Giải pháp tăng cường quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí ngô gia tự - Pdf 34

Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp

Nguyễn Thị Vân Anh

1
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

1

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

MỤC LỤC

2
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

2


VKD
VCĐ
VLĐ

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:


3

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định
“kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, doanh nghiệp nhà nước là lưc
lượng kinh tế chủ lực, các công ty nhà nước phải thực sự trở thành các tập
đoàn kinh tế mạnh.-là xương sống của nền kinh tế quốc dân.”. Hơn 10 năm
qua kinh tế nhà nước đã được hình thành đồng bộ hơn. Trong đó doanh
nghiệp nhà nước đóng vai trò nhất định trong việc tăng cường lực lượng kinh
tế quốc dân và đang từng bước đổi mới, sắp xếp lại về mô hình tổ chức, cơ
cấu sở hữu, kỹ thuật công nghệ…theo quan điểm hiện tại, mỗi doanh nghiệp
được xem như một tế bào sống cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế. Tế bào
sống đó cũng cần quá trình trao đổi chất với bên ngoài thì mới tồn tại và phát
triển được. Vốn chính là đối tượng của quá trình trao đổi đó. Nó đảm bảo sự
sống cho doanh nghiệp, nếu thiếu hụt thì doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh
toán. Nói cách khác vốn là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của bất kì
doanh nghiệp nào. Có thể thấy trong một doanh nghiệp, vốn là nhân tố quan
trọng trong quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh; nguồn vốn và việc sử dụng
nguồn vốn là một vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong ngắn cũng như dài hạn, là khâu

nếu muốn nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ thì trước hết chúng ta cần tìm hiểu
làm thế nào để quản trị VLĐ hiệu quả.
Xuất phát từ những điều trên, người viết đã quyết định lựa chọn đề tài
“Giải pháp tăng cường quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí
Ngô Gia Tự” làm đề tài luận văn tốt nghiệp với hi vọng có thể góp phần nâng
cao hiệu quả quản trị VLĐ của công ty, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của công ty.
2.
a.

b.

Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản trị VLĐ tại
công ty cổ phần cơ khí Ngô Gia Tự trong thời gian từ năm 2011 tới năm 2013.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong luận văn này nhằm trả lời cho câu hỏi
nghiên cứu: “Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản trị VLĐ tại công ty cổ
phần cơ khí Ngô Gia Tự?”
Và để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đó, luận văn hướng tới đạt được
các mục đích sau:
5
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

5

Lớp: CQ48/11.1_LT




của công ty trong 3 năm 2011-2013.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cả thông tin sơ cấp và thông
tin thứ cấp đều được sử dụng. Thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách áp
dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp tổng hợp, phương
pháp thống kê, so sánh, phân tích số liệu… Thông tin thứ cấp được thu thập
từ những nguồn như: báo cáo tài chính (BCTC) năm 2011, 2012 và 2013 của
công ty Ngô Gia Tự, các bài báo trong ngành ô tô, các bài đánh giá của các

5.

chuyên gia…
Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Nội dung luận văn được trình bày theo kết cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần cơ khí
Ngô Gia Tự thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu
động tại công ty cổ phần cơ khí Ngô Gia Tự.

6
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

6

Lớp: CQ48/11.1_LT



tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh
nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được sử dụng để đầu tư vào sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài
vốn cố định (VCĐ) các doanh nghiệp còn cần có VLĐ. VLĐ trong hoạt động
kinh doanh nói chung và trong kinh doanh thương mại nói riêng có vai trò
quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình
doanh nghiệp theo luật định. VLĐ được định nghĩa như sau: “Vốn lưu động
là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành
nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp”.
Là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động (TSLĐ) của doanh
nghiệp, VLĐ có những đặc điểm khác so với VCĐ:


Thứ nhất, VLĐ có tốc độ luân chuyển nhanh bởi vì thời hạn sử dụng của



TSLĐ thường ngắn.
Thứ hai, hình thái biểu hiện của VLĐ cũng luôn thay đổi qua các giai đoạn
trong quá trình sản xuất kinh doanh: từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành
vật tư hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán



thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền.
Thứ ba, kết thúc mỗi chu kì kinh doanh, giá trị của VLĐ được dịch chuyển
toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù
đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Quá



Phân loại theo hình thái biểu hiện của VLĐ: theo tiêu thức này VLĐ được
chia thành:


Vốn vật tư hàng hóa: Là các khoản VLĐ có hình thái biểu
hiện bằng hiện vật cụ thể. Bao gồm vốn tồn kho nguyên vật
liệu (NVL), sản phẩm dở dang (SPDD), bán thành phẩm,



thành phẩm (TP).
Vốn bằng tiền (VBT) và các khoản phải thu: Bao gồm các
khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các
khoản phải thu...

9
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

9

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp đánh giá mức độ dự trữ
tồn kho, khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. NVLĐTT thường bao gồm vay
ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
NVLĐTT được hình thành bởi lẽ trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, đôi lúc có thể xảy ra những biến cố bất thường làm phát sinh nhu cầu
10
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

10

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

VLĐ để trang trải hình thành một bộ phận tài sản lưu động (TSLĐ) có tính
chất tạm thời. TSLĐ tạm thời chính là mức chênh lệch giữa tổng toàn bộ tài
sản và tổng tài sản thường xuyên. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới phát sinh nhu
cầu hình thành bộ phận tài sản này, chẳng hạn: dự kiến giá cả vật tư, nguyên
liệu tăng hoặc có những chuyến hàng chở vật tư về đến doanh nghiệp ngoài
kế hoạch, làm vật tư dự trữ tăng đột biến, nên cần có NVLĐTT để trang trải;
sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp tăng đột biến, do có nhiều thuận lợi
trong việc bán hàng, làm HTK tăng lên, do đó nhu cầu vốn lưu động
(NCVLĐ) cũng tăng theo; nhận được đơn đặt hàng ngoài kế hoạch cũng có
thể làm tăng NCVLĐ.
NVLĐTX là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành
hay tài trợ cho TSLĐ thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ TSLĐ thường xuyên tùy thuộc
vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp). TSLĐ thường xuyên là một bộ

nhuận để lại, tăng các nguồn ngân quỹ của doanh nghiệp; tăng các khoản vay
trung và dài hạn, kể cả việc phát hành trái phiếu. NVLĐTX của doanh nghiệp
giảm bởi các nguyên nhân sau: giảm VCSH; hoàn trả các khoản vay trung và
dài hạn; tăng đầu tư vào TSCĐ hoặc đầu tư dài hạn khác bằng cách xây dựng,
đổi mới thiết bị, công nghệ.
1.2.

Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh
nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh

nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý các hoạt động kinh doanh
của mình. Một trong những vấn đề phải quan tâm là nâng cao hiệu quả quản
trị VLĐ. Đây có thể nói là một bộ phận rất quan trọng và là yếu tố góp phần
giúp doanh nghiệp đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt nhất. Quản trị
VLĐ có thể được định nghĩa như sau: “Quản trị vốn lưu động là việc lựa
chọn, đưa ra quyết định và tổ chức thực hiện và đưa ra các quyết định về
huy động , phân bổ và sử dụng vốn lưu động nhằm đạt được các mục tiêu
quản trị VLĐ của doanh nghiệp và góp phần đạt được các mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp”. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm
quản trị về tiền, các khoản phải thu, HTK nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất
diễn ra thường xuyên và liên tục. Quản lý và sử dụng VLĐ có ảnh hưởng rất
lớn đối với việc hoàn thành các mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Mục tiêu của doanh nghiệp khi quản trị VLĐ bao gồm:
12
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

12


để doanh nghiệp có thể thực hiện tốt các mục tiêu đề ra từ đó nâng cao hiệu
quả kinh doanh và giá trị doanh nghiệp.
1.2.2. Nội
1.2.2.1.

dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu được đối với bất kì doanh
nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Do đó, việc chủ động xây
dựng, huy động, sử dụng VLĐ là biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ ở doanh nghiệp. Và để có thể xây dựng được chính sách huy
động vốn phù hợp hiệu quả nhất thì doanh nghiệp cần chủ động xác định nhu
13
13
SV: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết (NCVLĐTXCT) của doanh nghiệp
mà với lượng VLĐ đó doanh nghiệp có thể đáp ứng được các yêu cầu mua
sắm vật tư dự trữ , bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh
nghiệp với khách hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được tiến hành bình thường liên tục. Như vậy có thể nói “Nhu cầu
vốn lưu động thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết
phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

Trong đó VHTK: Nhu cầu vốn HTK
Mij: Chi phí sử dụng bình quân một ngày của HTK i
Nij: Số ngày dự trữ của HTK i
n: Số loại HTK cần dự trữ
m: Số khâu (giai đoạn) cần dự trữ HTK.
Phương pháp chung để xác định NCVLĐ đối với từng loại vật tư dự
trữ là căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn bình quân một ngày và số ngày dự trữ
đối với từng loại để xác định rồi tổng hợp lại.
Đối với các loại nguyên vật liệu chính (NVLC) có thể xác định theo
công thức sau:
Vnvlc = Mnvlc Nnvlc
Trong đó:
Vnvcl: Nhu cầu vốn dự trữ NVLC
Mnvlc: Chi phí NVLC sử dụng bình quân 1 ngày
Nnvlc: Số ngày dự trữ NVLC (được xác định căn cứ vào số ngày vận
chuyển trên đường, số ngày kiểm nhận nhập kho, số ngày chuẩn bị đưa vào sử
dụng, số ngày dự trữ bảo hiểm).
Đối với các loại vật liệu phụ, do có nhiều loại và mức tiêu hao cũng
khác nhau nên nếu loại nào sử dụng nhiều và thường xuyên thì áp dụng công
thức như đối với NVLC. Còn đối với các loại dùng ít, không thường xuyên thì
có thể xác định theo tỷ lệ % so với nhu cầu vốn NVLC hoặc so với tổng mức
luân chuyển loại nguyên vật liệu đó kỳ kế hoạch hoặc kỳ báo cáo.
NCVLĐ dự trữ trong khâu sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn để hình
thành các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước
(CPTT). Nhu cầu này nhiều hay ít phụ thuộc vào chi phí sản xuất bình quân
một ngày, độ dài chu kì sản xuất sản phẩm, mức độ hoàn thành của sản phẩm

Pps: CPTT phát sinh trong kỳ
Ppb: CPTT phân bổ trong kỳ
NCVLĐ dự trữ trong khâu lưu thông: Bao gồm vốn dự trữ TP, vốn
phải thu, phải trả.
Nhu cầu vốn TP: Là số vốn tối thiểu dùng để hình thành lượng dự trữ
thành phẩm tồn kho, chờ tiêu thụ. Đối với vốn dự trữ TP được xác định theo
công thức:
Vtp = Zsx Ntp
Trong đó:
Vtp: Nhu cầu vốn TP
Zsx: Giá thành sản xuất sản phẩm bình quân một ngày kỳ kế hoạch
(Ztp=)
16
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

16

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

Ntp: Số ngày dự trữ thành phẩm (được xác định căn cứ vào số ngày
cách nhau giữa 2 lần giao hàng được ký kết với khách hàng hoặc tính theo số
ngày cần thiết để tích lũy đủ số lượng sản phẩm xuất giao cho khách hàng.
Nếu doanh nghiệp bán sản phẩm cho nhiều khách hàng thì căn cứ vào số ngày
dự trữ thành phẩm bình quân giữa các khách hàng đó.
Nhu cầu vốn nợ phải thu: Nợ phải thu là khoản vốn bị khách hàng

Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

Tổng NCVLĐ=NCVLĐ trong khâu dự trữ sản xuất + NCVLĐ


trong khâu sản xuất + NCVLĐ trong khâu lưu thông
Ưu điểm: Phản ánh rõ NCVLĐ cho từng loại vật tư hàng hóa và trong từng



khâu kinh doanh, do vậy tương đối sát với nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Nhược điểm: tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian trong xác định NCVLĐ

b)

của doanh nghiệp.
Phương pháp gián tiếp: dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của
doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân
chuyển VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động NCVLĐ theo doanh thu thực
hiện năm báo cáo để xác định NCVLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch.
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:



Phương pháp 1: điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm NCVLĐ so với năm báo cáo.
Công thức tính toán như sau:
VKH = BC (1-t%)
Trong đó:

Học Viện Tài Chính

Phương pháp 3: dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu. Nội dung phương
pháp này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu tố cấu
thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ theo

a)

doanh thu năm kế hoạch.
1.2.2.2.
Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động
Mô hình tài trợ thứ nhất: toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm
bảo bằng nguồn vốn thường xuyên (NVTX), toàn bộ TSLĐ tạm thời được
đảm bảo bằng NVTT

Lợi ích của mô hình tài trợ này: Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro
trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn; Giảm bớt được chi phí trong việc
sử dụng vốn.
Hạn chế của việc sử dụng mô hình tài trợ này: Chưa tạo ra sự linh hoạt trong
việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm
bảo hơn, song kém linh hoạt hơn.
b)

Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần
của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một
phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.

19
SV: Nguyễn Thị Vân Anh



Luận Văn Tốt Nghiệp

c)

Học Viện Tài Chính

Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên
được đảm bảo bằng NVTX, còn một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ
TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng NVTT.

Về lợi thế, mô hình này chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp hơn vì sử dụng
nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ linh hoạt hơn.
Trong thực tế, mô hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn, vì một
phần tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các
doanh nghiệp mới hình thành lại càng cần thiết. Việc sử dụng mô hình này,
doanh nghiệp cũng cần sự năng động trong việc tổ chức nguồn vốn, vì áp
dụng mô hình này, khả năng gặp rủi ro sẽ cao hơn.
1.2.2.3.

Phân bổ vốn lưu động

VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức
quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát
triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện
nay. Doanh nghiệp sử dụng VLĐ có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn
luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác,
rút ngắn vòng quay của vốn.

sản xuất của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của
chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất.
- Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được
lựa chọn theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành
1.2.2.4.

Quản trị vốn bằng tiền

22
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

22

Lớp: CQ48/11.1_LT


Luận Văn Tốt Nghiệp

Học Viện Tài Chính

VBT là một trong các bộ phận cấu thành TSNH của doanh nghiệp và
đồng thời cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, quyết định tới khả
năng thanh toán của doanh nghiệp mà cụ thể là khả năng thanh toán nhanh.
VBT bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, ở các nước phát
triển thị trường chứng khoán thì chứng khoán ngắn hạn cũng được xếp vào
khoản mục này. VBT bản thân nó là một loại tài sản không tự sinh lời tuy
nhiên trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc giữ tiền mặt là cần
thiết. Khi doanh nghiệp giữ đủ lượng tiền mặt cần thiết thì doanh nghiệp
không bị lãng phí vốn tiền mặt đồng thời lại tăng lợi thế trong kinh doanh.
Tuy nhiên do là một loại tài sản có khả năng thanh khoản cao cho nên vốn


doanh nghiệp mà với lượng tiền mặt hiện có của doanh nghiệp thì không thể
đáp ứng được. Tổng chi phí lưu giữ tiền mặt chính là tổng chi phí cơ hội và
chi phí giao dịch, tổng chi phí này phải giữ ở mức nhỏ nhất. Như vậy, khi xác
định mức tồn quỹ tiền mặt, chi phí cơ hội của việc giữ tiền có vai trò như chi
phí lưu giữ hàng tồn kho, còn chi phí giao dịch khi chuyển đổi các tài sản đầu
tư có tính thanh khoản thấp hơn thành tiền mặt có vai trò như chi phí đặt


hàng.
Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Để làm được điều đó, doanh
nghiệp cần thực hiện các biện pháp sau: Thứ nhất, thực hiện nguyên tắc mọi
khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ; Thứ
hai, phân định rõ ràng trách nhiệm trong quản lý vốn bằng tiền giữa kế toán
và thủ quỹ; Thứ ba, việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày phải do thủ quỹ
thực hiện trên cơ sở chứng từ hợp thức hợp pháp; Thứ tư, phải thực hiện đối
chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt với sổ quỹ hàng ngày; Thứ năm, theo dõi,
quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang trong quá trình thanh toán



(tiền đang chuyển) phát sinh do thời gian chờ đợi hanh toán ở ngân hàng.
Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm: cụ thể
doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi
tiền mặt và sử dung có hiệu quả nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi để đầu tư tài
chính ngắn hạn. Đồng thời cần thực hiện dự báo và quản lý có hiệu quả các
dong tiền nhập xuất ngân quỹ trong từng thời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu
thanh toán nợ của doanh nghiệp khi đáo hạn.
1.2.2.5.
Quản trị các khoản phải thu

xây dựng điều khoản bán chịu của doanh nghiệp bao gồm: thời hạn bán chịu,
tỷ lệ chiết khấu nếu khách hàng thoanh toán trước thời hạn. Về nguyên tắc,
doanh nghiệp chỉ có thể nới lỏng thời hạn bán chịu khi lợi nhuận tăng thêm
nhờ tăng doanh thu tiêu thụ lớn hơn chi phí tăng thêm cho quản trị khoản phải
thu của doanh nghiệp. Trong trường hợp áp dụng chính sách bán hàng có
chiết khấu thì chi phí tiết kiệm được trong quản lý khoản phải thu phải lớn
hơn phần lợi nhuận doanh nghiệp dành trả cho khách hàng do giảm giá bán
chịu hàng hóa.
+ Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu: đây là biện
pháp quan trọng để tránh nguy cơ nợ khó đòi, nợ xấu. Nội dung chủ yếu của
phương pháp này là đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu
thanh toán của khách hàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán thông qua các
bước sau: trước hết, thu thập thông tin về khách hàng thông qua các tài liệu cơ
bản như báo cáo tài chính của doanh nghiệp khách hàng, các kết quả xếp hạng
25
SV: Nguyễn Thị Vân Anh

25

Lớp: CQ48/11.1_LT



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status