Luận văn tốt nghiệp
1
Học viện Tài chính
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
TRẦN THỊ DIỆU
Lớp: 11.1 LT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY TNHH GIOVANNI VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
Người hướng dẫn
Trần Thị Diệu
: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
: 401
: TS. BÙI VĂN VẦN
Lớp:11.1 LT
đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu,… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá
trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…
Tài sản lưu động lưu thông: là những tài sản lưu động nằm trong quá
trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán, …
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa VLĐ và TSLĐ
Vốn lưu động
Hình thái giá trị
Tài sản lưu động
Hình thái hiện vật
Tài sản lưu động
sản xuất
Trần Thị Diệu
Tài sản lưu động
lưu thông
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
4
Học viện Tài chính
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài
sản lưu động lưu thông luôn thay thế cho nhau, vận động không ngừng nhằm
Học viện Tài chính
- Trong doanh nghiệp thương mại, VLĐ chỉ vận động qua 2 giai đoạn
chính:
Giai đoạn 1: Giai đoạn mua hàng. Vốn bằng tiền được chuyển hóa
thành hàng hóa dự trữ.
Giai đoạn 2: Giai đoạn bán hàng. VLĐ được chuyển từ hàng hóa dự trữ
trở về vốn bằng tiền như ban đầu và kết thúc chu kỳ chu chuyển.
Sự vận động này được mô tả như sau: T-H-T’
Thứ hai, giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ, một lần
vào giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi
doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Thứ ba, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ
sản xuất, kinh doanh.
1.1.2. Phân loại vốn lưu động
1.1.2.1. Theo hình thái biểu hiện
Dựa tiêu tiêu chí này, VLĐ được chia thành:
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
+Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng,tiền đang
chuyển và các khoản tương đương tiền.
+ Các khoản phải thu: chủ yếu là phải thu của khách hàng, các khoản
doanh nghiệp ứng trước tiền cho khách hàng, tạm ứng.
- Vốn hàng tồn kho:
Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn về hàng tồn kho hay còn gọi là vốn
vật tư hàng hóa bao gồm: Vốn vật tư dự trữ (nguyên vật liệu chính, nguyên
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
chu chuyển vốn lưu động.
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
7
Học viện Tài chính
1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.3.1. Phân loại nguồn vốn lưu động
Căn cứ theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn lưu
độngđược chia thành: nguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu
động tạm thời.
-
Nguồn VLĐ thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn
định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thành nên các TSLĐ
thường xuyên cần thiết.
Để đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh được tiến hành thường
xuyên, liên tục thì ứng với một quy mô kinh doanh nhất định, thường xuyên
phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như
các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng. Nguồn VLĐ thường xuyên của
Vốn chủ sở hữu
Mối quan hệ trên được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Nguồn VLĐ thường xuyên
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
8
Học viện Tài chính
Nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Nguồn VLĐ
thường xuyên
Nợ dài hạn
Nguồn vốn
Tài sản dài hạn
Vốn chủ sở hữu
-
Hình 1.1: Mô hình tài trợ thứ nhất
Tiền
TSLĐ tạm thời
Nguồn vốn
tạm thời
Nguồn vốn
thường xuyên
TSLĐ thường xuyên
TSCĐ
Thời gian
Ưu điểm: Giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức
độ an toàn cao hơn và giảm bớt chi phí trong việc sử dụng vốn.
Nhược điểm: Chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn,
thường vốn nào, nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn song kém linh
hoạt hơn.
Trong thực tế, có khi doanh thu biến động, khi gặp khó khăn về tiêu
thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh, nhưng vẫn phải
duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn.
* Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và
một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên,
và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
Hình 1.2: Mô hình tài trợ thứ hai
Tiền
TSLĐ tạm thời
Nguồn vốn
Tiền
TSLĐ tạm thời
Nguồn vốn
tạm thời
TSLĐ thường xuyên
Nguồn vốn
thường xuyên
TSCĐ
Thời gian
Ưu điểm: Chi phí sử dụng thấp và việc sử dụng vốn linh hoạt hơn.
Nhược điểm: khả năng gặp rủ ro thanh khoản cao hơn.
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
11
Học viện Tài chính
Trong thực tế, mô hình này được nhiều doanh nghiệp lựa chọn vì phần
tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các doanh
nghiệp mới rất cần thiết.
1.2. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Học viện Tài chính
doanh nghiệp. Đó chính là nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của
doanh nghiệp.
Như vậy, nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối
thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được
tiến hành bình thường, liên tục. Dưới mức này, sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị chì trệ, gián đoạn. Nhưng nếu trên
mức cần thiết thì lại gây nên tình trạng vốn bị ứ đọng, sử dụng vốn lãng phí,
kém hiệu quả.
Chính vì vậy trong quản trị VLĐ , các doanh nghiệp cần chú trọng xác
định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và
điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp. Với quan niệm nhu cầu VLĐ
là số vốn tối thiểu, thường xuyên cần thiết nên nhu cầu vốn lưu động được
xác định theo công thức:
Nhu cầu
VLĐ
=
Mức dự trữ
hàng tồn kho
+
Khoản phải thu
từ khách hàng
-
-
Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công thức tính: Dtk=
(Mij Nij)
Trong đó:
Dtk: Mức dự trữ HTK cần thiết trong kỳ kế hoạch.
M: mức tiêu dùng bình quân hàng ngày của loại HTK được tính toán.
N: Số ngày luân chuyển của loại HTK được tính toán.
i: khâu trong quá trình kinh doanh.
j: loại HTK sử dụng trong từng khâu.
-
Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho
khách hàng.
Công thức tính dự kiến khoản phải thu:
Nợ phải thu dự kiến
kỳ KH
-
=
việc quản lý, sử dụng vốn theo từng loại vốn trong từng khâu sử dụng. Nhưng
nhược điểm là tính toán theo phương pháp này khá phức tạp, và mất nhiều
thời gian.
Phương pháp gián tiếp
Phương pháp này dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của
doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân
chuyển VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh thu
thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế
hoạch.
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với
năm báo cáo: Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ
năm báo cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân
chuyển VLĐ năm kế hoạch.
Công thức tính toán như sau:
Trong đó:
VKH: Vốn lưu động năm kế hoạch
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
15
16
Học viện Tài chính
Mkh: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch (doanh thu thuần)
Lkh: Số vòng quay VLĐ năm kế hoạch
- Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu: Nội dung
phương pháp này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu
tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ
theo doanh thu năm kế hoạch.
Phương pháp này được tiến hành qua 4 bước sau đây:
Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bảng cân đối
kế toán kỳ thực hiện.
Bước 2: Lựa chọn các khoản mục tài sản ngắn hạn và nguồn vốn chiếm
dụng trong bảng cân đối kế toán chịu sự tác động trực tiếp và có mối quan hệ
chặt chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục đó so với
doanh thu thực hiện trong kỳ.
Bước 3: Sử dụng tỷ lệ phần trăm của các khoản mục trên doanh thu để
ước tính nhu cầu vốn lưu động tăng thêm cho năm kế hoạch trên cơ sở doanh
thu dự kiến năm kế hoạch.
Bước 4: Dự báo nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động tăng thêm của
công ty và thực hiện điều chỉnh kế hoạch tài chính nhằm đạt được mục tiêu
của công ty.
Ưu điểm của phương pháp gián tiếp là việc tính toán tương đối đơn
giản, giúp doanh nghiệp ước tính được nhanh chóng nhu cầu VLĐ năm kế
hoạch xác định nguồn tài trợ phù hợp. Tuy nhiên độ chính xác của phương
pháp này còn hạn chế, do còn dựa nhiều vào số liệu quá khứ.
1.2.2.2. Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động
Trần Thị Diệu
Phân bổ vốn lưu động là việc phân chia các thành phần vốn trong vốn
lưu động theo tỷ trọng sao cho phù hợp với ngành nghề và điều kiện sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có các cách phân bổ vốn lưu
động khác nhau để phù hợp với ngành nghề, điều kiện và tổ chức hoạt động
kinh doanh của công ty. Hoặc trong cùng một doanh nghiệp, kết cấu vốn lưu
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
18
Học viện Tài chính
động cũng khác nhau tại các thời điểm khác nhau. Vốn lưu động bao gồm tiền
và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, hàng tồn kho, các
khoản phải thu và tài sản ngắn hạn khác. Tỷ trọng các khoản này là khác nhau
với mỗi doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
vận tải hoặc du lịch thì không có hàng tồn kho, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
xây dựng thì có nhiều sản phẩm dở danh, doanh nghiệp thương mại cho nhiều
hàng hóa và các khoản nợ phải thu…. Chính vì thế, doanh nghiệp cần phải
nghiên cứu về tỷ trọng các loại vốn lưu động xem có phù hợp với công ty
không để có biện pháp khắc phục và hoàn thiện hơn hệ thống vốn lưu động
của doanh nghiệp.
1.2.2.4. Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là bước
đệm cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường của doanh nghiệp.
-
Lựa chọn phương tiện vận chuyển phù hợp để tối thiểu hoá chi phí vận
chuyển.
-
Thường xuyên theo dõi những biến động của thị trường, dự đoán xu thế biến
động trong kỳ để đưa ra hướng dự trữ hợp lý.
-
Thường xuyên theo dõi tình hình dự trữ vật tư, phát hiện kịp thời vật tư bị ứ
đọng để có biện pháp xử lý.
-
Thưc hiện mua bảo hiểm đối với hàng tồn kho, trích lập dự phòng đối với
việc giảm giá hàng tồn kho.
1.2.2.5. Quản trị các khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu
hàng hóa hoặc dịch vụ. Trong kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp đều có
các khoản nợ phải thu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau. Nếu các khoản
phải thu quá lớn, tức số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc không
kiểm soát nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì thế quản trị khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản
trị tài chính của doanh nghiệp.
Để quản trị các khoản phải thu, các doanh nghiệp cần chú trọng thực
hiện các biện pháp sau đây:
Thường xuyên kiểm soát các khoản nợ phải thu, kịp thời phát hiện các khoản
phải thu khó đòi để trích lập dự phòng và biện pháp đòi nợ hiệu quả.
1.2.2.6. Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là
một bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Đây là loại tài sản
có tính thanh khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Tuy nhiên vốn bằng tiền bản thân nó không tự sinh lời, nó chỉ sinh lời
được khi được đầu tư sử dụng vào một mục đích nhất định. Hơn nữa với đặc
điểm là tài sản có tính thanh khoản cao nên vốn bằng tiền cũng dễ bị thất
thoát, gian lận và lợi dụng.
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải
đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời
cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của doanh
nghiệp. Như vậy khi có tiền mặt nhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào các
chứng khoán ngắn hạn, cho vay hay gửi vào ngân hàng để thu lợi nhuận.
Ngược lại khi cần tiền mặt, doanh nghiệp có thể rút tiền gửi ngân hàng, bán
chứng khoán hoặc đi vay ngắn hạn ngân hàng để có tiền mặt sử dụng.
Trong các doanh nghiệp, nhu cầu lưu giữ vốn bằng tiền thường do 3 lý
do chính: Nhằm đáp ứng các yêu cầu giao dịch, thanh toán hàng ngày như trả
tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền công, thanh toán cổ tức hay nộp thuế… của
doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội đầu tư sinh lời hoặc kinh
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
21
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
22
Học viện Tài chính
tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn dài
hạn.
Trường hợp 2: Nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ phải trả ngắn hạn thì
nguồn vốn lưu động thường xuyên sẽ có giá trị âm (NWC
Số vòng quay
=
Giá vốn hàng bán
hàng tồn kho
Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số lần mà hàng tồn kho luân chuyển bình quân
trong kỳ. Số vòng quay càng cao chứng tỏ việc kinh doanh càng tốt vì chỉ cần
đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn thu được doanh thu cao.
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho:
360
Số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ tiêu này cho biết độ dài ngày cho một lần luân chuyển hàng tồn
kho. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ trong kỳ doanh nghiệp có số vòng quay hàng
tồn kho thấp. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào chính sách quản lý hàng tồn kho của
doanh nghiệp.
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
24
Học viện Tài chính
Hệ số KHTT lãi vay
=
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp
và phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ.
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT
Luận văn tốt nghiệp
25
Học viện Tài chính
Hệ số tạo tiền của doanh nghiệp:
Hệ số tạo tiền của
doanh nghiệp
=
Dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh
Doanh thu bán hàng
Chỉ tiêu này thường được xem xét trong thời gian hàng quý, hàng 6
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chu chuyển vốn trong thanh toán của
doanh nghiệp. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi
các khoản phải thu nhanh, giảm số vốn bị chiếm dụng.
Kỳ thu tiền bình quân:
=
360
Trần Thị Diệu
Lớp: 11.1 LT