MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.
1
QUAN ĐIỂM VỀ THỜI ĐẠI HIỆN NAY
2
1.1.
Quan niệm của các nhà tư tưởng trong lịch sử về
2
1.2.
thời đại
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về thời đại
3
NHỮNG XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY
10
2.
VÀ SỰ NHẬN THỨC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
nhất về tiến trình phát triển và xu thế cơ bản của thế giới. Về mặt thời gian, nó
chỉ một giai đoạn tương đối dài trong tiến trình phát triển lịch sử thế giới. Về
mặt không gian, nó lấy đặc trưng phát triển xã hội của đại đa số quốc gia và khu vực
trong phạm vi toàn thế giới làm căn cứ. Về mặt nội dung, nó là sự khái quát bản chất
về các mâu thuẫn và vấn đề của thế giới. Nhìn từ phương hướng phát triển, nó là sự
phản ánh cơ bản về tình thế cơ bản của tiến trình lịch sử thế giới. Những nguyên lý
lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời đại có vai trò định
hướng cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đề ra đường lối,
chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo phù hợp với đặc điểm xu thế của
thời đại.
Đặc biệt, trong thời kỳ hiện nay, thế giới mà chúng ta sống đang có những biến
động mạnh mẽ trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở trong từng nước, từng
khu vực và trên phạm vi toàn thế giới. Những biến động ấy đã và đang diễn ra rất
nhanh chóng, có liên quan đến nhau trong mối quan hệ quốc tế được mở rộng chưa
từng thấy. Thực tiễn đó đòi hỏi, mỗi quốc gia dân tộc, trước hết là mỗi Đảng cộng
sản cần phải biết mình đang sống trong thời đại lịch sử nào, với những đặc điểm,
những mâu thuẫn cơ bản gì, với xu hướng phát triển ra sao để chọn hướng đi đúng,
phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Chỉ có trên cơ sở hiểu đúng thời đại,
chúng ta mới có thể lựa chọn con đường phát triển của dân tộc theo hướng tiến bộ và
văn minh. Vì vậy, nghiên cứu về: “Thời đại và sự nhận thức của Đảng Cộng sản
Việt Nam về những biến đổi mới của thời đại hiện nay” là đặc biệt cần thiết.
NỘI DUNG
3
1. Quan niệm về thời đại hiện nay
1.1. Quan niệm của các nhà tư tưởng trong lịch sử về thời đại
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhân loại cho thấy đã có nhiều nhà tư tưởng
đưa ra quan niệm của mình về thời đại và phân chia lịch sử xã hội loài người
thành những thời đại lịch sử từ thấp đến cao. Nhà xã hội học Italia là Vicô
lịch sử nhân loại và làm cho việc nhận thức các thời đại hoàn toàn sai lệch. Có
người lấy kỹ thuật làm căn cứ phân chia thời đại. Cách phân chia này tuy có
những điểm hợp lý nhất định ở một mặt, một phía nào đó của thời đại, tức là
nhấn mạnh vai trò của lực lượng sản xuất. Nhưng cách phân chia này không
thể chỉ ra được tính chất xã hội và động lực phát triển của thời đại.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- lênin về thời đại
Bằng sự nghiệp cách mạng vĩ đại do chính Người lãnh đạo, V.I. Lê-nin
đã mở ra thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội và bằng trí tuệ uyên bác của một nhà tư tưởng lỗi lạc,
Người đã kịp thời tổng kết thực tiễn, kế thừa, phát triển quan điểm của C. Mác
và Ph. Ăng-ghen về thời đại, xây dựng nên nhận thức, quan điểm mác-xít về
thời đại ngày nay.
Trên cơ sở nhìn nhận tiến trình của xã hội loài người như một dòng
chảy lịch sử - tự nhiên, phủ định biện chứng giữa các hình thái kinh tế - xã hội,
C. Mác và Ph. Ăng-ghen xác định mỗi hình thái này, với quá trình phát sinh,
phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch sử. Cơ sở khoa học
đầu tiên và căn bản nhất để xác định một thời đại cụ thể là các điều kiện vật
chất khách quan, tức hình thái kinh tế - xã hội, với một kiểu quan hệ sản xuất
đặc trưng, phù hợp với một trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất và
một kiến trúc thượng tầng tương ứng. Ph. Ăngghen đã viết: “…trong mỗi thời
đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ
cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính
5
trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ
có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử đó…” 1 .
Trên cơ sở khái niệm thời đại do C. Mác và Ph. Ăng-ghen nêu ra, V.I. Lênin đã tiếp tục phát triển nhận thức về vấn đề hệ trọng này, bắt đầu xem xét
thời đại như một phạm trù lịch sử. Để không lạm dụng khái niệm thời đại, V.I.
Lê-nin đã cụ thể hóa mỗi thời đại lịch sử lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh
bước chuyển từ thời đại này sang thời đại kia”. Chính vì vậy, Lênin coi thắng
lợi của cách mạng XHCN Tháng Mười là sự mở đầu của thời đại mới, cho rằng
Cách mạng Tháng Mười thắng lợi mở ra con đường quá độ từ CNTB lên
9
CNXH của lịch sử loài người. Còn Đặng Tiểu Bình cho rằng, việc kết thúc
chiến tranh thế giới lần thứ hai, một loạt nước XHCN ra đời, nhân loại tiến vào
thời đại mới hoà bình và phát triển, v.v... là cột mốc.
Thứ ba, kiên trì nguyên tắc kết hợp “tính phổ biến” với “tính đặc thù”,
lấy hiện tượng mang tính phổ biến trong phạm vi thế giới để giới định nội
dung thời đại. Bản thân khái niệm thời đại có tính thế giới, mâu thuẫn thế giới
và quy luật phát triển thay đổi của nó xuyên qua các hiện tượng mà xác định
nội dung thời đại, là “sự tổng hoà của các kiểu, các loại hiện tượng”. Thời đại
là một khái niệm chiến lược. Về mặt thời gian, không phải chỉ là mười mấy
năm, mấy chục năm, mà chỉ là thời kỳ lịch sử tương đối dài; về mặt nội dung,
không phát triển là chỉ những sự kiện cá biệt, hiện tượng cá biệt, mà là từ
trong phân tích các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học - kỹ thuật, văn
hoá, v.v... của thế giới, từ trong các hiện tượng phức tạp tìm kiếm những yếu
tố và hợp lực phản ánh chỉnh thể, xác định những mâu thuẫn chủ yếu, đặc
trưng chủ yếu và hướng đi cơ bản của thế giới. Sở dĩ, Lênin xác định nửa đầu
thế kỷ XX là thời đại “chiến tranh” và “cách mạng” là vì Người cho rằng:
“Một thời đại được gọi là thời đại, chính là vì nó bao gồm toàn bộ những hiện
tượng và những cuộc chiến tranh muôn hình muôn vẻ, điển hình cũng có mà
không điển hình cũng có, lớn cũng có mà nhỏ cũng có, riêng cho các nước tiên
tiến cũng có mà riêng cho các nước chậm tiến cũng có”.
Thứ tư, phải biết kết hợp thời đại lớn với thời đại nhỏ để phân tích xu
thế phát triển của thời đại. Những người Mácxít cho rằng, thời đại có sự phân
biệt lớn nhỏ, không thể sử dụng khái niệm thời đại một cách chung chung.
Thông thường mà nói, chúng ta sử dụng phần lớn là khái niệm thời đại lớn, tức
đó, cả thế giới đã tiến vào thời đại “quá độ CNTB lên CNXH và CNCS”. Việc
Lênin cho rằng, quá độ từ CNTB lên CNXH là cả một thời đại lịch sử, cũng
tức là nói, thời gian mà sự quá độ đó tiếp diễn là tương đối dài, vì thế bản thân
thời đại này mang tính quá độ đó phải được xem là một “thời đại lớn”, chắc
chắn phải trải qua các thời đại nhỏ hoặc giai đoạn nhỏ có nội dung và đặc
11
trưng khác nhau. Với những nội dung và đặc trưng khác nhau đó đã khiến cho
bước tiến của thời đại có sự lên xuống. Nhưng, những nội dung và đặc trưng
đó chắc chắn phải chịu sự chế ước của thời đại lớn, đã biểu hiện cụ thể sự
chuyển động chính và xu thế xa của cả thời đại lớn. Lênin cho rằng: “Chỉ có
trên cơ sở này, nghĩa là trước hết xem xét những nét khác nhau cơ bản của các
thời đại (chứ không phải của các giai đoạn lịch sử cá biệt ở các nước) thì
chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta”. Đồng thời, khi
phân tích cụ thể thời đại mà các quốc gia khác nhau đang đứng. V.I.Lênin
khẳng định chỉ có trên cơ sở hiểu đúng thời đại "chúng ta mới có thể định ra
đúng đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc
điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi
tiết của nước này hay nước nọ" 6 . Làm rõ điều này là rất quan trọng. Điều đó
nhất định đòi hỏi chúng ta không được câu nệ vào một định nghĩa kinh điển
nào đó, nhìn thời đại thành một thứ tuyệt đối, nhất thành bất biến, mà phải
xuất phát từ tình hình thực tế, tức xuất phát từ nội dung khách quan của quá
trình lịch sử trong thời gian cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể, coi thời đại là có
điều kiện, tương đối, biến đổi, chia giai đoạn. Đồng thời, cũng không được ngộ
nhận các thời kỳ (giai đoạn) khác nhau trong cả thời đại lớn là các thời đại lớn
khác nhau, từ đó mà chuyển thời đại nhỏ thành thời đại lớn và sự thay đổi
phương hướng lớn của sự phát triển trong lịch sử loài người.
2. Các xu thế trong thời đại hiện nay và sự nhận thức của Đảng Cộng
sản Việt Nam về những biến đổi mới của thời đại hiện nay
trưng chủ yếu của thời đại chúng ta.
Cục diện thế giới, trong bất biến đang thai nghén những thay đổi, trong
biến đổi lại hàm chứa sự bất biến. Thời đại hiện nay mà chúng ta nói ở đây là
chỉ thời đại nhỏ, là tương đối với thời đại trước lấy “chiến tranh và cách
mạng” làm nội dung chủ yếu, thời đại hiện nay lấy “hoà bình và phát triển”
làm nội dung chủ yếu.
Xu thế hoà bình và phát triển. Đây là một xu thế cơ bản trong thời đại hiện nay,
phản ánh nguyện vọng và nhu cầu chính đáng của các dân tộc, của quảng đại quần
13
chúng nhân dân lao động.Thực tế lịch sử chứng minh, loài người phải trả giá quá đắt
để giải quyết hậu quả của chiến tranh để lại, nó tàn phá nhiều sức người và sức khoẻ
của kìm hãm sự phát triển của nhân loại. Nhân loại tiến bộ là đã phải đấu tranh vạch
trần bộ mặt, bản chất của những kẻ chủ mưu gây chiến tranh để thu về lợi nhuận độc
quyền cao. Vì thế, đấu tranh bảo vệ hoà bình và chống lại chiến tranh đã trở thành
một xu thế của thời đại hiện nay nhằm mưu cầu. Vì lợi ích dân sinh của con người và
sự phát triển của mỗi quốc gia dân tộc.
Xu thế toàn cầu hoá nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Xu thế khách quan
trong thời đại hiện nay là các quốc gia đều phải tham gia quá trình quốc tế hoá nền
kinh tế, và các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu quốc gia nào không tích cực đẩy
mạnh quá trình hội nhập quốc tế thì khó có thể phát triển được, tuy nhiên mức độ và
hiệu quả hội nhập đến đâu còn tuỳ thuộc vào điều kiện tiềm năng của mỗi nước. Sự
xuất hiện xu thế toàn cầu hoá trong thời đại hiện nay là sản phẩm tất yếu của quá trình
phát triển lực lượng sản xuất, của sự phát triển nền sản xuất hàng hoá. Song toàn cầu
hoá hiện nay đang diễn ra theo hướng có lợi cho chủ nghĩa tư bản, cho các nước có
nền sản xuất công nghiệp phát triển. Quá trình này vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những
thách thức lớn cho các nước chậm phát triển, hiệu quả của nó tuỳ thuộc vào năng lực
cạnh tranh về mọi mặt của mỗi nước và thắng lợi bao gồm cũng thuộc về kẻ mạnh.
Nếu không đấu tranh để tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các nước trong quá trình hội
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hội nghị đại biểu các
Đảng cộng sản và công nhân quốc tế tại Mátxcơva năm 1957, 1960 và 1969
tiếp tục khẳng định: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cuộc Cách mạng tháng
Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại
cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại sụp
đổ của chủ nghĩa đế quốc, tan rã của chủ nghĩa thực dân, là thời đại có nhiều
nước đi lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới” 7
7
Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân tại Matxcơva tháng 11-1960, Nxb Sự thật 1961, tr.17-18.
15
Đại hội XI của Đảng ta chỉ rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện
nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau
cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia,
dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng
sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất
định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” 8 .
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
Đảng ta đã tích cực tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển nhận thức, quan
điểm về thời đại ngày nay. Đó là hệ thống các quan điểm vừa thể hiện sự trung
thành, kiên định với lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; vừa phản ánh phong cách sáng tạo, chủ động phân tích cụ
thể từng tình hình cụ thể. Nhờ vậy, đến nay, Đảng ta đã có nhận thức, quan
điểm đúng đắn, sinh động về thời đại ngày nay, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn
cho toàn Đảng, toàn dân vững bước trên con đường của Cách mạng Tháng
tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo
quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã
hội” 12 . Đảng ta đã phát triển một cách đúng đắn nhận thức về thời đại hiện nay:
Trước hết, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức
đang làm thay đổi tận tầng sâu của nền sản xuất vật chất, tác động mạnh mẽ
đến cơ cấu xã hội, làm biến đổi các giá trị văn hóa, tinh thần, tư tưởng, làm
đảo lộn tương quan lực lượng trong cục diện thế giới... Với việc tạo ra các
công cụ lao động và phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất mới, cách mạng
khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đã khai sinh ra một thời đại kinh tế
mới, khác nhiều so với thời đại kinh tế công nghiệp hàng trăm năm qua. Tuy
thời đại kinh tế không đồng nghĩa với thời đại như một phạm trù lịch sử,
nhưng sự ra đời của một thời đại kinh tế mới hiển nhiên đặt tiến trình vận động
của thời đại ngày nay vào bối cảnh, điều kiện chứa đựng thuận lợi và khó
khăn, thời cơ và thách thức chưa hề có tiền lệ.
10
Văn kiện Đảng; Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 21, tr 612 – 613
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.1996, tr.576.
12
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr14.
11
17
Trước sự điều kiện đó, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã nhạy bén và
lần đầu tiên nhấn mạnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và ghi nhận sự
ra đời của một thị trường kinh tế thế giới: "Một đặc điểm nổi bật của thời đại
là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ... làm gay gắt
thêm những mâu thuẫn của thời đại. Trên thế giới đang hình thành một thị
19
Nổi lên trên hết là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển. Đảng ta xác
định đây là xu thế lớn. Hòa bình và hợp tác vừa là kết quả trực tiếp của hàng
thập niên đấu tranh cách mạng, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp trước kia;
vừa là hệ quả của cục diện thế giới đương đại; đồng thời cũng là đòi hỏi chung
mà mục tiêu phát triển hiện đại đặt ra cho mọi quốc gia dân tộc trên thế giới.
Nguy cơ chiến tranh lớn bị đẩy lùi, mặc dù nhiều cuộc chiến tranh, xung đột
cục bộ vẫn tiếp tục xảy ra. Mâu thuẫn, đấu tranh, cạnh tranh đương nhiên vẫn
gay gắt, nhưng mẫu số chung trong quan hệ quốc tế hiện nay là tích cực sử
dụng các biện pháp hòa bình thay cho chiến tranh; tiếp xúc, đối thoại, hợp tác
thay cho đối đầu; cùng có lợi trên con đường phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991) ủng hộ các nỗ lực "đẩy lùi nguy cơ chiến tranh". Đại hội VIII (năm
1996) và Đại hội IX (năm 2001) của Đảng nhận định nguy cơ chiến tranh thế
giới bị đẩy lùi, hoặc ít có khả năng xảy ra. Đến Đại hội X, Đảng ta hoàn chỉnh
nhận định: Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo,
chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố,
những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên
tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi bổ sung
2011) xác định: “Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là
xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ,
xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can
thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh
tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra phức tạp” 17 .
Bên cạnh xu thế lớn, Đảng ta cũng nắm bắt có hiệu quả một số xu thế quan
trọng khác. Trên bình diện đời sống quốc tế, đó là xu thế dân chủ hóa, gắn liền với xu
23
4. V.I. Lênin, toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.86-87.
5. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr.1847.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb ST, HN 1989, tr.544.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.1996, tr.576.
8. Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, H. 2002.
9. Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005
10. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 7.
11. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 14; 157
12. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 73-74; tr.737.
13. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
CTQG, H, 2011, tr67-69