Phân tích nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động? Các doanh nghiệp hiện nay( liên hệ thực tế DN cụ thể) đã làm gì để hạn chế tối đa tai nạn lao động - Pdf 40

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, tình hình tai nạn lao động tại nước ta ngày một gia tăng và có
diễn biến phức tạp cả về hình thức và nguyên nhân xảy ra tai nạn. Làm thế nào để có thể
khắc phục tình trạng này, mỗi doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ hơn về tai nạn lao động
và nguyên nhân xảy ra nó. Vậy có những nguyên nhân nào dễ dẫn đến tai nạn lao động?
Cách khắc phục chúng là gì? Để làm rõ vấn đề này, nhóm 10 xin nghiên cứu đề tài: Phân
tích nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động? Các doanh nghiệp hiện nay( liên hệ thực tế DN
cụ thể) đã làm gì để hạn chế tối đa tai nạn lao động ? Những kiến nghị của bạn về vấn đề
này ở Việt Nam.

1


I.
CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI TAI NẠN LAO ĐỘNG
1. Khái niệm tai nạn lao động

Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể
người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực
hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Tai nạn lao động là một đầu ra không mong muốn của hệ thống, là một chỉ số hoặc một dấu
hiệu của sự trục trặc lớn trong hệ thống, được biểu hiện bằng sự tổn thất về người, máy hoặc
đối tượng lao động một cách nặng nề và nghiêm trọng. Sự tổn thất về người thể hiện thấp
nhất là các thương tật xảy ra và cao nhất là chết người.Sự tổn thất về máy móc thể hiện là sự
hỏng hóc máy móc nặng nề đòi hỏi phải ngưng sửa chữa. Sự tổn thất về đối tượng lao động
thể hiện ở sự loại bỏ toàn bộ đối tượng lao dộng đã bị hỏng. Khi tai nạn lao động xảy ra thì
sản xuất phải ngừng trệ và kinh doanh phải bỏ ra chi phí lớn để khắc phục hậu quả.
2. Nguyên nhân dẫn tới tai nạn lao động
2.1.

Sự khác biệt giữa các cá nhân

Với sự khác nhau về bản sắc trên đã dẫn đến tâm lý hành động khác nhau giữa hai giới và
biểu hiện tâm lý đó trong hoạt động khác nhau như:
-

Đối với nam thường bộc lộ tính ganh đua mạnh, tính năng động lớn, tính tìm tòi sáng
tạo, tính mạnh bạo và thể lực trong lao động. Song nam cũng bộc lộ những nhược điểm
lớn như: cẩu thả trong lao động, luộm thuộm trong hoạt động, nóng vội và thiếu tự tin,
tính kiên trì thấp.

-

Đối với nữ giới có tính cách tốt như: cẩn thận tỉ mỉ cần cù trong lao động, ngăn lắp gọn
gàng trong hoạt động, có sức chịu đựng tâm lý cao, có tính kiên trì lao động cao. Nhưng
nữ cũng bộc lộ các nhược điểm là: an phận trong lao động, không có tính ganh đua,
thương yêu đùm bọc nhau và dễ dãi với nhau

Với sự khác biệt trên, công tác tổ chức lao động khoa học cần phải bố trí công việc cho phù
hợp với đặc điểm gió tính để co thể giảm bớt sự cố và tai nạn lao động. Đặc biệt là phân
công lao động đan xen giữa nam và nữ để có sự phối hợp và hỗ trợ cho nhau để giảm sự cố
và tai nạn lao động.
Thứ hai sự khác biệt về kinh nghiệm lao động
Kinh nghiệm lao động được biểu hiện là số lần lao động được lặp lại ở những công việc
được giao theo thời gian. Người lao động có mức độ lặp lại các hoạt động đối với công việc
làm lớn bao nhiêu thì kinh nghiệm lao động càng nhiều bấy nhiêu. Kinh nghiệm lao động
phụ thuộc vào các yếu tố sau: tần suất lặp lại của các hoạt động đối với công việc, thời gian
công tác. Các nhà nghiên cứu tâm lý lao động cho rằng độ thuần phục trong lao động càng
cao thì tai nạn và sự cố trong lao động àng ít và ngược lại. Vì vậy các nhà tổ chức lao động
khoa học cần bố trí xen kẽ giữa các lao động có kinh nghiệ lao động khác nhau để bổ sung
cho nhau và giám sát lẫn nhau trong lao động.
Thứ ba sự khác biệt về tuổi tác

Thứ năm năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn trong thực tế thường thể hiện ở trình độ lành nghề trong lao động và
kinh nghiệm trong lao động. Các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự khác biệt năng lực
chuyên môn liên quan đến sự cố và tai nạn lao động. Họ cho rằng: người lao động khi có sự
am hiểu sâu và rộng về công nghệ chế tạo máy móc, kết cấu máy móc thiết bị, đặc tính về
nguyên vật liệu, dụng cụ, đối tượng lao động thì họ có khả năng cao trong công việc ngăn
ngừa các sự cố và tai nạn lao động
Thứ sáu khác biệt tính khí
4


Tính khí thể hiện ở mức độ, cường độ, sự cân bằng trong các phản xạ của con người đối với
môi trường bên ngoài. Tính khí thường có 4 loại là: tính khí nóng, tính khí hoạt, tính khí
trầm, tính khí ưu tư. Những người có tính khí nóng thường xuyên có phản úng mạnh, nhanh
nhưng không cân bằng do đó có thể xảy ra hiện tượng nóng vội, chủ quan, thiếu thận trọng
trong lao động do vậy khả năng xảy ra sự cố và tai nạn lao động cao hơn. Những người có
tính khí ưu tư lại ngược lại có sự phản ứng chậm chạp có tính năng động, tháo vát trong việc
xử lý tình huống lao động cụ thể, do vậy thường xảy ra sự cố và tai nạn lao động.
Thứ bảy sự khác biệt vị trí và vai trò của các cá nhân trong tổ chức
Thường được gắn với tinh thần trách nhiệm cao hay thấp. Trong thực tế hoạt động, để thực
hiện các hoạt động lao động hệ thống được tổ chức theo kiểu rằng buộc với nhau hoặc chi
phối lẫn nhau. Các vị trí khác nhau có sự giám sát lẫn nhau tạo nên hệ thống, đồng bộ của
hoạt động. Các nhà nghiên cứu cho rằng: người có vị trí và vai trò cao trong tổ chức thường
có ý thức trách nhiệm cao hơn trong hoạt động lao động và do vậy khả nan/gư xảy ra sự cố
và tai nạn lao động thấp hơn những người có vị trí vai trò thấp hơn thường có tính ỷ lại và
đặc biệt có sự phản ứng đối với giám sát do vậy ý thức trách nhiệm không ổn định và khả
năng xảy ra sự cố và tai nạn lao động cao hơn.
2.2.

Sự mất chú ý trong lao động


Do độ chính xác quá cao và tốc độ làm việc quá nhanh đòi hỏi sự căng thẳn thị giác lớn,
do vậy, dẫn đến mỏi mắt, suy giảm thị lực.

-

Do điều kiện lao động quá kém, đặc biệt là sự chiếu sáng kém dẫn đến căng thẳng thị
giác.

-

Do chuyên môn hóa quá hẹp người lao động dẫn đến họ chỉ sử dụng ít bộ phận trên cơ
thể tham gia lao động, làm cho các bộ phận khác bị đình trệ, dẫn đến các xung đột sinh
lý làm rối loạn hoạt động.

-

Do chuyên môn hóa quá hẹp dẫn đến tính đơn điệu cao trong lao động, làm ức chế hưng
phấn thần kinh, làm gia tăng sự cố và tai nạn lao động.

-

Do sự căng thẳng thần kinh quá lớn dẫn đến sự mệt mỏi thần kinh dẫn đến nhầm lẫn
trong lao động.

-

Do căng thẳng thần kinh cảm giác lớn (vì xung đột và va chạm ở gia đình và cơ quan)
dẫn đến người lao động chán trường, mệt mỏi.


Kích thích tâm lý thái quá thường được biểu hiện ở trạng thái hưng phấn quá mạnh hoặc tức
giận quá lớn. Thông thường các nhà tâm lý quan tâm đến các trạng thái tâm lý tiêu cực mạnh
như: căng thẳng thần kinh do sự cố gia đình hoặc tập thể gây nên, trạng thái tức giận thái
quá, trạng thái nổi khùng. Các nhà nghiên cứu tâm lý lao động cho rằng nếu sử dụng những
người lao động ở các trạng thái trên sẽ dẫn đến sự cố và tai nạn lao động rất lớn.
2.6.

Các nguyên nhân thuộc về kỹ thuật công nghệ, máy móc thiết bị, dụng cụ lao
động và đối tượng lao động.

Đây là các yếu tố khách quan không phụ thuộc vào yếu tố tâm lý con người. Những hiện
tượng trên xảy ra là do: hỏng máy, sự cố máy, sự cố dụng cụ lao động, sự cố đối tượng hoặc
lao động hoặc công nghệ không chính xác. Những hiện tượng trên được khắc phục trên cơ
sở các biện pháp tổ chức sản xuất sửa chữa sản xuất thiết bị, kiểm tra chất lượng dụng cụ và
đối tượng lao động trước khi vào sản xuất.
3. Thời điểm xảy ra tai nạn lao động
7


Trước hết, không ai ngạc nhiên khi thấy rằng một người đi làm việc trong trạng thái bệnh tật
sẽ bị nguy hiểm hơn so với người khỏe mạnh.Cũng chằng lấy gì làm ngạc nhiên khi nghe
nói về hậu quả nguy hại của rượu đối với các trường hợp bất hạnh. Những người nghiên cứu
tâm lý lao động ở Pháp cho thấy rằng những người công nhân uống rượu thường xuyên có
khả năng xảy ra sự cố và tai nạn lao động nhiều hơn 35% so với người không uống rượu,
đặc biệt mức độ trầm trọng của sự cố và tai nạn lao động lớn hơn rất nhiều. Khả năng xảy ra
sự cố và tai nạn lao động tăng lên theo sự tăng lên của mệt mỏi. Thời gian xảy ra tai nạn lao
động nhiều nhất là từ 11-12 giờ và 16-17 giờ. Đây là thời gian cuối buổi sáng và cuối buổi
chiều khi sự mệt mỏi tăng lên nhiều. Tóm lại thời gian xảy ra tai nạn và sự cố lao động
thường ở các thời điểm sau: - Thời điểm người công nhân say rượu.
- Thời điểm bị ốm đau nặng nhất.

đường dây truyền tải từ 6kV đến 500kV, các dự án công nghiệp thép, xi măng,… Tổng
Công ty đã đạt được các thành tựu to lớn trong sản xuất kinh doanh, góp phần vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước.
Hiện nay, Tổng Công ty Thiết bị điện Đông Anh là một trong những doanh nghiệp hàng
đầu về sản xuất thiết bị điện trong nước và khu vực Đông Nam Á với vị thế là đơn vị duy
nhất tại Việt Nam chế tạo được các loại máy biến áp 220kV-500kV, đưa Việt Nam trở
thành một trong 10 nước trên thế giới sản xuất thiết kế và chế tạo thành công máy biến
áp 500kV.
Các nỗ lực và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của EEMC đã được Chính phủ, các
Bộ, ngành đánh giá rất cao, được đông đảo khách hàng trong và ngoài nước tín
nhiệm. EEMC là đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới và được trao tặng nhiều huân
9


chương, huy chương và danh hiệu như: Huân chương lao động hạng Nhất năm 2008,
hạng Nhì năm 1984, hạng Ba năm 1991, Huân chương Độc lập hạng Ba năm 2014.
Sản phẩmcủa EEMC hiện đang có mặt trên hệ thống điện ở hầu hết các vùng miền của cả
nước. Với thiết kế hợp lý và tiên tiến, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật theo tiêu chuẩn đồng
thời được nhiệt đới hóa phù hợp với điều kiện khí hậu, đặc điểm lưới điện của Việt Nam.
Năm 2014, Tổng công ty đã đưa hai loại máy biến áp 63MVA-115/23kV; 1600KVA22kV/400V đi thí nghiệm ngắn mạch tại Phòng Thí nghiệm quốc tế Intertek và đạt kết
quả rất tốt - sự thành công này, khẳng định một bước tiến vượt trội về khoa học kỹ thuật,
công nghệ. Sản phẩm của EEMC luôn được khách hàng đánh giá cao về chất lượng, tính
đáp ứng các yêu cầu thiết kế và vận hành như khả năng chịu quá tải tốt, độ bền, độ ổn
định và độ tin cậy cao.
2.1.2.

Sơ đồ tổ chức

2.2.

Đã phát hiện một số bệnh nghề nghiệp như: bệnh bụi phổi silic (những người mắc bệnh này
chủ yếu là người lao động làm tại các phân xưởng đúc nơi có hàm lượng bụi silic cao, vượt
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép nhiều lần; bệnh điếc nghề
nghiệp...

Với những công nhân mắc bệnh nghề nghiệp ở mức độ nhẹ công ty đã
bố trí, sắp xếp hoặc chuyển sang công tác khác để tránh cho người bệnh tiếp xúc với yếu tố
gây bệnh và hạn chế sự phát triển của bệnh.
Các số liệu thống kê về an toàn vệ sinh lao động:
STT Các chỉ tiêu về đảm bảo ATVS-LĐ

Số liệu
11


1

2

3

4

5

6

7

8

về an toàn vệ sinh lao động
+ Tổng số thiết bị
Trong đó
+ Số thiết bị được đăng ký
+ Số thiết bị được kiểm nghiệm cấp phép
Thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi
+ Số giờ làm thêm bình quân/ ngày
+ Số giờlàm thêm bình quân/ tuần
+ Số giờlàm thêm bình quân/ năm
Bồi dưỡng chống độc hại bằng hiện vật
+ Tổng số lượt người
+ Tỷ lệ % không thể tổ chức cho ăn uống tại chỗ
phải phát hiện vật cho người lao động
Tổng chi phí cho công tác an toàn vệ sinh lao
động.
12

976
243
733
302
7
0
7
0
0
7
0
0
334

+ Nhiệt độ quá cao
+ Tiếng ồn
+ Nhiệt từ trường
+ Bụi
Kết quả phân loại sức khỏe của người lao động
+ Loại 1
+ Loại 2
+ Loại 3
+ Loại 4
+ Loại 5

9

10

62.770.000
304.383.905
220.000.000
134.868.000
6.347.000
4.015.000
54.437.799
6.700.000

14,9
12,4
0,8
12,6
161
301

khỏe định kỳ để phát hiện, điều trị sớm bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Bên cạnh đó còn có chế độ bổ sung những nội quy, quy trình, biện pháp kỹ thuật an
toàn lao động và phòng chống cháy nổ tại các bộ phận, phân xưởng; xây dựng kế
hoạch và tổ chức huấn luyện đầy đủ về kiến thức, kỹ năng làm việc cho nhóm đối
tượng cần phải huấn luyện (1072 nhân viên ). Thường xuyên kiểm tra lại và tiến

-

hành đào tạo lại đối với nhân viên chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo.
Để đảm bảo sức khỏe người lao động ổn định sau tai nạn lao động, doanh nghiệp sẵn
sàng cho phép nhân viên nghỉ ngơi với thời gian tùy vào mức độ nặng nhẹ của tai
nạn. Do đó không có nhân viên nào phải nghỉ hưu sớm do sức khỏe giảm sút vì tai

-

nạn lao động.
Các sự cố về thiết bị nâng cũng ít xảy ra trong công ty, tuy nhiên cũng phải nhắc đến
1 số tồn tại như : xưởng gia công áp lực có chế tạo một số móc cẩu và xích nhưng qua

-

kiểm tra chất lượng chưa được tốt. Nhiều thiết bị nâng đã quá nhiều năm sử dụng .
Hầu hết các nhà xưởng đều có diện tích lớn, đường giao thông rộng rãi, các kho chứa
và bãi để nguyên vật liệu rộng thuận tiện cho việc bốc xếp hàng hóa. Các máy móc
thiết bị bố trí cách nối đi không nhỏ hơn 2.5 m và cách nhau không nhỏ hơn 1 m. Tuy
nhiên có một số khu vực vẫn chưa đảm bảo an toàn như : đường đi phải dưới đường
đi của cầu trục, bởi mỗi khi cầu trục vận hành, do tầm nhìn của người điều khiển bị
hạn chế nên rất dễ đến đến va chạm với các thiết bị máy móc ở bên dưới do đó mà dễ
gây tai nạn lao động.


chủng trong công ty. Các loại máy nâng có trọng tải trên một tấn trước khi đưa
vào sử dụng công ty đều thực hiên đăng kiểm với bộ công nghiệp, được Thanh
tra Nhà nước về AT-VSLĐ cấp giấy phép sử dụng. Đến mỗi kỳ ra hạn sử dụng
công ty đều làm thủ tục xin Thanh tra Nhà nước về ATLĐ kiểm tra về tình trạng
an toàn của thiết bị để tiếp tục sử dụng. Công ty đã thực hiện một số biện pháp an toàn
khi vận hành thiết bị nâng:
- Thường xuyên kiểm tra tình trạng máy móc, các bộ phận cơ cấu
- Thường xuyên kiểm tra độ ổn định của thiết bị
- Các thiết bị đều được nối không phòng ngừa sự cố.
- Khi sử dụng phải có đầy đủ các thiết bị, cơ cấu an toàn cần thiết
- Thường xuyên kiểm tra độ mòn của móc treo tải, cáp
- Người lái cầu trục có tải trọng lớn hơn 1 tấn đều phải có bằng qua đào
tạo đúng nghề
- Khi vận hành phải có hoa tiêu hướng
Kỹ thuật an toàn điện
15


Với số lượng máy móc và thiết bị sử dụng năng lượng điện lớn như hiện nay theo ước tính
bình quân mỗi tháng công ty sử dụng khoảng trên 400.000KWh, từ đường điện cao thế 6kv.
Công ty sử dụng hai trạm hạ áp phân phối trung tâm và 7 trạm phân phối khu vực cung cấp
cho các phân xưởng, phòng ban công ty theo các cấp điện áp 380v, 220v. Điện áp sử dụng
cho các đèn chiếu sang cục bộ trên các máy là điện áp an toàn (40v,36v,26v…) do nhận thức
được vấn đề do tai nạn điện gây ra là rất nguy hiểm nên công ty rất chú trọng làm tốt công
tác an toàn điện. Mọi thiết bị mang điện trong toàn công ty đều được kiểm tra định kỳ (3-612 tháng) về độ tin cậy của các phần mang điện như cách điện, cơ cấu an toàn điện, đặc biệt
là các khâu nối đất cho máy. Việc kiểm tra an toàn điện đều do phòng cơ điện tổ chức
theo đúng quy trình kiểm tra, ngoài ra thợ điện thường trực tại các phân xưởng, xưởng sản
xuất đều được trang bị các thiết bị bảo hộ. Hệ thống chống sét cho nhà xưởng được thiết kế
lắp đặt ngay từ khi xây dựng nhà máy, trên cơ sở lợi dụng các kết cấu kim loại của mái, vỉ
kèo, cột nhà xưởng làm cột thu dẫn sét. Hệ thống nối đất chống sét được dung chung cho nối

Nhận xét: tại thời điểm đo đạc có 11/20 mẫu đo có cường độ tiếng ồn vượt quá tiêu
chuẩn cho phép từ 2 – 16dBA ở mức áp âm chung và vượt từ 1-19dBA ở dải tần số
400Hz
2.3.2.3.

Bụi trong môi trường lao động

Lấy mẫu bụi toàn phần bằng giấy lọc PVC đường kính 37mm theo phương pháp 0500
của viện NIOSH- Mỹ. cân maauc bụi bằng cân điện tử kem-Đức, độ chính xác 0,01mg.
Đo bụi hô hấp bằng máy personal/dataram- Mỹ
Nhận xét: tại thời điểm lấy mẫu, nồng độ bụi trọng lượng và bụi hô hấp tại các vị trí làm
khuôn, phun bi ( phân xưởng đúc gang) vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
2.3.2.4.

Đo hơi khí độc

2.3.2.5.

Bức xạ nhiệt

Nhận xét: Trừ lò sấy khuôn( xưởng đúc ) do quá trình để nguội khuôn và lò cao tần được
che kín nên có bức xạ nhiệt nằm trong tiêu chuẩn cho phép. Còn ở các vị trí khác bức xạ
nhiệt đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép, nhất là tại lò nấu gang, lò nung phôi. Tuy nhiên
thời gian tiếp xúc bức xạ nhiệt ngắn ( khi cho than, chọc lò, rót gang, cho nguyên liệu,
17


lấy nguyên liệu) .Để hạn chế tác động của bức xạ nhiệt công ty đã có nhiều biên pháp
cải thiện điều kiện làm việc như : đặt quạt thông gió, cung cấp nước uống, che
chắn nguồn bức xạ nhiệt và cũng cần giảm thời gian tiếp xúc bức xạ nhiệt cho người lao

0,05
60
100
1,0

Mẫu
26,8
0,1
0,05
7,5
8,5
0,35

Nhận xét: Tại thời điểm lấy mẫu các chỉ tiêu đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân

2.4.

Việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư
20/Bộ LĐTBXH, 28/5/1998. Thông tư quy định việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
chỉ được thực hiện sau khi đã áp dụng các biện pháp về kỹ thuật AT-VSLĐ nhưng vẫn
chưa loại trừ được hết các yếu tố nguy hiểm có hại. Thực hiện quán triệt nội dung trên,
công ty đã trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động theo danh mục do Bộ
LĐTBXH ban hành và theo nội dung bản kế hoạch Bảo hộ lao động do Hội đồng bảo hộ
lao động công ty xây dựng cùng với kế hoạch sản xuất kinh doanh. Trong năm 2003
công ty đã trích một phần kinh phí với số tiền là 220 triệu VNĐ để mua các phương
18


tiện bảo vệ cá nhân cấp phát cho người lao động, sau khi đã tham khảo ý kiến của Công


19


Với công nhân cũ được huấn luyện theo định kỳ, nội dung huấn luyện chủ yếu là nhắc lại
kiến thức đã được huấn luyện và bổ sung những vấn đề AT-VSLĐ mới, chế độ chính
sách mới.
2.7. Các biện pháp hướng đến tâm lý của người lao động
- Dùng các phương pháp để tìm hiểu về các vấn đề :
+ Lao động có quá mệt mỏi đối với họ hay không? Do quá ồn hay bởi các điều kiện khác?
Có sự thoải mái trong hay sau lúc làm việc không? Các thao tác nào là quá khó khăn? Đâu là
những thời điểm hay tình huống phức tạp trong quá trình giám sát công việc?........
+ Có phải vì các tín hiệu được bố trí không hợp lý nên khó tìm thấy? Các bộ phận điều khiển
được bố trí không đúng nên thao tác viên khó sử dụng? Các tín hiệu nào thường được sử
dụng nhất ở các sự cố và nguyên nhân xảy ra?
+ Vị trí làm việc của người lao động đã phù hợp hay chưa? Người lao động có thể ngồi ghế
làm việc hay nhất thiết phải đứng? Anh ta có thể thay đổi tư thế làm việc hay không?
+ Ghế ngồi làm việc đã được thiết kế đúng chưa ? ( chiều cao, hình dáng, chỗ tựa)
+ Các đèn hiệu đã được thiết kế phù hợp chưa?
+ Nguồn chiếu sáng và màu sắc sơn tường máy móc có hài hòa hợp lí không?
+ Chế độ lương thưởng, đãi ngộ, điều kiện làm việc đã làm hài lòng người lao động chưa?
-Để từ đó đưa ra các biện pháp tạo tâm lí cho người lao động cảm thấy được thoải mái, quan
tâm, chuyên tâm vào công việc, tránh được mệt mỏi và khó khăn trong quá trình làm việc và
sẽ ít gây ra tai nạn hơn. Một số biện pháp như là:
+ Đưa chế độ lao động và nghỉ ngơi có cơ sở khoa học vào lao động và sử dụng thể dục
trong lao động sản xuất.
+ Nghiên cứu các hệ thống khen thưởng vật chất và tinh thần một cách chính xác.
+ Những vị trí máy móc, trang thiệt bị được bố trí chưa hợp lí cần được bố trí lại sao cho
người lao động dễ dàng sử dụng.
20

các DN cải thiện điều kiện lao động, phát triển các dịch vu tư vấn, kiểm định, đào tạo,
huấn luyện về ATVSLĐ.



Khen thưởng, xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về ATVSLĐ. Điều tra tổng thể về
TNLĐ, về các vụ tai nạn lao động cũng cần phải được điều tra kỹ càng. Truy cứu
trách nhiệm của chủ sử dụng lao động cungx như tác nhân gây tai nạn, từ đó có biện
pháp thích đáng.



Nhà nước có kết hợp với DN tổ chức những chương trình huấn luyện về ATVSLĐ,
trang bị cho NLĐ những kiến thức về kỹ thuật AT- VSLĐ đồng thời nâng cao ý thức
của họ.

3.2. Từ phía Doanh nghiệp

21


Các DN cần nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đảm bảo AT- VSLĐ tại DN. Từ đó
có những biện pháp phù hợp để phòng ngừa và hạn chế TNLĐ và bệnh nghề nghiệp tại DN.
-

Biện pháp kỹ thuật:


Doanh nghiệp cần cung cấp các trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện bảo hộ cá
nhân cho NLĐ.



Các nhà tổ chức lao động khoa học cần bố trí xen kẽ giữa lao động có kinh
nghiệm và các lao động khác để bổ sung cho nhau và giám sát lẫn nhau trong lao
động



Các nhà quản lý từ cấp cao đến cấp trung cần sát sao quan tâm hơn đến đời sống
của nhân viên cũng như những tâm tư, tình cảm của họ để người lao động có cảm
giác được quan tâm, giúp họ cống hiến chuyên tâm hơn cho công việc. Đồng thời
khi các nhà quản lý rõ hơn được tâm lý của nhân viên sẽ có biện pháp tô chức lao
động hợp lý như không bố trí những người lao động đang gặp chấn động về tâm
22


lý như chuyện tình cảm, gia đình... làm những công việc có sự tập trung cao độ từ
đó giảm thiểu được những sự cố và tai nạn lao động.

KẾT LUẬN

Tai nạn lao động không chỉ làm mất đi nguồn nhân lực, gây ra ảnh hưởng về chất lượng
công việc mà còn gây ra tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng tới mục
tiêu chung của doanh nghiệp.Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động. Chính
vì vậy mà nhà nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng cần phải tìm hiểu một cách cụ

23


thể và rõ ràng về nguyên nhân dẫn đến tai nạn đồng thời lựa chọn và tìm kiếm cách khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status