ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………………..
TRẦN VIỆT DŨNG
SÁNG TẠO VÀ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………………..
TRẦN VIỆT DŨNG
SÁNG TẠO VÀ VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng &
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số
: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Bảng 3.2:
Nhân tố thúc đẩy sáng tạo và nhân tố kìm hãm sáng tạo
Bảng 3.3:
Nhân tố thuận lợi của sáng tạo và nhân tố cản trở sáng tạo
Bảng 4.1:
Kết quả tốt nghiệp của sinh viên ĐHHHVN
Bảng 4.2:
Nghiên cứu khoa học của sinh viên ĐHHHVN
Bảng 4.3:
Yêu cầu đối với sinh viên mới tốt nghiệp ĐHHHVN
Bảng 4.4:
Tần suất đưa ra sáng kiến, ý tưởng sáng tạo của sinh viên
Bảng 4.5:
So sánh số lượng học hàm, học vị của 3 Trường Đại học
Bảng 4.6:
NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA CON NGƢỜI ......................... 78
3.1. Khái niệm “Năng lực sáng tạo” ................................................................. 78
3.1.1. Định nghĩa khái niệm “Năng lực sáng tạo” ....................................... 78
3.1.2. Mức độ sáng tạo .................................................................................. 83
3.2. Nâng cao năng lực sáng tạo của con người: những yếu tố làm cơ sở và các
phương pháp chung .......................................................................................... 86
3.2.1. Những yếu tố làm cơ sở nâng cao toàn diện năng lực sáng tạo của con
người ............................................................................................................. 86
3.2.2. Các phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người 95
Chƣơng 4. NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM HIỆN NAY ....................... 103
4.1. Năng lực sáng tạo của sinh viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện
nay: quan điểm, thực trạng, nguyên nhân ....................................................... 103
4.1.1. Một số quan điểm về đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân ... 103
4.1.2. Về thực trạng và nguyên nhân .......................................................... 106
4.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học
Hàng hải Việt Nam hiện nay .......................................................................... 115
4.2.1. Các giải pháp góp phần hình thành tư duy sáng tạo và động cơ sáng
tạo ở sinh viên ............................................................................................. 117
4.2.2. Các giải pháp có tác dụng gián tiếp trong việc nâng cao năng lực sáng
tạo của sinh viên.......................................................................................... 122
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................................ 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 137
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 145
Chỉ từ sau Thế chiến thứ hai, cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ở
những nước công nghiệp đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu phải giải quyết nhanh
chóng và hiệu quả các vấn đề nảy sinh trên con đường phát triển. Nhờ vậy,
Heuristics đã hồi sinh, chuyển sang thời kỳ phát triển mới theo cả chiều rộng lẫn
chiều sâu. Bắt đầu từ đây nhiều tổ chức, trung tâm nghiên cứu về sáng tạo,
phương pháp luận sáng tạo ra đời và phát triển ở Mỹ, Tây Âu, Liên Xô (cũ)...
Như vậy, hiện nay Sáng tạo học nói chung, Phương pháp luận sáng tạo nói riêng
đã được nghiên cứu, phổ biến, ứng dụng ở nhiều nước phát triển. Ở Việt Nam,
năm 1991, được sự chấp thuận của lãnh đạo Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, Trung tâm Sáng tạo khoa học - kỹ thuật (TSK) ra đời và trở thành cơ sở
chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu Phương pháp luận
sáng tạo và đổi mới với quy mô nhỏ, hẹp. Nhìn chung, Sáng tạo học cả về lý
thuyết lẫn thực tiễn chưa được phát triển, phổ biến ở Việt Nam.
Từ xưa đến nay, người Việt Nam vốn có tư chất thông minh - sáng tạo nhưng
do hoàn cảnh lịch sử (luôn phải chống lại trước sự bành trướng, xâm lăng từ
phương Bắc - kể cả hiện nay) mà người Việt chưa có điều kiện, môi trường để
phát huy, phát triển năng lực sáng tạo của mình. Bên cạnh đó, qua 30 năm đổi
mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, thế và lực của đất nước ngày càng tăng cao.
Tuy nhiên, nền kinh tế của Việt Nam vẫn là một nền kinh tế mang tính chất gia
công, kém hiệu quả và đang đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước
khác trong khu vực và trên thế giới, chịu sự thách thức của “bẫy thu nhập trung
bình”. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định mô hình phát triển kinh tế
chuyển từ xây dựng nền kinh tế theo chiều rộng sang kết hợp với phát triển kinh
tế theo chiều sâu. Muốn vậy, cần phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công
nghệ, trong đó xây dựng nền giáo dục sáng tạo và đẩy mạnh sự sáng tạo trong
khoa học - công nghệ là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng suất lao động xã
hội, tăng cường hàm lượng chất xám trong sản phẩm và tăng hiệu quả kinh tế ở
phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người cùng với việc khảo
sát thực trạng (và nguyên nhân) năng lực sáng tạo của sinh viên Hàng hải hiện
nay, từ đó nêu các giải pháp nâng cao năng lực sáng tạo cho đối tượng này.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đó, luận án cần giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thứ nhất: làm rõ bản chất của sáng tạo thông qua việc xác định và phân tích
khái niệm sáng tạo; những bộ phận hợp thành của hoạt động sáng tạo; các giai
đoạn, đặc trưng và những thuộc tính của hoạt động sáng tạo.
- Thứ hai: làm rõ bản chất của năng lực sáng tạo qua việc xác định và phân
tích khái niệm năng lực sáng tạo, cấu trúc của năng lực sáng tạo, các cấp độ của
năng lực sáng tạo, mức độ sáng tạo.
- Thứ ba: từ sự phân tích toàn diện các nhân tố làm cơ sở, luận án xác định
các phương pháp chung nâng cao năng lực sáng tạo của con người.
- Thứ tư, từ cơ sở lý luận ở trên, luận án thực hiện khảo sát thực trạng,
nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của sinh
viên trường Đại học Hàng hải Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về sáng tạo và năng lực sáng tạo
của con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, lấy đó làm cơ sở
nghiên cứu về năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt Nam
hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án không nghiên cứu sáng tạo như một diễn trình
lịch sử và cũng không nghiên cứu nó ở một lĩnh vực riêng biệt, mà dưới góc độ
triết học luận án nghiên cứu sáng tạo, năng lực sáng tạo của con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội ở tầm khái quát. Đối với năng lực sáng tạo của sinh
viên Hàng hải Việt Nam, luận án chỉ khảo sát nó từ năm 2013 đến nay. Luận án
cũng không quá đi sâu vào thực trạng, nguyên nhân yếu kém ở năng lực sáng tạo
của sinh viên Hàng hải Việt Nam, mà chủ yếu đi từ lý luận để xây dựng các nhóm
Đại học ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo
Dưới góc độ triết học, tác giả của luận án tiến hành nghiên cứu một số vấn đề
liên quan đến sáng tạo một cách khái quát và toàn diện như: định nghĩa khái niệm
sáng tạo, đặc điểm của sáng tạo, vấn đề sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, ý tưởng, ý
tưởng sáng tạo, môi trường sáng tạo, động cơ sáng tạo, tư duy sáng tạo, các giai
đoạn sáng tạo, mức độ sáng tạo, các loại hình sáng tạo, đặc trưng của sáng tạo.
Những vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất của sáng tạo.
Bên cạnh đó, việc tìm hiểu năng lực sáng tạo của con người và phương hướng
nâng cao năng lực sáng tạo có vai trò đặc biệt quan trọng về phương diện lý
thuyết và ứng dụng của Sáng tạo học. Bởi nghiên cứu về sáng tạo, xét đến cùng
cũng chỉ nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người.
Sau đây là các công trình liên quan đến sáng tạo nói chung và năng lực sáng
tạo của con người nói riêng.
* Các công trình mang tính khái quát triết học về sáng tạo, năng lực sáng tạo
Sáng tạo với tính cách là môn khoa học đã ra đời từ rất sớm, khoảng từ thế
kỷ III nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX nhất là sau Thế chiến thứ hai lý luận về sáng
tạo và phương pháp luận sáng tạo mới thực sự chuyển mình phát triển.
Các nhà kinh điển C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin chưa trực tiếp bàn và
luận giải về sáng tạo, năng lực sáng tạo của chủ thể, tuy nhiên các ông đã nêu các
ý kiến khoa học có tính chất là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trực tiếp
cho những quan điểm về sáng tạo trên lập trường mácxít trong những công trình
tiêu biểu như: Luận cương về Phoiơbắc được C. Mác viết năm 1845; Hệ tư tưởng
Đức do C. Mác và Ph. Ăngghen viết chung năm 1845 - 1846; Tuyên ngôn của
học của sáng tạo. Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu tương đối công phu những
quan niệm trước Mác và ngoài mácxít về sáng tạo trên bình diện triết học. Chẳng
hạn, tác giả cho rằng các nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại đã “... gắn bản chất của
sự sáng tạo với các quá trình diễn biến, chuyển hóa đó và cuối cùng dẫn đến một
trạng thái tồn tại nhất định như là kết quả của sáng tạo... Đặc biệt, người Cổ đại
Hy Lạp đã thần thánh hóa hoạt động sáng tạo trong nghệ thuật” [44, tr.14]. Thời
Trung cổ, hoạt động sáng tạo hoàn toàn mang tính tôn giáo. Thời kỳ Phục hưng,
bản chất của sáng tạo đã được trả lại cho con người. Tuy nhiên, sự sáng tạo được
đề cập chủ yếu trong lĩnh vực nghệ thuật “ở thời kỳ này, sự sáng tạo luôn được
thể hiện như một nghệ thuật, mà bản chất đặc trưng của nó là ở tính trực quan”
[44, tr.16]. Thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII - XVIII) cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học - kỹ thuật, triết học Khai sáng đã lý giải sự sáng tạo như là kết
quả khác thường của sự kết hợp những yếu tố thực tại “sáng tạo không chỉ là sự
phát minh ra cái mới qua một quá trình suy tư, mà còn là quá trình gắn bó lý trí
với khả năng thao tác kỹ thuật, tạo ra sản phẩm cụ thể” [44, tr.17]. Trong Triết
học Cổ điển Đức (giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX), bản chất của sáng tạo
được các nhà triết học Cổ điển Đức xác định là “sự tự hoạt động thực tiễn - tinh
thần, sự tự hoạt động mang các đặc trưng cơ bản là tính hợp lý, tự do, tính phổ
biến, tính toàn vẹn, mối liên hệ hữu cơ với sự phát triển của con người... còn tính
mâu thuẫn của hoạt động này là nguồn gốc nội tại của sự tự phát triển của sáng
tạo” [44, tr.22]. Tư tưởng triết học phương Tây hiện đại (cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX) xem sáng tạo như một khả năng ưu việt trong lĩnh vực hoạt động khoa
học và kỹ thuật. Ở phương Đông, quan niệm về sáng tạo còn mờ nhạt, nói chung
chưa có các học thuyết về sáng tạo…
Tóm lại, trong công trình trên, tác giả Lê Huy Hoàng đã nghiên cứu khá hệ
thống sự phát triển quan niệm về sáng tạo trong lịch sử dưới góc độ triết học, đặc
biệt tác giả đã hệ thống hóa những quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin về sáng tạo để cuối cùng đưa ra quan niệm mácxít về sáng tạo và bản
luận về sáng tạo thì vẫn còn thiếu tính chỉnh thể của một lý thuyết hoàn chỉnh. Về
năng lực sáng tạo của con người, tác giả đề cập ở khía cạnh đo lường năng lực
sáng tạo. Việc đo lường có thể bằng nhiều cách, trong cuốn sách tác giả trình bày
sự đo lường năng lực sáng tạo thông qua các trắc nghiệm. Về thực chất của sự đo
lường, tác giả nhận định “Thực chất của việc đo lường năng lực sáng tạo là việc
đánh giá năng lực sáng tạo theo chuẩn đo lường được xác định và thiết lập trước
một cách khoa học” [89, tr.97] , đây là ý kiến xác đáng mà luận án có thể tiếp thu
và phát triển. Có thể nói, cuốn sách là một trong những tài liệu tham khảo quan
trọng cho luận án, cung cấp nhiều tư liệu cần thiết để có thể tổng hợp và kế thừa
những yếu tố hợp lý.
Ngoài ra, còn có cuốn Giáo trình Tâm lý học sáng tạo của Phạm Thành
Nghị, xuất bản năm 2012. Với cách làm bài bản tập trung khảo cứu chủ yếu các
tác phẩm bằng tiếng Anh, tác giả không chỉ trình bày những vấn đề của sáng tạo
trên diện rộng dưới góc độ của Tâm lý học mà còn trình bày cơ sở sinh học và cơ
sở xã hội của sáng tạo. Điều quan trọng hơn công trình đã đề cập đến gần như tất
cả những nội dung về sáng tạo mà luận án quan tâm nghiên cứu như định nghĩa
sáng tạo, đặc điểm sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, ý tưởng sáng tạo, động cơ
sáng tạo... Tuy nhiên, ở công trình nghiên cứu này các quan điểm lý luận về sáng
tạo chưa được định hình một cách hệ thống, chỉnh thể. Về năng lực sáng tạo của
con người, tuy chưa đưa ra định nghĩa khái niệm “năng lực sáng tạo” nhưng tác
giả có sự tổng kết, nghiên cứu sâu về vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của con
người. Năng lực sáng tạo của mỗi người đều có thể nâng cao, phát triển được
thông qua đào tạo, tạo dựng môi trường và nâng cao động lực. Tác giả nhận định
“phát triển năng lực sáng tạo thông qua việc tăng cường ba thành tố trong cấu trúc
hoạt động giải quyết vấn đề mới: động cơ, hành động lôgíc và hành động trực
giác” [74, tr.294]. Nhìn chung, đây là công trình quan trọng đối với luận án vì đã
cung cấp nhiều tư liệu về những vấn đề của sáng tạo, năng lực sáng tạo với không
ít những yếu tố tích cực mà luận án có thể kế thừa và phát huy, hơn nữa tác giả đã
triển và mở rộng TRIZ ở Việt Nam. Ông đã viết bộ sách Sáng tạo và đổi mới gồm
10 tập xuất bản trọn bộ năm 2012. NCS thấy rằng, bộ sách này lấy TRIZ làm trục
trung tâm và mở rộng theo các hướng: 1/ Về phía các nguồn kiến thức của TRIZ;
2/ Về phía các lĩnh vực không phải là kỹ thuật để thấy được phạm vi áp dụng
rộng lớn của TRIZ; 3/ Về phía các phương pháp, các phương pháp luận sáng tạo
khác đang có hiện nay để người học có thể cảm nhận khả năng của TRIZ, nếu
được phát triển tiếp, sẽ trở thành lý thuyết rộng lớn, có thể bao quát những cái
hiện có.
Trong 10 tập đó, có 3 tập đầu tiên trực tiếp bàn về những vấn đề của sáng
tạo, là những tập sau.
Tập 1: Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới. Đây là tập có
nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến sáng tạo, trong đó tác giả đã trình bày một
số khái niệm và nội dung cơ bản về sáng tạo như: định nghĩa khái niệm sáng tạo,
vấn đề, các giai đoạn của sáng tạo, mức độ sáng tạo, tư duy sáng tạo. Bên cạnh
một số hạn chế nhất định (chủ yếu do lĩnh vực nghiên cứu chính của TRIZ là lĩnh
vực khoa học kỹ thuật) nhìn chung quan niệm của tác giả về những khái niệm này
là một trong những cơ sở để luận án đưa ra quan niệm đầy đủ và khái quát hơn.
Tập 2: Thế giới bên trong con người sáng tạo trình bày các hiện tượng thuộc
thế giới bên trong con người và ảnh hưởng của chúng lên các hành động của cá
nhân. Hơn nữa, tập sách đã xem xét tư duy con người trong ngữ cảnh mô hình
nhu cầu - hành động và bàn về việc điều khiển các hiện tượng thuộc thế giới bên
trong con người nhằm khai thác tối ưu năng lực của tư duy. Đây là tài liệu tham
khảo cần thiết cho NCS nghiên cứu về chủ thể sáng tạo.
Tập 3: Tư duy lôgíc, biện chứng và hệ thống. Ở tập này, bên cạnh việc trình
bày các quy tắc của lôgíc hình thức và phép biện chứng, thì điều đáng quan tâm
hơn là tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa phát triển và sáng tạo, các loại mâu
thuẫn nảy sinh trong giải quyết vấn đề và ra quyết định. Đây là tài liệu tham khảo
cho NCS khi nghiên cứu về biện chứng của hoạt động sáng tạo.
học của nhiều tác giả (Ngô Kiều Nhi, Dương Nguyên Vũ, Nguyễn Nam Hải…)
xuất bản năm 2012 có 2 nội dung chính là về tư duy sáng tạo và phương pháp
nghiên cứu khoa học. Về tư duy sáng tạo, nhóm tác giả tập trung đề cập đến vấn
đề tạo ra ý tưởng mới trong khoa học và công nghệ. Để tạo ra ý tưởng mới, theo
nhóm tác giả chúng ta cần phải: phá vỡ tư duy khuôn mẫu; kết nối sự không kết
nối; thay đổi nhận thức và dùng sự cộng hưởng. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã
đưa ra cách thức rèn luyện để trở thành một người sáng tạo. Nhìn chung, ở công
trình này NCS có thể kế thừa một số yếu tố hợp lý trong quan niệm về tư duy
sáng tạo, về cách thức nâng cao năng lực sáng tạo của con người.
Có một số công trình tuy chưa trực tiếp bàn về năng lực sáng tạo nhưng đã
đề cập đến một số cách thức nâng cao năng lực sáng tạo của con người, đó là:
- Cuốn Đánh thức tiềm năng sáng tạo của Nguyễn Minh Triết xuất bản năm
2001. Bên cạnh việc giới thiệu về tính ì tâm lý và tư duy sáng tạo, cuốn sách chủ
yếu giới thiệu khả năng ứng dụng các thủ thuật sáng tạo (trong 40 thủ thuật) của
TRIZ (chẳng hạn nguyên tắc Kết hợp, nguyên tắc Bất đối xứng, nguyên tắc Phân
nhỏ…) gắn với những câu đố và tình huống minh họa góp phần đánh thức tiềm
năng sáng tạo của người đọc. Có thể nói, tác phẩm này cho thấy để nâng cao năng
lực sáng tạo thì không chỉ phải nâng cao nãng lực tý duy sáng tạo mà còn phải
loại bỏ tính ỳ tâm lý.
- Cuốn Hãy trở thành người thông minh sáng tạo của Lê Nguyên Long xuất
bản năm 2006 đã chủ yếu tiếp cận các vấn đề lý luận sáng tạo thông qua tìm hiểu
bản thân hoạt động sáng tạo của các nhà phát minh nổi tiếng trong những lĩnh vực
văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kĩ thuật khác nhau với mục đích cung cấp cho
người đọc những bài học sinh động, gợi ý độc giả đi theo con đường đầy lôi cuốn
như những người xưa. Bên cạnh đó, tác giả đã giới thiệu một số phương pháp
sáng tạo như phương pháp tương tự, phương pháp “quay trở lại” các thành tựu cũ,
phương pháp lật ngược và nhóm phương pháp tìm tòi ơrixtic. Nhìn chung, cuốn
sách là tư liệu để NCS hiểu hơn về một số phẩm chất của các cá nhân có năng lực
duy), từ đó tư duy sáng tạo kiến trúc được hiểu là năng lực hoạt động tinh thần để
khám phá và sáng tạo ra nét mới, nét độc đáo trong thiết kế kiến trúc.
- Luận án tiến sĩ Nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp
phân đội nhân dân Việt Nam hiện nay năm 2004 của Đào Văn Tiến đã ít nhiều đề
cập đến khái niệm, cấu trúc năng lực tư duy sáng tạo và biểu hiện của nó ở đội
ngũ sĩ quan cấp phân đội. Theo tác giả năng lực tư duy sáng tạo là tổng hợp
những khả năng ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa, xử lý
thông tin trong quá trình phản ánh tạo ra tri thức mới về đối tượng để chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người.
- Luận án tiến sĩ Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con
người năm 2005 của Nguyễn Ngọc Thu. Tác giả làm rõ vai trò của văn hoá thẩm
mỹ đối với sự phát triển năng lực sáng tạo của con người, phân tích những
phương diện tác động căn bản của văn hoá thẩm mĩ đến sự phát triển năng lực
sáng tạo của con người.
Ngoài các công trình đã được in thành sách, những vấn đề về sáng tạo và liên
quan đến sáng tạo thẩm mỹ (nghệ thuật) cũng đã được nhà nghiên cứu Nguyễn
Văn Huyên quan tâm viết thành một số bài đăng trên tạp chí Triết học như:
- Nguyễn Văn Huyên (1988), “Văn hoá thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo của
con người”, Tạp chí Triết học (2), tr.39 - 45. Khi xác định vai trò của văn hóa
thẩm mỹ đối với sáng tạo, tác giả cho rằng cái cốt lõi nhất khi nghệ thuật tác động
đến con người là làm cho trong năng lực cá nhân phát triển tất cả các tiềm năng:
tiềm năng nhận thức, tiềm năng tạo dựng, tiềm năng định hướng - đánh giá và
tiềm năng giao lưu. Trình độ phát triển của các tiềm năng đó quy định sức mạnh
của tính tích cực ở cá nhân trong toàn bộ các loại hoạt động sáng tạo.
- Nguyễn Văn Huyên (1995), “Quá trình sáng tạo và sự phát triển nhân cách”,
Tạp chí Triết học (3), tr.9 - 12. Tác giả cho rằng, sáng tạo là một trong những
hình thức cao nhất trong việc khẳng định sự tồn tại và sự phát triển của chủ thể
sáng tạo về mặt nhân cách. Đặc trưng chủ yếu của quá trình sáng tạo là khi đạt
Đó là những tư liệu rất cần thiết để NCS kế thừa những hạt nhân hợp lí và tiếp tục
hoàn thiện hơn quan điểm về sáng tạo nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng.
* Các công trình nghiên cứu về tư duy dưới góc độ Sáng tạo học
Trong sáng tạo, tư duy có vai trò quan trọng bậc nhất, không thể có sáng tạo
mà không có tư duy, không cần đến tư duy. Có nhiều công trình về tư duy ở góc
tiếp cận triết học và ở các góc độ tiếp cận hẹp hơn khác nhau. Một số công trình
tiêu biểu về tư duy có thể kể ra như sau:
- Những tác phẩm làm rõ, sâu sắc hơn quan điểm duy vật biện chứng của các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về tư duy, nhận thức luận và lôgic học
như: Nguyên lý lôgíc biện chứng của M.M. Rôdentan dịch sang Tiếng Việt năm
1962; Phương pháp nhận thức biện chứng của A.P. Septulin dịch sang tiếng Việt
năm 1987 bởi Nguyễn Đình Lâm và Nguyễn Thanh Thủy; Một số vấn đề về nhận
thức quy luật và mâu thuẫn của Nguyễn Ngọc Hà xuất bản năm 1998; Các dạng
khái quát hóa trong dạy học của V.V. Đavưđôv dịch sang Tiếng Việt năm 2000;
Lôgíc học biện chứng của E.V. ILencôv do Nguyễn Anh Tuấn dịch xuất bản bằng
tiếng Việt năm 2003; Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện
nay: một số vấn đề lý luận (Nguyễn Ngọc Hà chủ biên) xuất bản năm 2011.
Những tác phẩm trên giúp NCS hiểu rõ ràng hơn quan niệm mác xít về tư
duy và một số vấn đề liên quan.
Trong lịch sử triết học quan niệm duy tâm tiêu biểu nhất về tư duy có thể kể
đến là quan niệm của nhà triết học duy tâm biện chứng lỗi lạc G.W.F. Hegel được
thể hiện trong các tác phẩm như Hiện tượng học tinh thần được Bùi Văn Nam
Sơn dịch sang tiếng Việt và chú giải năm 2005, cuốn Bách khoa thư các khoa học
triết học I : Khoa học Lôgíc cũng do dịch giả nêu trên thực hiện năm 2008. Với
Hegel tư duy là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong hoạt động của con người và
xã hội.
Một số công trình nghiên cứu về tư duy được thực hiện theo các hướng tiếp
cận khác nhau. Điều này xuất hiện yêu cầu cần phải tổng hợp, thống nhất các
minh nội tâm và định nghĩa trí thông minh “là khả năng ứng phó thành công với
hoàn cảnh, điều kiện mới và năng lực học hỏi được từ kinh nghiệm đã trải qua
của cá nhân khác” [2, tr.17]. Vậy có mối liên hệ gì giữa sáng tạo và trí thông
minh, đây là vấn đề quan trọng mà luận án cũng cần giải quyết.
- Cuốn Khinh - Trọng quyển II (Cơ sở lý thuyết) của Tô Duy Hợp xuất bản
năm 2012. Từ việc nghiên cứu và hóa giải song đề giữa lôgíc hình thức và lôgíc
biện chứng, tác giả xây dựng, phân tích cặp phạm trù khinh - trọng, nguyên tắc
khinh - trọng và các khung mẫu khinh - trọng nhằm góp phần thấu hiểu và hóa
giải các song đề (chính đề hoặc/và phản đề) nói chung, song đề lôgíc hình thức và
lôgíc biện chứng nói riêng.
Như vậy, những công trình nghiên cứu trên cho thấy cần phải có cách hiểu về
tư duy một cách toàn diện và khái quát hơn trong đó cần phải tổng hợp được
những yếu tố tích cực của các quan điểm khác nhau về tư duy.
Bên cạnh đó, có những công trình nghiên cứu về cách thức hiệu quả của tư
duy đưa ra ý tưởng, lời giải của vấn đề. Đây là vấn đề quan trọng của tư duy, của
hoạt động sáng tạo. Có nhiều cuốn sách về vấn đề này như:
- Cuốn Luyện trí sáng tạo của Samm.S. Baker xuất bản bằng tiếng Việt năm
2001, Dương Hội và Tạ Văn Doanh biên dịch, đã giới thiệu phương pháp sáng tạo
sáu bước. Trong đó, đáng chú ý ở bước 5: việc để cho các sự kiện và các ý tưởng
“âm ỉ” sôi trong tâm trí đã đề cao vai trò của tiềm thức và cả vô thức đối với hoạt
động của tư duy hình thành ý tưởng.
- Cuốn 6 chiếc mũ tư duy của Edward De Bono xuất bản bằng tiếng Việt năm
2003, người dịch Thanh Châu, đã đưa ra phương pháp tư duy giải quyết vấn đề
chủ yếu được áp dụng trong việc giải quyết vấn đề chung của tập thể ở các công
ty, tổ chức… Tác giả đề xuất phương pháp tư duy song song cùng với trình tự tư
duy theo biểu tượng của 6 chiếc mũ (mũ trắng, mũ đỏ, mũ đen, mũ vàng, mũ lục,
mũ lam) được coi là phương pháp tương đối hiệu quả.
- Cuốn Suy nghĩ - hành động sáng tạo trong kinh doanh của Mỹ Ly và Lan