KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
Tìm hiểu và thực hiện qui trình ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng từ giai
đoạn Nauplius lên giai đoạn Postlarvae có sử dụng chế phẩm CP-Bio plus ở
công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam tại Bình Định
Sinh viên thực hiện:Hoàng Thị Aí Mỷ
Lớp:Nuôi Trồng Thủy Sản k45
Giáo viên hướng dẫn:Ths.Nguyễn Phi Nam
Huế tháng 1 năm 2015
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1:Các lĩnh vực hoạt động
Hình 2.2.Sơ đồ hệ thống trại sản xuất giống Công ty cổ phần chăn nuôi CP
Việt Nam – Chi nhánh Bình Định III.
Hình 2.3: Các giai đoạn phát triển của tôm
Hình 4.1: Hệ thống nhà tảo Mass
Hình 4.2: Tảo đạt tiêu chuẩn cho tôm ăn
Hình 4.3: Bể ấp và khu vực tẩy artemia
Hình 4.4:Xịt phun acidified chlorine
Hình 4.5:Hệ thống máy lọc nước hiện đại UF và H.O.D
Hình 4.6: Nhận Nauplius và chuẩn bị thả vào bể ương
Hình 4.7: Các loại thức ăn
Hình 4.8: Diễn biến độ mặn trong bể ương
Hình 4.9: Biến động pH theo thời gian ương tại bể 5
Hình 4.10: Biến động pH theo thời gian ương tại bể 6
Hình 4.11: Biến động pH theo thời gian ương tại bể 7
Hình 4.12: Biến động pH theo thời gian ương tại bể 8
Hình 4.13: Lấy mẫu vi khuẩn và mẫu PCR
ứng được nguồn cung cấp tôm giống cho thị trường, hàng loạt các trại sản xuất
giống đã ra đời, nhưng để đạt được lợi nhuận tối đa họ đã sử dụng hàng loạt các
loại hoá chất, kháng sinh nguy hiểm để phòng trị bệnh nhằm nâng cao tỷ lệ sống
của ấu trùng… và dĩ nhiên hậu quả là tôm giống sẽ bị còi cọc, chậm lớn và tồn dư
lượng thuốc kháng sinh.Trong nuôi tôm thương phẩm sẽ phải sử dụng kháng sinh
liều cao, dẫn đến tồn dư kháng sinh trong thịt tôm, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ
người tiêu dùng. Trong bối cảnh nước ta đang vào sâu WTO thì điều này sẽ là trở
ngại lớn cho mặt hàng tôm xuất khẩu vào các thị trường đầy tiềm năng nhưng khó
tính như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ…
Đứng trước thực trạng đó, việc sản xuất ra nguồn tôm giống đủ về số lượng,
đảm bảo chất luợng sạch bệnh và hạn chế tối đa kháng sinh, hoá chất đang là đòi
hỏi bức thiết của nghề nuôi tôm công nghiệp đối với các nhà nghiên cứu và sản
xuất tôm giống.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sản xuất, kết hợp với nguyện vọng của bản
thân,được sự đồng ý của Trường Đại Học Nông Lâm Huế, khoa Thủy Sản và giáo
viên hướng dẫn, tôi đề nghị thực hiện đề tài“Tìm hiểu và thực hiện qui trình
ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng từ giai đoạn Nauplius lên giai đoạn
Postlarvae có sử dụng chế phẩm CP-Bio plus ở công ty cổ phần chăn nuôi CP
Việt Nam tại Bình Định.”
Mục đích của đề tài:
-
-
Tìm hiểu qui trình ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng với các biện
pháp kỹ thuật tối ưu và có hiệu quả ở công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt
Nam.
Đánh giá ảnh hưởng của việc ứng dụng qui trình sử dụng chế phẩm CPBio plus trong ương nuôi ấu trùng tôm thẻ chân trắng.
hướng và cường độ khá nhiều.
Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0 oC, nhiệt độ cực đại
39,9oC và cực tiểu 15,8oC. Tổng nhiệt độ năm trong tỉnh (tại Quy Nhơn) đạt
9.636oC vượt tiêu chuẩn 9.500oC của khí hậu xích đạo.
- Độ ẩm tuyệt đối tại vùng duyên hải trung bình là 27,9 mb, cực đại 32,7 mb và
cực tiểu 20,0 mb. Độ ẩm tương đối trung bình là 79 % và cực tiểu là 31 %.
- Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường
có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng
đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất hiện bão lớn
nhất từ tháng 9 - 11.
Nhìn chung, vị trí địa lý và hoàn cảnh khí hậu trên đây của tỉnh đã chi phối
đến các đặc trưng điều kiện tự nhiên khác cũng như chi phối mạnh mẽ đến các hoạt
động phát triển kinh tế của tỉnh. Để khai thác các mặt thuận lợi và phòng chống các
mặt bất lợi cần thiết phải có sự nghiên cứu hệ thống và hiểu biết đầy đủ các quy
luật khí hậu để có các giải pháp phù hợp.
1.3.Tình hình kinh tế, xã hội
* Con người
Phù Mỹ vốn là đất hiếu học của Bình Định, từng sản sinh ra nhiều nhà khoa
bảng trẻ tuổi học rộng tài cao, đức độ và khí phách. Những năm đất nước bị chia
cắt, ở cả hai miền Nam - Bắc, Phù Mỹ đều có nhiều học sinh sinh viên giỏi, điều
đặc biệt là họ đều yêu nước, yêu quê hương và dân tộc Việt Nam.
Kho tàng văn hóa dân gian của Phù Mỹ khá phong phú, số lượng ca dao, tục
ngữ, hò vè… Văn hóa dân gian ở Phù Mỹ nồng đượm tình người, giàu
hương sắc địa phương. Dân phù Mỹ rất ưa chuộng dân ca bài chòi và hát tuồng.
Thể hiện tình yêu thương thắm thiết giữa con người với con người.
* Kinh tế
Nói tới Phù Mỹ bây giờ là nói đến chuyện phát triển nghề nuôi tôm trên cát.
Quả thật, về Mỹ An và Mỹ Thắng vào những ngày này, trong câu chuyện của
thành Công ty C.P. Vietnam Livestock Corporation và sau đó vào năm 2011 đổi
tên thành C.P. Vietnam Corporation (Công ty Cổ Phần Chăn Nuôi C.P. Việt Nam).
C.P. Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực Nông – Công nghiệp, ngành thực
phẩm khép kín: chăn nuôi, chế biến gia súc, gia cầm và thủy sản. Từ đó cho đến
nay, C.P. Việt Nam không ngừng mở rộng sản xuất và hoạt động trong 3 lĩnh vực
chính như: thức ăn chăn nuôi (feed), trang trại (farm) và thực phẩm (Food), được
thể hiện theo sơ đồ sau đây:
Hình 2.1:Các lĩnh vực hoạt động
Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi: hiện nay, C.P Việt Nam có 8 nhà máy
sản xuất thức ăn chăn nuôi kèm với các hoạt động tiếp theo, trong đó được chia
thành 4 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm, 3 nhà máy sản xuất
thức ăn chăn nuôi thủy sản và 1 nhà máy sấy ngô. Thức ăn chăn nuôi do Công ty
sản xuất được cung cấp cho mọi miền đất nước. Nhà máy sản xuất thức ăn chăn
nuôi gia súc gia cầm C.P. tỉnh Bình Dương là nhà máy mới nhất, được xây dựng và
bắt đầu hoạt động từ năm 2009 và được đánh giá là nhà máy sản xuất thức ăn chăn
nuôi hiện đại nhất Châu Á.
Ngành nuôi trồng: hiện nay, C.P. Việt Nam tiến hành chăn nuôi theo hệ
thống chăn nuôi hiện đại, thân thiện với môi trường: bắt đầu từ con giống có chất
lượng cho đến hệ thống chăn nuôi hiện đại được trang bị những dụng cụ, thiết bị
chăn nuôi tiên tiến, chăn nuôi các loại lợn, gà thịt, gà đẻ, tôm và cá với diện tích
trang trại phù hợp nhằm phục vụ đa dạng cho khách hàng trên phạm vi cả nước.
Sản xuất tôm thịt và cá thịt ở các trại là nhằm cung cấp nguyên liệu cho nhà máy
sản xuất thủy sản đông lạnh phục vụ xuất khẩu của Công ty.
Ngành chế biến thực phẩm, được chia làm 2 hợp phần chính như sau:
1) Sản xuất tôm và cá xuất khẩu, trong đó nguyên liệu tôm và cá được nhập
từ các trại của Công ty. Hiện nay, Công ty có 2 nhà máy chế biến thủy sản ở Đồng
nhân dân và công ty) làm cho hoạt động kinh doanh của C.P. Việt Nam tại Việt
Nam không ngừng lớn mạnh và bền vững trong sự ủng hộ của các nhân viên người
Việt Nam.
Điều vô cùng đặc biệt là Công ty có cơ hội đóng góp cho sự phát triển của
ngành nông nghiệp Việt Nam bằng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường,
điều đó phát sinh sự bền vững lâu dài cho sự nghiệp đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh Bình Đinh III, nằm ở
thôn Xuân Thạnh, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Trại giống được xây
dựng với diện tích khoảng 6ha. Đây là một trong những trại sản xuất tôm giống lớn
nhất Việt Nam, sản xuất giống dựa trên công nghệ tiên tiến của Thái Lan. Hệ thống
trại bao gồm:
Hình 2.2.Sơ đồ hệ thống trại sản xuất giống Công ty cổ phần chăn nuôi CP
Việt Nam – Chi nhánh Bình Định III
Hệ thống văn phòng làm việc của ban giám đốc
-
Khu nhà nghỉ của giám đốc và công nhân viên.
-
Bộ phận thí nghiệm gồm: 1 phòng Vi khuẩn, 2 phòng PCR, 1 phòng kiểm tra chất
lượng nước, 1 phòng kiểm định chất lượng (QC), 1 phòng nuôi cấy tảo thí nghiệm
( Lab), 1 nhà ấp Artemia, 3 nhà nuôi tảo ống(tảo Photo), 8 nhà nuôi tảo sinh khối
( Mass).
-
Cơ thể chia làm hai phần: Chủy đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng
(Abdomen)
- Phần đầu ngực có 14 đôi phần phụ bao gồm:
+ Chủy tôm gồm có 2 răng cưa ở bụng và 8-9 răng cưa ở lưng.
+ 1 đôi mắt kép có cuống mắt.
+ 2 đôi râu: Anten 1(A1) và Anten 2(A2). A1 ngắn, đốt 1 lớn và có hốc mắt, hai
nhánh ngắn. A2 có nhánh ngoài biến thành vẩy râu (Antennal scale), nhánh trong
kéo dài. Hai đôi râu này giữ chức năng khứu giác và giữ thăng bằng.
+ 3 đôi hàm: đôi hàm lớn, đôi hàm nhỏ 1 và đôi hàm nhỏ 2.
+ 3 đôi chân hàm (Maxilliped) có chức năng giữ mồi, ăn mồi và hỗ trợ hoạt động
bơi lội của tôm.
+ 5 đôi chân bò hay chân ngực (walking legs), giúp cho tôm bò trên mặt đáy.
Ở tôm cái, giữa gốc chân ngực 4 và 5 có thelycum ( cơ quan sinh dục ngoài, nơi
nhận và giữ túi tinh từ con đực chuyển sang).
- Phần bụng có 7 đốt: 5 đốt đầu, mỗi đốt mang một đôi chân bơi hay còn gọi
là chân bụng ( Pleopds hay Swimming legs). Mỗi chân bụng có một đốt chung bên
trong. Đốt ngoài chia làm hai nhánh: Nhánh trong và nhánh ngoài, đốt bụng thứ 7
biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phân thành nhánh tạo thành đuôi giúp cho
tôm chuyển động lên xuống và búng nhảy. Ở tôm đực, hai nhánh trong của đôi
chân bụng 2 biến thành đôi phụ bộ đực- là bộ phận sinh dục bên ngoìa của tôm.
Màu sắc của tôm: tôm có màu trắng đục.
2.1.3.Phân bố
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích
đạo Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở ven
biển Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru,
nhiều nhất ở biển gần Ecuador . Hiện nay tôm chân trắng đã có mặt hầu hết ở các
khu vực ôn và nhiệt đới bao gồm Đài Loan, Trung Quốc và các nước ven biển
thuộc khu vực Đông Nam Á.Tôm Thẻ Chân Trắng có thể sống ở độ sâu 72m, đáy
28-29°C.
+ Giai đoạn Mysis (M):
Giai đoạn này gồm có 3 giai đoạn phụ ( M1 - M3), ấu trùng M sống trôi nổi
có đặc tính treo ngược mình trong nước, đầu chúc xuống dưới. Ấu trùng M bơi lội
kiểu búng ngược, vận động chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bò. Ấu trùng M bắt mồi
chủ động, thức ăn chủ yếu là động vật nổi. Tuy nhiên, chúng vẫn có thể ăn tảo
Silic, đặc biệt là ở giai đoạn phụ M1 và M2. Thời gian chuyển giai đoạn của M
cũng gần giống với giai đoạn Z.
+ Giai đoạn Postlarvae (PL):
Hậu ấu trùng PL đã có hình dạng của loài nhưng sắc tố chưa hoàn thiện,
nhánh trong anten 2 chưa kéo dài. PL bơi thẳng có định hướng về phía trước, bơi
lội chủ yếu nhờ vào 5 đôi chân bụng, PL hoạt động nhanh nhẹn và bắt mồi chủ
động, thức ăn chủ yếu ở giai đoạn này là động vật nổi. Tuổi của PL được tính theo
ngày, đầu giai đoạn PL sống trôi nổi, từ PL 3 hoặc PL5 trở đi chúng bắt đầu chuyển
sang sống đáy, PL chuyển sang sống đáy hoàn toàn ở PL9 – PL10.
Trong phân chia các giai đoạn ở vòng đời Tôm Thẻ Chân Trắng từ khoảng PL 5 trở
đi được gọi là giai đoạn ấu niên.
-Thời kỳ ấu niên
Ở thời kỳ này, hệ thống mang của tôm đã hoàn chỉnh. Tôm chuyển sang
sống đáy, bắt đầu bò bắng chân và bơi bằng chân bơi. Anten 2 và sắc tố thân ngày
càng phát triển. Thời kỳ này tương đương với cuối giai đoạn tôm bột và đầu tôm
giống trong sản xuất tức là PL5- PL20.
-Thời kỳ thiếu niên
Tôm bắt đầu ổn định tỷ lệ chân, thelycum và petasma được hình thành
nhưng chưa hoàn chỉnh, hai nhánh của petasma còn tách biệt. Giai đoạn này tương
đương với giai đoạn ương giống và nuôi thịt trong sản xuất. Cuối thời kỳ ấu niên
bắt đầu xuất hiện sự sinh trưởng không đồng đều giữa 2 giới tính- con cái lớn
nhanh hơn con đực.
trưởng giữa tôm đực và tôm cái. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thời kỳ thiếu niên, con
cái lớn nhanh hơn con đực.
-Sự tăng trưởng của ấu trùng
Sự tăng truởng về chiều dài của ấu trùng tôm như sau: Giai đoạn Nauplius
tăng trên dưới 10%/1 lần lột xác. Lần lột xác từ N 6 chuyển sang Z1 chiều dài tăng
86%, gần gấp 2 lần, và đây cũng là lần tăng chiều dài lớn nhất trong vòng đời của
Tôm Thẻ. Từ Z1 chuyển sang Z2 tăng 25%, Z2 chuyển sang Z3 tăng 13,7% ( giảm
½ so với từ Z1 sang Z2), Z3 chuyển sang M1 tăng 13,2%. M1 chuyển sang M2 và M2
chuyển sang M3 tăng >20%. M3 chuyển sang P1 tăng 12,6%. Trong giai đoạn
Postlarvae, sự tăng trưởng về chiều dài không đều, đa số ≤ 10%/ lần lộ xác.
Tỉ lệ chiều rộng và chiều dài cơ thể (R/D) lớn nhất ở giai đoạn Nauplius
(50%). Riêng N1, R/D = 53,1%. Tỉ lệ này giảm trong quá trình sinh trưởng, sau
mỗi lần lột xác cơ thể thon hơn. Tỉ lệ R/D thấp nhất từ P 1 đến P4 (R/D = 1/10), sau
đó tăng lên từ P5 đến P13 và giảm từ P13 đến P17. Từ P17 đến P21, tỉ lệ R/D ổn định,
đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ ấu niên.
Tỉ lệ chiều dài giáp đầu ngực và chiều dài toàn thân (CL/ TL): từ P 1 đến P14:
27-28%, từ P15 đến P21: 32%, từ P21 trở đi sắp xỉ 30% và hầu như không thay đổi
nữa, đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ thiếu niên.
Từ ấu niên đến trưởng thành
Tôm ấu niên tăng trưởng CL 1-2mm/tuần, tương đương với TL 0,8mm/ngày.
Trong tuần đầu tôm tăng khối lượng thân gấp 6 lần. Khi vào trong cửa sông 6-7
tuần, tốc độ tăng trưởng giảm, chỉ còn gấp 2 lần/ 2 tuần. Khi đạt CL ≈ 10mm, tốc
độ tăng trưởng bắt đầu có sự khác biệt giữa hai giới.
Trong thực tế sản xuất, P 10 có chiều dài thân từ 9- 11mm sau 7- 10 ngày
ương đạt cỡ 1-2 cm (TL), sau 15- 20 ngày đạt cỡ 2- 3cm, sau 20- 25 ngày đạt cỡ 35 cm và sau 25- 30 ngày đạt cỡ 4- 6 cm. Nếu thả nuôi trong ao từ P 15 sau 1 tháng
nuôi đạt khoảng 1-2 g/con. Tôm nuôi 4 tháng đạt kích cỡ thương phẩm, đa sỗ loại
3 (30- 40 con/kg), một số loại 2 (20- 30 con/kg). Ở những ao nuôi điều kiện tốt (độ
mặn 10- 25‰) tôm tăng trưởng nhanh có thể thu hoạch đạt loại 3, loại 2 sau 2,5 – 3
Ở giai đoạn này năng lượng đựoc điều động từ gan, tụy, một phần vỏ cũ cũng được
hấp thụ lại, hàm lượng hormone lột xác trong máu tăng cao và sau đó giảm đột
ngột ngay trước khi sự lột xác sắp xảy ra.
+ Giai đoạn lột xác
Chỉ kéo dài vài phút, bắt đầu từ khi lớp vỏ cũ tách ra ở mặt lưng nơi tiếp
giáp giữa vỏ đầu ngực và vỏ phần bụng và kết thúc khi tôm thoát hẳn lớp vỏ cũ.
Cũng có tác giả chi sự lột xác làm 5 giai đoạn: A- Ngay sau lột xác, B- Sau lột xác,
C- Giữa lột xác, D- Trước lột xác, E- Lột xác. Theo sự phân chia này thì giai đoạn
D (trước lột xác) là dài nhất. Mỗi giai đoạn được phân chia thành nhiều giai đoạn
phụ, căn cứ trên các biến đổi về hình thái rất chi tiết và phức tạp.
-Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lột xác
+ Ánh sáng: cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng đều ảnh hưởng đến
quá trình lột xác. Khi han chế thời gian chiếu sáng sẽ ức chế thời gian lột xác của
tôm, ngược lại nếu kéo dài thời gian chiếu sáng hơn bình thường sẽ rút ngắn thời
gian lột xác.
+ Nhiệt độ: nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình lột xác.
Nhiệt độ thấp hơn 14- 18ºC, sự lột xác bị ức chế. Nhiệt độ cao trong khoảng thích
hợp, tôm tăng cường hoạt động trao đổi chất, tích lũy dinh dưỡng, chuẩn bị đầy đủ
cho quá trình lột xác xảy ra.
+ Độ mặn: ở độ mặn thấp trong khoảng thích hợp tôm sẽ tăng cường lột xác,
sinh trưởng nhanh hơn.
+ Các yếu tố, điều kiện môi trường khác: pH, hàm lượng NO 3-, NO2-, NH4-,
độ cứng đều có sự ảnh hưởng đến sự lột xác. Việc bón vôi thường xuyên ở các ao
nuôi ít thay nước sẽ làm tăng độ cứng của nước làm cản trở sự lột xác xủa tôm.
+ Chu kỳ lột xác có liên quan đến chu kỳ thủy triều, thông thường đầu chu
kỳ thủy triều tôm mới lột xác rộ.
2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
(Nguyễn Trọng Nho, Tạ Khắc Thường, Lục Minh Diệp, 2006)
giun nhiều tơ, cá nhỏ.
Trong sản xuất giống nhân tạo ấu trùng Tôm Thẻ còn được cho ăn các loại
thức ăn nhân tạo tự chế biến như lòng đỏ trứng, sửa đậu nành, thịt tôm, thịt hầu và
các loại thức ăn nhân tạo sản xuất công nghiệp thường gọi là thức ăn tổng hợp.
2.4.Đặc điểm sinh sản
2.4.1.Cơ quan sinh sản
-Cơ quan sinh dục đực
Cơ quan sinh dục đực bên trong của Tôm Thẻ gồm một đôi tinh hoàn và đôi
ống dẫn tinh. Đôi tinh hoàn trong suốt không sắc tố, nằm ngoài mặt lưng từ vùng
tim đến gan tụy. Đôi túi tinh đổ ra hai lỗ sinh dục ở gốc đôi chân bò 5. Túi tinh có
chứa tinh trùng sẽ có màu xám nhạt hoặc màu trắng sữa. Khi tôm đự là căn cứ để
tuyển chọn tôm đực khi nuôi tôm bố mẹ.
Cơ quan sinh dục đực bên ngoài bao gồm Petasma và đôi phụ bộ đựuc.
Petasma do 2 nhánh trong của đôi chân bụng 1 biến thành, đôi phụ bộ đực do 2
nhánh trong của đôi chân bò 2 biến thành.
-Cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái bên trong bao gồm một đôi buồng trứng và ống dẫn
trứng, đôi ống dẫn trứng đỗ vào 2 lỗ đẻ ở đốt ngoài đôi chân ngực 3.
Cơ quan sinh dục cái bên ngoài là Thelycum, có nhiệm vụ nhận và giữ túi
tinh từ tôm đực chuyển sang. Thelycum nằm giữa đôi chân ngực 4 và 5.
-Sự phát triển buồng trứng ở Tôm Thẻ
Sự phát triển buồng trứng ở Tôm Thẻ được chia làm 5 giai đoạn. Các đặc
điểm chính của từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1 ( chưa phát triển): buồng trứng mềm, nhỏ, trong, không nhìn
thấy qua vỏ kitin, giai đoạn này chỉ có ở tôm con.
+ Giai đoạn 2 ( phát triển): buồng trứng lớn hơn kích thước ruột, có màu
trắng đục, hơi vàng, rải rác có các tế bào sắc tố đen (tế bào melamin) khắp bề mặt.
+ Giai đoạn 3 ( gần chín): kích thước buồng trứng tăng nhanh, màu vàng
xanh đến xanh nhạt, có thể nhìn thấy rõ qua vỏ kitin.
3.1.Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng
3.1.1. Tình hình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam
Tôm thẻ chân trắng được xem là giải pháp lựa chon đa dạng hoá đối tượng
trong nuôi trồng thuỷ sản ở các quốc gia Châu Á. Nhưng trước các thông tin về các
đợt dịch bệnh, gây giảm sút sản lượng nghiêm trọng ở một số quốc gia Châu Mỹ
đã gây tâm lý e ngại cho các nhà quản lý ở các quốc gia có ý định nhập nội, thử
nghiệm và phát triển đối tượng tôm thẻ chân trắng. tuy nhiên những thành công
của các công trình nghiên cứu tôm sạch bệnh và cải thiện chất lượng di truyền của
các nước Châu Mỹ đã mở ra hy vọng cho việc duy trì và phát triển cho nghề nuôi
tôm thẻ chân trắng ở các vùng sinh thái trên thế giới. Ở các quốc gia châu Á, nhiều
nước di nhập và nuôi tôm thẻ chân trắng như Đài Loan, Trung Quốc, Philippin,
Thái Lan, Malaixia, Ấn Độ.
Ở Việt Nam, sự phát triển tôm thẻ chân trắng nhanh chóng gây áp lực lên
môi trường và nguồn cung ứng con giống. Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản,
năm 2013 cả nước có 583 trại sản xuất giống tôm thẻ chân trắng với tổng số giống
sản xuất được ước tính là 47,2 tỷ con, trong đó số lượng giống đảm bảo chất lượng
chiếm khoảng 30%. Nhu cầu giống để thả nuôi trên diện tích của năm 2014 khoảng
70-90 tỷ con. Tính đến nay, nước ta vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tôm bố mẹ
nhập khẩu Tôm bố mẹ nhập khẩu vào Việt Nam đều được chứng nhận đảm bảo
tiêu chuẩn theo quy định (sạch bệnh, có xuất xứ nguồn gốc,v v). Tuy nhiên, giá
nhập khẩu cao, có sự chênh lệch lớn giữa các cơ sở cung cấp, dao động từ 26-65
USD/con. Do nguồn bố mẹ chưa chủ động được dẫn đến giá thành tôm giống cao.
Ngoài ra, việc nhập khẩu tôm bố mẹ không kiểm soát được chất lượng cùng với sự
phát triển trại sản xuất giống không theo quy hoạch và không đạt chuẩn nên con
giống kém chất lượng. Con giống chưa qua kiểm dịch vẫn lưu thông khá phổ biến
trên thị trường. Hậu quả cuối cùng là người nông dân nuôi tôm gánh chịu do tôm
chậm lớn, dịch bệnh.Vì thế, để phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng tại Việt Nam cần
phải có nghiên cứư xây dụng quy trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương
thẻ chân trắng dể bị nhiễm Vibrio, vi khuẩn dạng sợi và các bệnh do nguyên sinh
động vật. Để phòng trị bệnh này ngoài việc thay nước, điều chỉnh các chế độ cho
ăn, dùng các loại hoá chất, cần phải tính đến một nguồn nước sạch trước khi đưa
vào nuôi.
3.2.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Do rất thận trọng với đối tượng nhập nội mới, nước ta cho dù đã đưa tôm thẻ
chân trắng vào nuôi từ năm 1997 ở Bạc Liêu (công ty Duyên Hải), sau đó ở Phú
Yên (công ty Asia Hawaii Ventures), ở Ninh Thuận (công ty Anh Việt) và Hà Tỉnh
(công ty công nghệ Việt Mỹ); việc sản xuất giống tôm thẻ chân trắng chỉ dừng lại ở
mức tự cung tự cấp trong nội bộ diện tích của các đơn vị nói trên và nhìn chung tỷ
lệ sống trung bình từ Nauplius đến Post dưới 30% (Lại Minh Hưng, 2005).
Từ năm 2002 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu
quy trình sản xuất giống thẻ chân trắng như: Viện Hải Dương Học Nha Trang
(nguồn tôm bố mẹ do công ty Việt Linh cung cấp từ Hawaii), viện nghiên cứu
NTTS III Nha Trang nguồn tôm bố mẹ do công ty Asia Hawaii Ventures Phú
Yên), viện nghiên cứu NTTS I Hà Bắc (nguồn tôm bố mẹ do công ty Việt Đức
cung cấp)
Năm 2003, tại trại giống Hạnh Phúc Phú Yên hợp đồng với chuyên gia Thái
Lan sản xuất tôm sú sạch kết hợp với sản xuất thử nghiệm Post từ Nauplius tôm
thẻ chân trắng đạt tỷ lệ sống bình quân 30%.
Hiện nay đã có nhiều trung tâm, trại giống sản xuất tôm thẻ chân trắng đạt năng
suất cao như: Trại giống công ty Việt Úc, trại của Viện Nghiên Cứu NTTS III,
công ty Anh Việt.
Và đã có một số nghiên cứu, đề tài về tôm thẻ chân trắng đã được thực hiện
tại một số địa bàn và đã có kết quả như sau:
-Trung tâm Nghiên cứu thủy sản 3 là đơn vị duy nhất được bộ thủy sản chỉ
định nghiên cứu áp dụng kỹ thuật sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy
hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng. Kết quả: Đây là đề tài NCKH cấp nhà nước