ĐỀ TÀI THẢO LUẬN : Tình huống số 2 “Phân tích ngành dược Việt Nam” - Pdf 40

ĐÊ TÀI THẢO LUẬN

Tình huống số 2 “Phân tích ngành dược Việt Nam”
I.
II.

Tổng quan ngành Dược Việt Nam
Giải bài tập tình huống

Câu 1:
I.

Tổng quan ngành dược Việt Nam
Thời Bắc thuộc, do đặc điểm địa lý và quan hệ chính trị, nền y dược Việt Nam
có sự giao thoa và chịu nhiều ảnh hưởng từ nền y dược Trung Quốc. Qua trao
đổi học hỏi những vị thuốc, kinh nghiệm chữa bệnh kết hợp với các loại thảo
dược bản địa đặc thù đã tạo nền móng đầu tiên cho mảng Đông dược nói riêng
và ngành dược Việt Nam nói chung. Năm 938, thời kì Bắc thuộc kết thúc,
ngành y dược Việt Nam tiếp tục phát triển. Từ thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây
Sơn và triều Nguyễn, nền y dược dân độc đã được chú trọng đáng kể. Từ năm
1858, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa Tây y vào nước ta, năm
1902 mở trường đào tạo Dược sĩ Hà Nội, tổ chức một số bệnh viện, bệnh xá ở
các tỉnh, thành phố, phủ, huyện. Dưới sức ép của Pháp, nhiều dược sĩ không
được phép mở cửa hiệu, viện nghiên cứu khai thác dược liệu trong nước cũng
bị chèn ép, mảng Đông dược bị kìm hãm phát triển.
Giai đoạn 1946 – 1954 kháng chiến chống Pháp ngành dược vừa thiếu
dược sĩ, công nhân, trang thiết bị, vật tư, vừa thiếu kinh nghiệm và tổ chức
quản lí. Ngành chủ yếu phát triển theo hướng tự lực cánh sinh, tận dụng
mọi nguyên liệu sẵn có từ cây thuốc trong nước. Thời kì này, Việt Nam đã
sản xuất được thuốc chiến thương, Filatov, ống tiêm, kìm kẹp máu, dao
mổ, kim khâu... Cũng ở trong giai đoạn này, tại Thanh Hóa, chính quyền đã

PHẨM Ngành Dược phẩm B B.2 Trình độ phát triển và định vị trên bản
đồ thị trường dược phẩm thế giới B.2 Theo phân loại và xếp hạng cho
ngành công nghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc
(UNIDO) chia công nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) và Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc
(UNCTAD) xác định mức độ phát triển công nghiệp dược của các quốc gia
theo 4 cấp độ:


• Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc.
• Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc generic; đa số thuốc phải nhập
khẩu.
• Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuất
khẩu được một số dược phẩm.
• Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.
Theo cách đánh giá này, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam đang ở
gần cấp độ 3 theo thang phân loại của WHO. Còn nếu theo thang phân loại
5 mức phát triển của UNIDO thì công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ ở
mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ
nguyên liệu nhập”. Ngành công nghiệp hóa dược của Việt Nam vẫn chưa
phát triển do thiếu sự đồng bộ trong quy hoạch, chính sách, công nghiệp
phụ trợ…
Vì vậy, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chỉ mới có một nhà máy
sản xuất nguyên liệu kháng sinh bán tổng hợp của Mekophar, sản lượng
thiết kế khoảng 200 tấn Amoxicillin và 100 tấn Ampicillin mỗi năm, và
chủ yếu chỉ đủ phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh
từ nguyên liệu giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ. Về định vị ngành dược
Việt Nam trên bản đồ dược thế giới, theo cách đánh giá phân loại của IMS
Health, Việt Nam thuộc nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đang
phát triển (pharmerging countries). Cách phân loại này dựa trên tiêu chí cốt

tương ứng
của các bên
liên quan
Các bên liên
quan khác

Gia nhập tiềm năng
Các đối thủ cạnh tranh trong
Đe dọa gia nhập mới
ngành

Cạnh tanh giữa các công ty hiện
tại

Quyền lực thương
lượng của người
mua


Người mua

Nhà cung
ứng
Quyền
thương
lượng của
người cung
ứng

Đe dọa của các sản phẩm/dịch

lợi ích họ sẽ tập hợp lại trong các hiệp hội để có thể có một đơn hàng lớn đàm phán với
nhà cung cấp. Siêu thị bản chất cũng là việc tập hợp nhiều người mua lại với nhau để có
số lượng lớn đàm phán với các nhà cung cấp cho siêu thị.
(3). Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế
– Ngành nào có lợi nhuận cao thì mức độ hấp dẫn của ngành càng cao. Áp lực từ sản
phẩm thay thế cao.
– Ngành nào có nhiều sản phẩm thay thế, đặc biệt sản phẩm thay thế lại rẻ thì áp lực từ
sản phẩm thay thế cao.
(4). Áp lực của các nhà cung cấp
– Khi số nhà cung cấp ít, sản phẩm thay thế lại không có nhiều thì áp lực từ Nhà cung cấp
(NCC) cao. Hầu hết các hàng hóa trên thị trường đều cấu thành từ nhiều thành phần từ
nhiều nhà cung cấp khác nhau


– Khi sản phẩm của NCC có đặc tính khác biệt được khách hàng đánh giá cao thì DN
khó chuyển đổi sản phẩm vì vậy áp lực cao.
– Khi số lượng mua của DN chiếm tỷ trọng nhỏ thì áp lực cao. Khi lượng mua thấp thì
thế đàm phán của DN rất thấp, NCC sẵn sàng hy sinh bạn.
– DN chịu chi phí cao thì áp lực từ nhà cung cấp cao vì việc chuyển đổi sản phẩm có thể
làm tăng chi phí.
– Khi nhà cung cấp có tham vọng hội nhập về phía trước thì áp lực cao.
(5). Nguy cơ thâm nhập của các đối thủ tiềm năng
– Khi quy mô sản xuất trong ngành lớn thì nguy cơ thâm nhập của đối thủ thấp và ngược
lại
– Sản phẩm trong ngành có mức độ khác biệt hóa cao thì nguy cơ thâm nhập thấp.
Nguyên nhân thông thường là khách hàng có mức độ trung thành cao với các sự khác
biệt. Doanh nghiệp rất khó khăn để tìm ra phân khúc của riêng mình khi mà khách hàng
đang rất trung thành với các phân khúc của họ.
– Đòi hỏi vốn cao khi gia nhập thì nguy cơ thâm nhập thấp và ngược lại.
– Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của khách hàng cao thì áp lực thấp.


khá lớn:
Quy mô sản xuất lớn: cuối tháng 11/2013 Dược Hậu Giang là công ty dược lớn nhất
Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng nhà máy sản xuất dược phẩm mới. Đây là nhà
máy hứa hẹn tạo ra năng suất gấp đôi với công suất thiết kế dự kiến lên tới hơn 9 tỉ
đơn vị một năm. Cùng lúc đó, công ty dược Imexpharm cũng đã xây dựng xong nhà
máy thuốc tiêm penicillin mới tại Bình Dương. Tính kinh tế của quy mô được thể
hiện rõ khi các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất sẽ làm giảm chi phí bình
quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra. Từ đó tạo nên rào cản về giá cả cho các doanh



nghiệp có chiến lược gia nhập ngành
Chuyên biệt hóa sản phẩm: Công ty dược Traphaco tập trung vào nhóm sản phẩm
thuốc mang dáng dấp của thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thiên nhiên với hai
sản phẩm nổi bật là Họat huyết dưỡng não và Boganic. 2 sản phẩm trên đã chiếm


được lòng tin cũng như đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tạo ra 1 tập khách
hàng trung thành rất lớn. Do vậy những công ty mới muốn gia nhập phải đầu tư rất


lớn để lôi kéo được lượng khách hàng này.
Hệ thống phân phối rộng khắp: Do chiến lược sản phẩm đánh chủ yếu vào kênh
OTC, Dươc Hậu Giang đã tận dụng hiệu quả hệ thống phân phối rộng khắp cả nước
trong tiêu thụ sản phẩm. Để thực hiện tham vọng thiết lập một mạng lưới phân phối
rộng khắp cả nước, Traphaco đã mua lại những công ty thiết bị y tế tại các tỉnh thành
trọng điểm như Thái Nguyên, Đắk Lắk, Quảng Trị. Đây là điều khá khó khăn khi các
công ty mới gia nhập muốn thuyết phục những kênh phân phối sẵn sàng chấp nhận


đường triển vọng đó nên đã tích cực đầu tư công nghệ tạo ra sản phẩm mới.
 Do dược phẩm là một nhu cầu thiết yếu nên rất khó tìm ra một sản phẩm thay
thế cho mặt hàng này. Do vậy mức độ đe dọa của các sản phẩm thay thế là
thấp làm cho tính hấp dẫn của ngành tăng lên.
II.3.
Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đang có trong ngành
Ngành dược là một trong những ngành có môi trường cạnh tranh nội bộ cao. Hiện
nay, cả nước có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc bao gồm cả tân dược và đông
dược, trong số đó có 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 78 doanh nghiệp
sản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có 5 doanh nghiệp sản xuất văccxin, sinh phẩm
y tế. Mặc dù là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô còn nhỏ (về vốn và nhà
xưởng), chủ yếu sản xuất thuốc phổ thông và phân phối.
Sau khi gia nhập WTO , cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài càng cao . Số
lượng doanh nghiệp ngoài đăng kí kinh doanh tại Việt Nam tăng từ hơn 300 năm
2007 lên gần 500 doanh nghiệp năm 2010. Ngoài ra các doanh nghiệp còn chịu sự
cạnh tranh gay gắt từ các công ty dược nước ngoài được thành lập chi nhánh và
thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu dược phẩm theo lộ trình cam kết mở cửa
của WTO . Do vậy, áp lực cạnh tranh sẽ rất lớn.
• Tính đến năm 2013, mức tiêu thụ thuốc trên đầu người Việt mới chỉ là 36,79
USD/năm. con số này so với Trung Quốc là 63.64 USD và Hàn Quốc là 294.2
USD. Mức chi tiêu về thuốc theo đầu người tại Việt Nam được dự đoán có
thể tăng hơn gấp đôi vào năm 2015. Tăng trưởng này được thúc đẩy bởi sự
phát triển của xã hội và bởi sự mở rộng của hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia.
Ngày nay, 65% trên 90 triệu người dân Việt Nam có bảo hiểm y tế . Đến năm
2020 , con số này có thể đạt 90% . Mức chi tiêu của người dân được kỳ vọng


sẽ tăng trong tương lai. Do vậy đây sẽ là một cơ hội cho ngành Dược phát
triển.
• Phân khúc thuốc Đông dược: chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị ngành

được cung ứng (tiêu thụ). Khi các doanh nghiệp trong ngành dược có quyền lực trong các
điều khoản giao dịch, họ sẽ kiếm được lợi nhuận lớn hơn. Còn khi trong ngành dược có
nhiều nhà cung ứng và ít khách hàng, khách hàng thường có lợi hơn.
Trong thị trường dược Việt Nam, quyền lực thương lượng phụ thuộc vào các yếu
tố:
- Mức độ tập trung:
Ngành dược Việt Nam hiện có khoản 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó
có 100 công ty sản xuất tân dược và 78 doanh nghiệp sản xuất Đông dược, ngoài ra còn
khoảng 300 cơ sở sản xuất Đông dược và thực phẩm chức năng nhỏ lẻ. Đi đầu phải kể
đến 13 công ty dược phẩm đang ,niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đó là:
Dược Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, Dược Cửu Long,Pharmedic, S.P.M, Traphaco,
Dược OPC và Dược Phong Phú, cùng với 4 doanh nghiệp chuyên phân phối là
Vimedimex, Ladopharm, Dược Hà Tây và Dược Bến Tre. Bên cạnh đó còn có nhóm
doanh nghiệp vốn nước ngoài tiêu biểu như Sanofi Aventis hay United Pharma.
Trong các doanh nghiệp kể trên, những doanh nghiệp chiếm được thị phần lớn trên
thị trường dược Việt Nam có thể kể đến hai cái tên lớn: Dược Hậu Giang và Traphaco.
Ngoài ra Domesco cũng được xem là một nhà cung ứng tiềm năng khi cho thấy sự cải
thiện trong hiệu quả hoạt động và quản trị chi phí.


Dược Hậu Giang: là DN đầu ngành xét cả về quy mô vốn hóa lẫn khả năng
sinh lời. Trong suốt 5 năm qua, bình quân Dược Hậu Giang thu được 1 đồng
lợi nhuận trên mỗi 2 đồng doanh thu, nếu chưa trừ chi phí hoạt động. Biên lợi
nhuận ròng nằm trong nhóm cao nhất ngành (từ 18-20%), tỷ suất ROE (lợi

nhuận trên vốn chủ sở hữu) liên tục đạt trên 30%.
• Traphaco: là công ty Dược lớn thứ 2 trên thị trường hiện nay với doanh thu
đạt gần 1.700 tỷ đồng năm 2012. Tốc độ tăng trưởng bình quân lợi nhuận



Mức chi phí chuyển đổi nhà cung ứng càng cao thì khách hàng càng trung thành
với nhà cung ứng hiện tại.
Ví dụ: Nếu chi phí chuyển đổi các sản phẩm có nguồn gốc Đông dược đang dùng
hiện tại sang các sản phẩm dược của nước ngoài có giá thành cao hơn nhưng hiệu quả
không đáng kể thì khách hàng càng trung thành với nhà cung ứng hiện tại và quyền lực
của nhà cung ứng càng lớn và ngược lại.
- Khả năng tích hợp về phía sau (phía trước):
Mức chi phí hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp giảm được giá thành của các sản phẩm
dược và tăng cường quyền lực thương lượng của doanh nghiệp với khách hàng và ngược
lại. Cũng như vậy đối với các khách hàng muốn tích hợp hóa về phía trước.
=> Từ những phân tích trên, ta đưa ra kết luận sau
Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng
• Đối với thuốc tân dược: Sức
mạnh nhà cung cấp còn cao do
hầu hết các loại nguyên vật liệu
để bào chế thuốc trong nước
đều phải nhập khẩu từ nước
ngoài (90%). Do nước ta mới
chú trọng đầu tư vào mảng bào
chế thuốc và chủ yếu sản xuất
các loại thuốc thông thường,
chưa chú trọng đầu tư phát triển
nguồn nguyên liệu dược.
Do ngành dược phụ thuộc nhiều vào nước
ngoài, nên dễ gặp phải những áp lực từ
phía nhà cung cấp, như tăng giá nhập khẩu,
hay nạn làm thuốc giả, kém chất lượng.
- Đối với thuốc đông Dược: Nguyên vật

Quyền lực thương lượng của khách hàng

lẻ. Bên cạnh đó, còn do một phần lớn hậu
đãi của những công ty dược nên nguồn đầu
ra của các DN sản xuất thuốc thường nhắm
vào những kênh phân phối này. Do những
yếu tố trên mà khả năng mặc cả của những
nhà tiêu dùng có tổ chức này lớn hơn hẳn,
và cũng là vị khách hàng mà các công ty
dược hết sức ưu đãi.
KL: Vậy, với mỗi đối tượng khách hàng hoặc nhà cung ứng khác nhau thì lại có quyền
lực thương lượng là khác nhau. Do vậy yếu tố quyền lực thương lượng của khách hàng
và nhà cung ứng chưa nói lên được về tính hấp dẫn của ngành Dược Việt Nam.

2.5. Quyền lực tương ứng của các bên liên quan khác
- Cổ đông: Lợi nhuận thu về lớn, giá cổ phiếu tăng sẽ giúp củng cố niềm tin cho các cổ
đông và ngược lại.
Ví dụ: trung bình trong 3 năm qua, trên mỗi 100 đồng tài sản, Dược Hậu Giang tạo
ra tới hơn 20 đồng lợi nhuận cho cổ đông. Báo cáo thường niên của Dược Hậu Giang
luôn đạt giải tốt nhất trên sán chứng khoán. Điều này đã củng cố niềm tin cho nhà đầu tư
về một công ty dẫn đầu ngành dược với hiệu quả kinh doanh ấn tượng để họ tiếp tục đầu
tư cho Dược Hậu Giang.
- Công đoàn: tiền lương ổn định, có cơ hội thăng tiến, điều kiện làm việc tốt sẽ tạo điều
kiện để họ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, nỗ lực hơn trong công việc. Tại Công ty
Dược Hậu Giang, bộ máy quản trị được đánh giá là minh bạch và hiệu quả.
- Chính phủ: chính phủ củng cố các Quy định và Luật , hỗ trợ và tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nước đặc biệt là các doanh nghiệp hợp tác với tập đoàn


dược phẩm lớn của thế giới như Domesco, Imexpharm,… sẽ tạo cơ hội để ngành dược
Việt Nam ngày càng phát triển.
- Các tổ chức tín dụng: các doanh nhiệp hợp tác, trung thành với các điều khoản giao ước

liệu Việt Nam mang thương hiệu quốc gia.
2. Giải pháp về quy hoạch: Quy hoạch nền công nghiệp dược theo hướng phát
triển công nghiệp bào chế, hóa dược, vắc xin, sinh phẩm y tế, ưu tiên thực hiện các biện
pháp sáp nhập, mua bán, mở rộng quy mô để nâng cao tính cạnh tranh; quy hoạch hệ
thống phân phối thuốc theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả; quy hoạch phát
triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phát triển vùng nuôi trồng cây,
con làm thuốc, bảo hộ, bảo tồn nguồn gen và phát triển những loài dược liệu quý hiếm,
đặc hữu;…
3. Giải pháp về thanh tra, kiểm tra và hoàn thiện tổ chức
4. Giải pháp về đầu tư: Đẩy mạnh huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước đầu tư để phát triển ngành dược; Nhà nước đầu tư, hỗ trợ phát triển hệ thống cung
ứng thuốc cho các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; khuyến khích đầu tư theo hình
thức hỗn hợp công tư (PPP) đối với dự án xây dựng nâng cấp, xây mới cơ sở nghiên cứu
dược; đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án có sử dụng đất để xây dựng nhà máy,
khu công nghiệp dược.
5. Giải pháp về hợp tác và hội nhập quốc tế: Tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm,
năng lực quản lý của các nước, Tổ chức y tế thế giới (WHO) và các tổ chức quốc tế để
phát triển ngành Dược Việt Nam; tăng cường hợp tác với các nước là bạn hàng truyền
thống của Việt Nam và các nước có nền công nghiệp dược phát triển.

Câu 2: Những yếu tố thành công cốt lõi


1. Sự hấp dẫn các nhà đầu tư

Thị trường Việt Nam 90 triệu dân với mức thu nhập bình quân đầu người đạt gần
1.900USD/năm, trong khi mức tiêu thu cho dược phẩm mới chỉ khoảng 35
USD/năm đang là một bệ phóng rất lớn cho ngành dược Việt Nam.
Ngày nay nhận thức của người dân Việt Nam về các loại dịch bệnh cũng được cải


dưới giá sàn mới được nhận ưu đãi riêng và các đại lý phải thanh toán tiền
mới được nhận hoa hồng. Nhờ đó Traphaco đã và đang sàng lọc toàn bộ
mạng lưới bán hàng hiện hữu một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó việc mở rộng và nâng cao chất lượng các cửa hàng, đại lý hiện hữu,
một số doanh nghiệp ngành được dược phẩm đang tăng cường các thương vụ
M&A với các tỉnh, nhằm khai thác hệ thống phân phối, bán hàng, đồng thời tạo
dựng các mối liên quan hệ với các cơ sở y tế mà các đơn vị này đã thiết lập và xây
dựng đến tận tuyến huyện, xã.
3. Bao phủ thị trường, chiếm lĩnh được từng phân khúc chỉ đạo

Dược Hậu Giang và Traphaco là “bá chủ thị trường” với những sản phẩm đặc
trưng và thực sự chiếm lĩnh được những phân khúc chủ đạo. Nếu như ở phía Nam,
Dược Hậu Giang là bá chủ thì Traphaco lại thống lĩnh thị trường miền Bắc. Trong
khi Dược Hậu Giang chọn nhắm vào nhóm sản phẩm kháng sinh, giảm đau và hô
hấp với chất lượng hợp lý và giá thành rẻ hơn nhiều so với thuốc ngoại thì Traphaco
lại tập chung vào nhóm các sản phẩm mang dáng dấp của thực phẩm chức năng có
nguồn gốc thiên nhiên.
Tận dụng được nguồn nguyên liệu cây đinh lăng sẵn có, nhà máy dược phẩm công
nghệ cao Traphaco CNC đã cho ra đời Hoạt Huyết Dưỡng Não, mang dấu ấn của
một bài thuốc cổ truyền trị các chứng đau đầu, giảm trí nhớ rất hay gặp ở người
trung niên. Tương tự, Boganic là một sản phẩm giúp giải độc gan cho người uống
nhiều bia rượu đã trở nên rất thành công ở Việt Nam, một quốc gia có lượng tiêu thụ
bia trên đầu người vào loại cao nhất châu Á.
4. Mức giá cạnh tranh, lợi nhuận cao

Bất chấp việc phải đầu tư nhiều cho chi phí bán hàng và marketing, lợi
nhuận ròng của Dược Hậu Giang vẫn nằm trong nhóm cao nhất ngành( từ 1820%). Lợi nhuận cao cho phép công ty có dòng tiền ổn định và dồi dào để đầu tư.
Hoạt động kinh doanh hiệu quả của Dược Hậu Giang còn được phản ánh rõ
nét qua tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tỉ lệ lợi nhuận thu được trên mỗi

phát triển ngành dược phẩm của Việt Nam.


6. Tính cạnh tranh của thị trường dược cao
- Thị trường dược Việt Nam được đánh giá là thị trường có tính cạnh tranh cao với các
nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, bởi nhu cầu khám chữa bệnh cũng như chi
phí bình quân tiền thuốc/ đầu người/ năm ngày càng tăng cao.
- Với cơ cấu dân số hơn 90 triệu dân, mỗi năm trung bình tăng 1 triệu người, mô hình
bệnh tật thay đổi, nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng cao, mức sống cải thiện, điều kiện tiếp
cận dịch vụ y tế được cải thiện, cơ chế chính sách thoáng hơn, thị tr ường dược Việt Nam
đang là điểm nóng trong khu vực.
- Tính trong năm 2012 có khoảng hơn 100 công ty dược phẩm tại Việt Nam, gần 10%
trong số đó có vốn đầu tư nước ngoài, 4% khác hoạt động dưới hình thức liên . Dẫn đến
sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước, như một số công ty Dược Hậu
Giang, Traphaco,công ty hợp tác với khối ngoại như Domesco, Imexpharm... Khi số
lượng doanh nghiệp đông và quy mô tương đương thì áp lực cạnh tranh trong ngành tăng
cao.
- Với nhu cầu tiêu dùng lớn, lượng nhà cung ứng đa dạng đòi hỏi các công ty phải có tầm
nhìn về sản xuất sản phẩm phù hợp, có chiến lược marketing, đồng thời cung cấp sản
phẩm có giá thành hợp lý, chất lượng tốt, xây dựng thương hiệu uy tín để thu hút khách
hàng.
7 . Trình độ khoa học, kỹ thuật
Từ giữa những năm 1990 cho tới nay, nhờ thay đổi cơ chế quản lí và tác dộng tích cực
của cơ chế thị trường, nền công nghiệp dược Việt Nam có những bước tiến vượt bậc.
hàng loạt các dây chuyển sản xuất thuốc với công nghệ hiện đại đã được đầu tư. Đến
tháng 6/2011 đã có 103 nhà máy sản xuất dược phẩm đạy GMP-WHO trong đó có một
vài nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP châu Âu, GMP Nhật Bản sản xuất 919 triệu USD dược
phẩm ( số liệu đến tháng 12 năm 2010) những con số này chứng minh cho chất lượng
thuốc nội bởi khi đạt chuẩn GMP nghĩa là thuốc sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩn khu



 Dựa vào loại sản phẩm có thể chia thành nhóm chiến lược sau:

Chuyên về Tân Dược
1. Công ty cổ phần dược

Chuyên về Đông dược
1. Công

1. Công

2.

2.

Hậu Giang
2. Công ty cổ phần xuất

3.
4.
5.
6.
7.

nhập
khẩu
Y
tế
DEMESCO
Công ty cổ phần dược

Xuân Quang
Công ty đông dược
Bình Đông
Công ty đông dược Lâm
Vĩnh Sanh

Chuyên về các sản phẩm chức
năng

3.
4.
5.
6.
7.

ty cổ phần
VIMEDIMEX
Công ty cổ phần dược
Hà Tây
Công ty cổ phần dược
Bến Tre
Công ty cổ phần chức
năng IMC
Công ty thực phẩm chức
năng Cường Dương
Công ty thực phẩm chức
năng An Khánh
Công ty thực phẩm chức
năng Vision


3. Công ty cổ phần PYMEPHARCO



Nhóm dược phẩm trong nước: Nhóm chiến lược này đầu tư phát triển mạnh
thị phần trong nước, chính vì thế các công ty trong nhóm này R&D thấp và
nhấn mạnh vào cạnh tranh giá. Họ theo đuổi chiến lược rủi ro thấp , rủi ro
thấp vì không đầu tư hàng triệu USD vào R&D. Hơn nữa, nguyên nhiên liệu
để sản xuất không quá khó để tìm kiếm hay chế biến, chủ yếu là có sẵn nên

giá thành của nhóm này thấp.
• Nhóm dược phẩm ngoài nước: Đây là nhóm chiến lược mà các công ty
trong nhóm này đều liên kết, hợp tác , có cổ đông lớn là nước ngoài. Các
công ty trong nhóm này đang theo đuổi các chiến lược rủi ro cao/ thu nhập
cao. Gọi là rủi ro cao bởi vì nghiên cứu thuốc cơ bản là rất khó khăn và tốn
kém. Để đưa ra thị trường một loại thuốc mới có thế tốn từ 100-300 triệu
USD cho R&D với gần một thập kỉ để nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng.
Chiến lược cũng có thu nhập cao bởi vì chỉ cần một thành công có thể được
cấp bản quyền, cho phép người phát minh thời gian độc quyền 17 năm về
sản xuất cà bán sản phẩm đó. Điều này để người thuyết minh đặt giá rất cao
đối với thuốc có bản quyền và cho phép công ty có thu nhập hàng triệu thâm
chí là hàng tỉ USD trong suốt thời gian giữ bản quyền.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status