ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TÔ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ
LÂM SÀNG BỆNH SÁN DÂY Ở CHÓ NUÔI TẠI MỘT
SỐ HUYỆN MIỀN NÚI CỦA TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TÔ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ
LÂM SÀNG BỆNH SÁN DÂY Ở CHÓ NUÔI TẠI MỘT
SỐ HUYỆN MIỀN NÚI CỦA TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ MINH
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân dân tại địa điểm lấy mẫu thí
nghiệm, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên,
khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Tô Minh Nguyệt
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................... viii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ...............................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................................3
1.1.1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó................................................... 3
1.1.2. Bệnh do sán dây ký sinh gây ra ở chó ............................................................. 15
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................23
1.2.1. Tình hình nghiên trong nước ........................................................................... 23
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................ 25
3.1.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở chó qua mổ khám ................................... 36
3.1.2. Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở
đường tiêu hoá chó tại ba huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh .............................. 37
3.1.3. Tỷ lệ cường độ nhiễm sán dây ở chó theo thành phần loài (qua mổ khám) ....... 40
3.1.4. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó tại một số địa phương (qua xét nghiệm phân) ......... 41
3.1.5. Tỷ lệ nhiễm sán dây chó theo mùa vụ (qua xét nghiệm phân) ....................... 43
3.1.6. Tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó (qua xét nghiệm phân) ............................. 44
3.2. Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó ...........................................46
3.2.1. Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh sán dây .......................... 46
3.2.2. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa của chó bị bệnh sán dây ....................... 48
3.2.3. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán dây ........................ 50
3.3. Thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh ...57
3.3.1. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp ..................... 57
v
3.3.2. Độ an toàn của thuốc tẩy sán dây cho chó ...................................................... 59
3.3.3. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng .................... 61
3.3.4. Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở 3 huyện tỉnh
Quảng Ninh ............................................................................................................... 64
3.4. Đề xuất biện pháp phòng bệnh sán dây cho chó ................................................65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................................................... 67
1. Kết luận .................................................................................................................67
1.1. Về đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây chó tại ba huyện miền núi tỉnh
Quảng Ninh............................................................................................................... 67
1.2. Về bệnh lý và lâm sàng bệnh sán dây chó ......................................................... 67
1.3. Về thử nghiệm thuốc tẩy sán dây cho chó và đề xuất biện pháp phòng
trị bệnh ...................................................................................................................... 68
2. Đề nghị ..................................................................................................................68
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN .............................. 69
và chó bị bệnh sán dây ............................................................................. 51
Bảng 3.10. Công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị bệnh sán dây..................... 54
Bảng 3.11. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện hẹp ........................... 58
Bảng 3.12. Tỷ lệ chó an toàn sau khi dùng thuốc ..................................................... 60
Bảng 3.13. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho chó trên diện rộng .......................... 62
Bảng 3.14. Sử dụng thuốc đặc hiệu tẩy sán dây đại trà cho chó ở Quảng Ninh ....... 64
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua mổ khám ........................................ 37
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây chó qua xét nghiệm phân ............................. 43
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo mùa vụ ................................................. 44
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán dây theo tuổi chó ................................................ 46
Hình 3.5. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán
dây (đợt I) ................................................................................................... 53
Hình 3.6. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của chó bị bệnh sán
dây (đợt II) .................................................................................................. 53
Hình 3.7. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị
bệnh sán dây (đợt I) .................................................................................... 56
Hình 3.8. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của chó khỏe và chó bị
bệnh sán dây (đợt II)................................................................................... 57
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chó được coi là loài vật nuôi sớm nhất của con người, chúng được sử dụng để
phục vụ rất nhiều mục đích của con người như trông nhà, kéo xe, chăn cừu,…. Đặc
biệt hơn, nhờ vào giác quan nhạy bén, sự thông minh và trung thành mà chúng còn
có hiệu quả cao.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm
các nghiên cứu về bệnh sán dây ở chó và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn
nuôi hiện nay ở nước ta.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của sán dây ký
sinh ở đường tiêu hóa chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ
gia đình nuôi chó ở Quảng Ninh và các địa phương khác.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trừ bệnh sán dây
cho chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn, bảo vệ sức khỏe người và vật nuôi.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
1.1.1.1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học
Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước.
Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9] so với các nhóm giun sán khác thì sán
dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn
chưa được đầy đủ.
Năm 1870, Cande J. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum
tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình
nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên
cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên
cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã.
Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và thú
(Bloch, 1780), Multiceps multiceps (Leske, 1780), Echinococcus granulosus
(Batcah, 1786), Mesocestoides lincolus (Goeze, 1782).
Tuy nhiên, việc mô tả hình thái các loài sán dây này còn có nhiều thiếu sót,
một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam. Cande J. (1870) là người đầu tiên
mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người (Nam Bộ). Sau này
một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái và Đặng Văn Ngữ, 1970;
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống
Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum
mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên
không có sự mô tả loài. Theo Yamaguti (1959), loài Diphyllobothrium mansoni là
tên đồng vật của loài Spirometra erinacei-europaei thuộc giống Spirometra (họ
Diphyllobothriidae).
Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà,
cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans. Theo Yamaguti (1959), loài này
thuộc giống Spirometra.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [10] cho biết, ở Việt Nam, hiện loài
Diphyllobothrium mansoni và Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại
và không có mẫu. Cũng trong tài liệu này, tác giả đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân, tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được
hoàn thành.
Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sâu sắc tới giảng
viên hướng dẫn: TS. Lê Minh đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi
- Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã
Vị trí ký sinh
Hà Nội, Bắc Bộ, Trung Bộ
Ruột non
Hà Nội (1928), Bắc Bộ
Ruột
Diphllobothrium reptans
(Dies, 1850)
Dipylidium caninum
Bắc Bộ, Nghệ An, Lạng Sơn, Quảng
(Linnéu, 1758)
Ninh
Taenia hydatigena (Pallas,
Bắc bộ (1925), Hà Nội (1927)Các
1766)
tỉnh phía Bắc (1965, 1967)
Taenia pisiformis (Bloch,
Bắc Bộ
Ruột
Mesocestoides lincolus
(Goeze, 1782)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], hiện đã biết hơn 30 loài sán
dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo, chúng đều thuộc bộ
Cyclophyllidea và Pseudophyllidea.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các
thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004) [1].
7
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung
Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê
và cs (1996) [19] cho biết:
Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng
màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng chia thành ba
phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau).
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích
thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm,
nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh
bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc
bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là đặc trưng của sán dây bậc
cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai
hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ số đơn vị đến vài trăm móc.
Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài.
hệ sinh dục đực teo dần còn lại các cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng được
chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại
mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành
ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông gai nằm trong
nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở
ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh
trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông gai và
lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau.
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng,
ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có
hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước. Trong
buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng trứng có
ống gắn nối với âm đạo mở ra ở huyệt sinh dục. Ống này phình rộng ra gọi là túi
nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao
noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng
trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình
9
thành trứng. Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong
ootyp trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung. Cấu tạo tử cung
của sán dây rất khác nhau. Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những
ống cong dẫn từ ootyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt. Ở những đốt sán
dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng. Ở sán dây
bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài. Ở những sán dây này tử
cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa
trứng. Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt. Quá trình này
thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra
ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới
thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh. Ở các đốt già thân tử cung có 5 - 10 nhánh
ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 - 0,031
mm, rộng 0,034 - 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm.
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng của
lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người. Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy
dịch trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ. Đầu có móc và giác bám,
đường kính của giác bám 0,099 - 0,310 mm, có 28 - 40 móc, xếp hai hàng, móc
hàng trên dài 0,185 - 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 - 0,160 mm, vỏ trong của
nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước
của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng.
+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 - 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm 400
đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 - 0,640, có 34 - 48 móc xếp thành hai hàng,
móc hàng trên dài 0,225 - 0,294 mm, có lưỡi rất cong. Móc hàng dưới dài 0,132 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 - 0,330 mm, cổ ở ngay sau
đầu dài 1,7 mm. Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các núm sinh dục hơi nhô ra. Có
400 - 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 - 0,132 mm, ở toàn bộ
khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng và buồng trứng. Ống dẫn tinh bắt đầu từ
túi tinh tròn có đường kính 0,210 - 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục
ngang, dài 0,460 - 0,800, rộng 0,130 - 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới
của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba
góc, ở bờ dưới của đốt. Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo đi từ
lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng. Ở những đốt già,
mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ,
trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm.
11
- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810
Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], Nguyễn
Thị Kỳ (2003) [10] cho biết:
có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm.
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục, vỏ mờ
đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu,
số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang. Kích thước nang khác nhau,
phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật.
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994, 2003) [9], [10], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] cho
biết: Loài Mesocestoides lineatus: sán trưởng thành dài đến 2 m. Đầu không có vòi,
có móc bám và 4 giác bám. Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt. Kích thước
trứng 0,040 - 0,060 x 0,035 - 0,043 mm. Phôi 6 móc, đôi móc giữa dài hơn móc bên.
1.1.1.3. Chu kỳ sinh học của sán dây chó
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [31], chu kỳ sinh học của
sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp. Ở bộ Cyclophyllidae
trứng chứa thai trùng 6 móc đã hình thành. Vào dạ dày ký chủ, thai trùng 6 móc
thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus,
Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid. Ở bộ Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng
liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid. Những dạng ấu trùng này sống lâu hay ít ở
KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành
sán trưởng thành.
Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là
nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là
động vật không xương sống... Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng
cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời.
Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau. Các loài sán dây:
Spirometra erinacei - europaei, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum,
Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của chó.
Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai
đoạn thành thục. Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp ký sinh ở chó
diễn ra như sau:
14
+ Loài Taenia pisiformis
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật
gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng. Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực
hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 - 30 ngày.
Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán.
+ Loài Multiceps multiceps
Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu.
Đốt sán già ra ngoài theo phân chó. Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật
chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành ấu trùng cảm
nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 - 8 tháng. Chó ăn phải óc vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ
nhiễm sán.
Phan Thế Việt và cs (1977) [33] đã mô tả: tất cả bề mặt của sán dây là một
cái “mồm” khổng lồ. Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây. Các loài sán dây thường
tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ. Cái mồm đã không cần, thì hệ
tiêu hoá của chúng cũng không có. Ăn và tiêu hoá đều qua bề mặt cơ thể của sán
dây”. Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta có thể nghĩ rằng: cơ thể sán
dây sẽ dần dần ngắn lại. Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra
thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại”. Sau đốt đầu là đốt cổ,
người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác. Các đốt mới
sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12] cho biết: những đốt sán dây hầu như
là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập. Nhờ có
sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội. Trong cùng một lúc, ở
những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng. Ngoài ra, sự
hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác. Đó là do có đốt sán già lần lượt
đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn,
bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, hầu như được trẻ lại, có sức lực và
đường tiêu hóa, phát hiện được 3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%);
Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%).
Ở nước ta, các loài Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia
pisiformis, Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung
du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [9].