
4.2.4.Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tuổi gà..............................................40
4.2.5. Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng chủ yếu của gà nhiễm cầu trùng .............................43
4.2.6. Bệnh tích đại thể của gà nhiễm bệnh cầu trùng ..............................................44
4.2.7. Hiệu lực điều trị bệnh cầu trùng của thuốc ESB3 ...........................................45
4.2.8. Sinh trưởng của gà ..........................................................................................47
4.2.9. Hệ số chuyển hoá thức ăn ...............................................................................48

Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi thì dịch bệnh cũng thường xuyên
xảy ra. Nó ảnh hưởng rất lớn tới số lượng gà và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt
hại nghiêm trọng tới nền kinh tế và sự phát triển của nghề nuôi gà. Trong thực tế
chăn nuôi cho thấy gà là loại vật nuôi rất mẫn cảm dối với các bệnh truyền nhiễm:
H5N1, Newcastle, Bạch lỵ… bên cạnh các bệnh truyền nhiễm đó thì các bệnh ký
sinh trùng vẫn tồn tại và gây thiệt hại cho người chăn nuôi đặc biệt là biệt là bệnh
cầu trùng.
Bệnh cầu trùng là bệnh ký sinh trùng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn
nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức tập trung công nghiêp. Bệnh có tính lây
lan mạnh, thấy ở mọi lứa tuổi của gà, bệnh có thể xảy ra quanh năm. Gà mắc bệnh


2

cầu trùng có biểu hiện còi cọc, chậm lớn, tỷ lệ chết cao ở gà con nếu không chữa trị
kịp thời và làm giảm số lượng trứng ở gà đẻ. Tuy nhiên, khả năng đề kháng với cầu
trùng ở các giống gà khác nhau là không giống nhau.
Do vậy, để phát triển hơn nữa nghề chăn nuôi gà cũng như đảm bảo hiệu
quả kinh tế thì công tác thú y cần phải được quan tâm.
Để nắm rõ hơn về tình hình bệnh cầu trùng gà đồng thời góp phần hạn chế
tác hại của bệnh giúp cho người chăn nuôi gà có thêm những hiểu biết về bệnh,
cách phòng trị bệnh, được sự hướng dẫn của TS.Đỗ Quốc Tuấn, sự phân công của
Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh cầu trùng ở giống gà thƣơng phẩm
(CP707) của công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam tại phƣờng Lƣơng Sơn thành phố Sông Công - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng, trị’’
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ và cường độ gà nhiễm cầu trùng tại trại gà thương phẩm Trần
Văn Cảnh của công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam tại phường Lương Sơn.
- Theo dõi biểu hiện lâm sàng và mổ khám bệnh tích đại thể khi gà CP707 bị
bệnh cầu trùng tại trại gà thương phẩm Trần Văn Cảnh của Công ty Cổ phần chăn nuôi

- Hệ tiêu hóa: cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng, nó bao gồm:
khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ,
ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan.
Khoang miệng của gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai
trò lấy, thu nhận thức ăn, không có tác dụng nghiền nhỏ. Thức ăn vào miệng được
thấm nước bọt sau được nuốt xuống thực quản, thực quản phình to tạo thành diều.
Trong diều thức ăn được thấm ướt, làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân
hủy dưới tác dụng của men amylase (quá trình đường hóa) tạo ra quá trình vi sinh
vật diều. Thức ăn từ diều qua dạ dày tuyến tương đối nhanh. Dịch vị của dạ dày
tuyến có HCl và men pepsin tham gia phân giải protein thành pepton. Sau đó thức
ăn được nghiền nhỏ và thấm đều dịch vị. Ở dạ dày cơ, dưới tác dụng của HCl và
men pepsin protein tiếp tục được phân hủy, hydrat cacbon cũng được phân giải nhờ
tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn. Thức ăn từ dạ dày cơ được chuyển xuống


4

ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch tụy và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ
bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu.
Ở ruột non quá trình tiêu hóa diễn ra là chủ yếu, glucid được phân giải thành
đường đơn; lipit thành glyxerin và acid béo; protein thành các peptid và các acid
amin để cơ thể hấp thu và lợi dụng được.
Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục được diễn ra nhờ
men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít. Quá trình tiêu hóa chất xơ
của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng hoạt động kém.
Thức ăn qua đường tiêu hóa của gà rất nhanh (gà con 2-4 giờ, gà lớn 4-5 giờ). Do
đặc điểm này mà khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức ăn
chuyển theo đường tiêu hóa xuống ruột non, manh tràng, trực tràng nên quá trình xâm
nhập của cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5-7 ngày).
2.1.2. Những hiểu biết về bệnh cầu trùng

2.1.2.2. Vòng đời của cầu trùng (chu kỳ sinh học)
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp
cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên.
Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng
có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào.
Vòng đời của cầu trùng gà chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp
điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (cầu trùng
Eimeria phát triển thành 4 bào tử). Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (Oocyst
gây nhiễm).
+ Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: gà nuốt noãn nang gây nhiễm vào tới ruột,
noãn nang vỡ ra thuộc phóng 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô
ruột phát triển thành Schiphotozoit, Schipphotozoit phát triển thành Merozoit rồi
thành tế bào đực và tế bào cái. Chúng kết hợp với nhau tạo thành hợp tử, rồi hợp tử
lại sinh ra noãn nang (Oocyst), thời gian hoàn thành vòng đời từ 5-7 ngày.


6

Tóm tắt vòng đời của cầu trùng gà
Noãn nang
nang
Noãn
(Oocyst)
(Oocyst)

Noãn nang
nang gây
Noãn
gây

Tế bào đực
đực

Merozoit
Merozoit

Schizogoit

(Tiểu phối tử)
(tiểu phôi
tử)
Trong vòng đời của cầu trùng cả hai phương thức sinh sản đó là sinh sản vô tính
và sinh sản hữu tính. Vì vậy, có thể phân ra cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn sinh sản vô tính: Cầu trùng ký sinh ở tế bào biểu bì mô đường
tiêu hóa của súc vật, lớn dần lên và sinh sản theo hình thức trực phân.
+ Giai đoạn sinh sản hữu tính: Sau giai đoạn sinh sản trực phân sẽ hình thành
các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực (tiểu phối tử). Hai tế bào đó kết hợp với
nhau tạo thành hợp tử, giai đoạn này cũng thực hiện trong tế bào biểu mô.
Cả hai giai đoạn trên đều tiến hành trong cơ thể ký chủ nên gọi là nội sinh.
+ Giai đoạn sinh sản bào tử: Sau khi hợp tử hình thành thì biến thành noãn
nang (Oocyst), nguyên sinh chất và nhân lại phân chia thành bào tử và hình thành
nên bào tử con. Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài gọi là sinh sản ngoại
sinh. Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào tử con vào đường
tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào tử con lại tiếp tục xâm
nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, hữu tính, vòng đời
lại tiếp tục như trên.
2.1.2.3. Bệnh cầu trùng gà
Bệnh cầu trùng gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc , gia cầm nói chung là
một bệnh phổ biến trên khắp thế giới. Nó được A. Luvenhuch phát hiện từ năm



Bầu dục

14,2-20 x 9,5-24,8

Không

18-48

E. maxima

Bầu dục

21,4-42,5 x 16,5-29,8



21-24

E. mitis

Tròn

11-19 x 10-17

Không

24-48

E. acervulina


Bầu dục

15,8-29,9 x 14,3-29,5

Không

48

16,6-27,7 x 14,8-14,9

Không

24-36

10,7-20 x 10,1-15,3



18-21

Loài

E. parecox

Bầu dục

E. mivatia

Trứng

ruột, Oocyst có kích thước chiều ngang nhỏ nhất trong số 3 loại cầu trùng.
- Eimeria hagani là loài có đọc lực yếu, thường ký sinh ở phần đầu ruột non.
Oocyst có thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với Oocyst các loài cầu trùng ký
sinh ở phần đầu ruột.
- Eimeria brunetti là loài cầu trùng có độc lực cao, thường ký sinh ở ruột già.
Đây là loài có thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định 24 giờ. Thời kỳ phát triển nội sinh
chủ yếu trong ruột già, đôi khi ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt.


9

Ở nước ta, kết quả phân loại cầu trùng tìm được cho thấy tùy từng khu vực
có thể có từ 5-8 loài cầu trùng gây bệnh cho gà.
Theo Hoàng Thạch và cs, (1999) [16] đã tìm thấy sự có mặt của 8 loài cầu
trùng gây bệnh cho gà tại miền Nam nước ta. So với 9 loài cầu trùng tìm thấy của
các tác giả trên thế giớ thì Việt Nam chưa thấy nói tới E. paraecox. Phân loại cầu
trùng tìm thấy trên các đàn gà nuôi tại các tỉnh phía Bắc, các tác giả qua nhiều thời
gian nghiên cứu về phân loại như: Dương Công Thuận, (1995) [19]; Phan Lục,
Bạch Mạnh Điều, (1999) [10] đã cho biết, có 6 loại cầu trùng gà đã được phát hiện
là: E .tenella, E. necatrix, E. maxima, E. mitis, E. bruneti, E. acervulia.
 Sức đề kháng của cầu trùng gà
Bệnh cầu trùng là một loại bệnh phổ biến, do sức đề kháng cao với tác điều
kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, thiếu biện pháp có hiệu lực
chống sự xâm nhập của bệnh, khả năng tái sinh sản lại nhanh.
Noãn nang cầu trùng trong đất có thể duy trì sự sống 4-9 tháng, có thể sống
được 15-18 tháng ở sân, nơi râm mát. Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là điều
kiện khí hậu thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển, nhiệt độ 22-30oC chỉ mất 18-36
giờ cầu trùng phát triển thành những bào tử con. Sức đề kháng của noãn nang đối
với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu. Khi độ ẩm 21-30%, nhiệt độ 18-40oC thì
E. tenella chết sau 1-5 ngày.

Gà công nghiệp rất mẫn cảm với bệnh vì sức đề kháng kém. Trong đàn chỉ có
một vài con nhiễm cầu trùng, nếu không phòng trị kịp thời thì chỉ sau vài ngày tỷ lệ
nhiễm sẽ là rất cao và gây chết hàng loạt.
 Quá trình sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh được hình thành từ những tác động trực tiếp của mầm
bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng trong cơ thể gà và các yếu tố
thứ phát nhờ khả năng tái sinh sản nhanh ở tất cả các loài, đặc biệt các loài có độc
lực cao, gây tổn thương niêm mạc ruột. Từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp
dưới niêm mạc, các mạch quản, thần khinh bị hủy hoại. Đã hình thành các điều kiện
thuận lợi cho các vi sinh vật khác nhau phát triển, xâm nhập vào cơ thể làm cho
bệnh càng nặng và có thể gây bội nhiễm với các bệnh khác.
Do niêm mạc bị tổn thương nên nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá
trình tiêu hóa làm cho con vật bị thiếu dinh dưỡng gây rối loạn tiêu hóa, dẫn tới


11

ngưng đọng các độc tố, phù nề các cơ quan và mô bào. Sự phá hủy các tế bào ruột
làm cho viêm ruột gây rối loạn chức năng hấp thu và vận động của ruột gây ỉa chảy,
quá trình viêm tăng sinh làm dịch rỉ tiết ra nhiều gây khó khăn hấp thu chất dinh
dưỡng làm mất sự cân bằng nước tiểu trong cơ thể gà.
Các thể bào tử cầu trùng nhiễm vào các tế bào biểu bì ở những khe hốc, ở đó
từ 24-48 giờ, sự phát triển các thể phân lập chứa tới 900 thể phân đoạn. Các thể
phân đoạn của đời 1 nhiễm vào tế bào biểu bì màng niêm mạc manh tràng, sau đó di
cư vào sâu lớp biểu bì, ở đó 72 giờ, sau khi chúng nhiễm vào sẽ phát triển các thể
phân lập đời 2. Các thể phân lập đời 2 này qua 24 giờ chúng phân giải, phá hủy
những lớp biểu bì bên dưới, phá hủy lưới mao mạch gây ra xuất huyết mạnh. Sau đó
thể phân lập đời 2 lại chui vào tế bào biểu bì màng niêm mạc và bắt đầu hình thành
các tế bào giao tử cái, các tế bào giao tử đực. Thể phân lập có tới 3 đời tiến triển các
tế bào biểu bì.

Miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với loài cầu trùng, khi các giai
đoạn phát triển của chúng tiến triển và xâm nhập sâu trong mô bào và miễn dịch kém
bền vững khi các giai đoạn phát triển của chúng chỉ phát triển trong lớp biểu bì niêm
mạc ruột. Với những loài gây bệnh yếu: E. mitis, E. acervulina ký sinh trong tế bào
biểu bì ruột non thì tạo ra miễn dịch ngắn, không bền vững đối với lần cảm nhiễm sau.
Ngược lại, các thời kỳ nội sinh của E. tenella phát triển chỉ không ở trong biểu bì mà
còn xâm nhập vào trong lớp dưới biểu bì của niêm mạc và đôi khi còn thấy chúng cả
dưới lớp sâu màng niêm mạc. Với loài cầu trùng đó thì chỉ cần một liều nhỏ nang
trứng, trong thời gian ngắn cũng đã đủ gây ra miễn dịch vững chắc.
Thời gian miễn dịch trong bệnh cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, đặc biệt là phương pháp miễn dịch. Nếu tiêm cho gà con một liều lớn
nang trứng cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng với bệnh và tới
ngày thứ 42 thì sức đề kháng đó giảm đi một ít. Sau khi tiêm cho gà con 3 liều nang
trứng, mỗi liều cách nhau một tuần thì chúng có đủ sức đề kháng và có thể tự bảo vệ
khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết. Hơn nữa, gà còn được bảo vệ không bị
tái nhiễm.
Trong các điều kiện sản xuất, ở gà lớn không cảm thụ với bệnh cầu trùng do
chúng đã bị nhiễm nhiều lần ở những ngày tuổi còn non, về sau sức đề kháng phát
sinh được củng cố bằng sự tái nhiễm cầu trùng thường xuyên.


13

 Triệu chứng
Bệnh cầu trùng ở gà biểu hiện bằng triệu chứng đặc trưng nhất là ỉa chảy, có
máu, có dịch nhầy, ủ rũ, mệt mỏi, lông xơ xác, thần kinh không vững, gầy, yếu sức,
gà thường tụ lại thành nhóm. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng phụ thuộc vào
mức độ nhiễm từ môi trường và loài Eimeria nhiễm, trạng thái sức khỏe cơ thể gà.
Thời kỳ mang bệnh 4-5 ngày, triệu chứng phát ra thường trùng với sự phát
triển các thể phân lập đời 2 trong cơ thể gà bị nhiễm. Bệnh tiến triển có thể cấp tính,

điểm xuất huyết.
- E. tenella: Bệnh tích chủ yếu ở manh tràng. Manh tràng viêm xuất huyết
phình to, chứa đầy chất dịch có máu, trong đó có những cục máu nhỏ, xốp, vách
manh tràng mỏng đi. Màng niêm mạc bị hủy hoại, phủ đầy những vết loét ở ngoài
có thể nhìn thấy rõ. Ở giai đoạn cuối của bệnh, niêm mạc ruột hơi trắng, dày và có
các cục máu. Ở gà con có hiện tượng ỉa chảy lẫn máu.
- E. necatrix: Trên màng niêm mạc phần giữa ruột non thấy những cục nhỏ màu
trắng - xám nằm sâu trong vách ruột nên có thể nhìn thấy rõ từ bên ngoài. Màng niêm
mạc viêm xuất huyết và đôi khi bị hoại tử. Ruột non sưng to, thành ruột dày lên, chất
chứa ở ruột màu hồng nhạt hoặc màu xám thỉnh thoảng có lẫn cục máu.
- E. brunetti: Gây bệnh tích ở phần sau của đường tiêu hóa cổ manh tràng,
kết tràng và trực tràng. Gây viêm hóa sợi trong ruột (viêm ruột hóa sợi) cùng dịch
xuất tiết nhày lẫn máu, phân màu trắng có lẫn các vệt máu.
- E. maxima: gây viêm phần đầu ruột non, màng niêm mạc bị hủy hoại xuất
huyết. Viêm ruột xuất huyết với thành ruột dày và xuất huyết lấm chấm, kiểm tra
bằng kính hiển vi phát hiện được các trứng có kích thước lớn. Ruột non chứa đầy
chất nhày màu nâu hoặc hồng nhạt.
- E. acervulina: Gây giảm trọng lượng gà, phân trắng. Tá tràng dày, sưng phù,
sung huyết đỏ. Trên bề mặt ruột tá tràng hay phần đầu ruột non. Những tổn thương lớn
màu trắng - xám. Trên tiêu bản tổ chức, vị trí cầu trùng ký sinh là ở biểu mô.
- E. hagani: Bệnh tích thấy ở tá tràng và phần trước ruột non. Trên thành ruột
có những điểm xuất huyết to bằng đầu kim hoặc có những mảng xuất huyết tròn
màu đỏ. Niêm mạc bị viêm cata nặng và xuất huyết.
N.A.Kolapxki, P.I.Paskin (1980)[7] đã gây nhiễm cầu trùng cho gà con bằng
các chủng E. tenella, E. necatrix, E. maxima, E. acervulina, khi mổ khám thấy:


15

Niêm mạc miệng, khí quản trắng bệnh phủ trắng nhầy, phổi màu trắng có bọt khí;


16

ta đã làm rất tốt công tác vệ sinh phòng bệnh (vệ sinh chuồng trại, thức ăn nước
uống, dụng cụ chăn nuôi…) nên đã hạn chế được việc dùng thuốc và vaccine trong
chăn nuôi gà.
Ở nước ta chăn nuôi gia cầm đã có nhiều tiến bộ: Việc thực hiện quy trình
chăn nuôi nghiêm ngặt hơn, riêng vấn đề vệ sinh thú y cũng tốt hơn rất nhiều so với
cách đây vài thập kỷ. Tuy nhiên với thời tiết khí hậu ở nước ta, với tình trạng kháng
thuốc ký sinh trùng nói chung và cầu trùng nói riêng thì khả năng biến đổi của
chúng là rất lớn. Mặt khác vấn đề vệ sinh thú y chưa đồng bộ ở tất cả các cơ sở tập
thể và tư nhân chăn nuôi gia cầm. Đó chính là nguyên nhân làm cho bệnh cầu trùng
gà vẫn là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho chăn nuôi gà, đặc biệt là
gà công nghiệp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [8].
Do vậy, để phòng bệnh cầu trùng trong chăn nuôi gà công nghiệp cần
nghiêm túc thực hiện các biện pháp sau:
- Trước khi đưa gà vào nuôi nhất thiết phải vệ sinh chuồng trại, dụng cụ,
thiết bị chăn nuôi sạch sẽ bằng cách quét dọn, cọ rửa, tiêu độc khử trùng bằng các
loại hóa chất như formol 1,5%, Han-Iodine 10%, Bencocid…
- Sát trùng chuồng trại định kỳ, phân và chất độn cần phải thu dọn định kỳ, ủ
đúng nơi quy định sau mỗi lứa gà.
- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột, động vật hoang dã…
ở xung quanh khu vực chuồng nuôi.
- Chuồng trại vào các tháng mưa phùn và lạnh phải khô ráo, thoáng nhưng lại
ấm cho gà con.
- Nuôi gia cầm đúng quy định và thức ăn đủ dinh dưỡng có ý nghĩa to lớn
trong việc phòng bệnh. Do vậy, cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, đảm bảo các
yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi và quy trình phòng bệnh thú y đối với mỗi bệnh.
- Không nuôi chung gia cầm với nhiều lứa tuổi khác nhau.
- Dùng thuốc đặc hiệu để phòng bệnh cầu trùng.

- ESB3: Sản phẩm của hãng Ciba (Thuỵ Sỹ), thành phần chính là Sulfaclorin,
thuốc dạng bột màu trắng, dễ hoà tan, sử dụng an toàn và hiệu quả cao. Liều phòng
0,5g/lít nước uống. Liều trị 1-2 g/ lít nước uống, dùng liên tục 3-5 ngày.
- Caccibio: Đây là một sản phẩm của Pháp. Thuốc ở dạng dung dịch. Thành
phần gồm có Sulfaquinoxalin 4,5%, Pyrimethamin 1,35%. Thuốc có tác dụng với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status