Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin. - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGÔ THỊ TRANG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MÙA VỤ ĐẾN TỶ LỆ NHIỄM BỆNH
CRD TRÊN GÀ THỊT LÔNG MÀU VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH CỦA
THUỐC TYLOSIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGÔ THỊ TRANG
Tên đề tài:

Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo TS.
Nguyễn Thị Thúy Mỵ luôn tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài thực tập tốt nghiệp.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ đồng
hành cùng tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu trong suốt thời gian qua.
Cuối cùng tôi xin trân trọng gửi tới Thầy giáo, Cô giáo trong hội đồng chấm
báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Ngô Thị Trang


ii
LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng và không thể thiếu được trong
chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và trường đại học Nông Lâm
nói riêng. Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố, áp dụng những kiến thức
đã được học vào thực tế, rèn luyện tay nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn, học
tập phương pháp nghiên cứu khoa học, đồng thời đây là thời gian để sinh viên tự
hoàn thiện mình, trang bị cho bản thân những kiến thức về phương pháp quản lý,
những hiểu biết xã hội để khi ra trường trở thành một cán bộ khoa học kỹ thuật có
kiến thức chuyên môn vững vàng và có năng lực trong công tác.
Được sự nhất chí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của cô giáo hướng dẫn
và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị
bệnh của thuốc Tylosin”.


Cs

: Cộng sự

CRD

: Chronic Respiratory Disease

MG

: Mycoplasma gallisepticum

MS

: Mycoplasma synoviae

LP

: Lương Phượng



: Thức ăn

tr

: Trang

Nxb

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................ 18
2.3. Giới thiệu về giống gà và thuốc dùng trong thí nghiệm ................................. 19
2.3.1. Giới thiệu chung về gà Chọi lai (Trống Chọi × Mái Lương Phượng) ........ 19
2.3.2. Giới thiệu chung về thuốc thí nghiệm .......................................................... 22
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.24
3.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 24
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................... 24


vi
3.3. Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .......................................... 24
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm..................................................................... 24
3.4.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi .......................................................... 25
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................... 28
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất .................................................................. 28
4.1.1. Công tác chăn nuôi ....................................................................................... 28
4.2.2. Công tác thú y .............................................................................................. 29
4.1.3. Kết luận ........................................................................................................ 32
4.2. Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học ........................................................ 32
4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ......................................... 32
4.2.2. Tỷ lệ nhiễm CRD của đàn gà thí nghiệm ..................................................... 34
4.2.3. Bệnh tích của gà bị nhiễm CRD................................................................... 37
4.2.4. Kết quả điều trị bệnh CRD ........................................................................... 39
4.2.5. So sánh ảnh hưởng của nùa vụ đến hiệu quả điều trị bệnh ......................... 41
4.2.6. Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị ............................................................ 42
4.2.7. Một số chỉ tiêu sức sản xuất thịt của gà thí nghiệm ..................................... 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................ 49
5.1. Kết luận ........................................................................................................... 49
5.2. Tồn tại ............................................................................................................. 49

tỷ lệ nhiễm bệnh cao. Tuy gà mắc bệnh có tỷ lệ chết không cao, xong nó rất nguy
hiểm cho đàn gà.
Mặt khác do hiệu lực phòng bằng vắc-xin có hiệu quả thấp, cộng thêm việc sử
dụng kháng sinh trong điều trị bệnh còn hạn chế về hiệu quả, nên bệnh CRD phát
triển quanh năm. Bệnh thường phát triển mạnh hơn khi chuồng trại không sạch sẽ
thoáng mát vào mùa Hè và kín gió, ấm áp vào mùa Đông… Chính vì những lý do
này đã làm cho bệnh CRD hiện nay vẫn là vấn đề nan giải, đáng lo ngại cần được
quan tâm ở các trang trại chăn nuôi công nghiệp.
Xuất phát từ thực tế trên dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ
chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm
bệnh CRD trên gà thịt lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin”.


2
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt
lông màu và hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
- Bản thân em tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tình hình mắc bệnh CRD nuôi tại Trại.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ (vụ Hè và vụ Thu) đến tỷ lệ nhiễm
bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt lông màu (Chọi × Lương Phượng).
- Hiệu quả điều trị bệnh của thuốc Tylosin.
1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học góp phần vào việc hoàn thiện
nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và xây
dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà thịt lông màu.
Hiệu lực của thuốc Tylosin trong việc phòng và điều trị bệnh CRD.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới
xương sườn cuối cùng.
Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và
thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống
cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai
ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai,
cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa
các cơ và vai ngực. Phần lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim.
Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích phổi 10 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể


4
khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của
gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.
Tần số hô hấp ở gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giới tính, độ tuổi, khả năng
sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm,
thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển …). Tần số hô hấp thay đổi trong
ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể.
Dung tích thở của phổ gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với
phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất. Dung tích thở của phổi và các túi khí
được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích
này bằng 140 - 170 cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực
tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.
Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuyếch tán, quá
trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và máu
của gà.
Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có:
Oxi 20,94%; CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) - 79,93%.
Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5% oxi và 5 - 6,5% cacbonic.
Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu

2004) [11].
* Mầm bệnh:
Trần Thị Hạnh và cs (2004) [4] cho biết, hầu hết các loại gia cầm đều mẫn
cảm với Mycoplasma. Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm
bệnh càng cao. Bệnh này xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới . Trong những
năm gần đây, người ta sử dung một số kháng sinh như: Tiamulin, Tylosine,
Enrofloxacin… để điều trị nên đã khống chế được bệnh này.
Hoàng Huy Liệu (2002) [25] cho biết, CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M.
gallisepticum, M. sinoviae, M. meleagridis, nhưng chủ yếu là loài M. gallisepticum.
Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi thì giống như tế bào
động vật nhỏ, không nhân. Gallisepticum có nghĩa là “gây độc hại cho gà mái”.
Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng
được giảm đáng kể.
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [3], Mycoplasma có kích thước ngang
khoảng 150 – 300 ŋm thường là 250 ŋm khó thấy dưới kính hiển vi quang học bình
thường. Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính đa hình thái,
có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu,
mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt…), không mẫn
cảm với Penicillin, Xicloserin, Xephalosporin, Baxitraxin và các kháng sinh khác
ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào.


6
Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho nên
chúng dễ bị biến đổi hình dạng, là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh giới có đời
sống dinh dưỡng độc lập. Vi khuẩn có dạng nhỏ riêng lẻ hay tập trung từng đôi,
từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại Gram âm khó bắt màu thuốc
nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp nhuộm Giemsa mới quan sát được.
Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng nguyên sinh chất dày từ 70 - 100A0. Trong
tế bào Mycoplasma có thể thấy các hạt riboxom và thể nhân.

mầm bệnh Mycoplasma gallisepticum (Hội bác sỹ thú y, 2008) [24].
Trong tự nhiên Mycoplasma gallisepticum thường gây bệnh cho gà và gà tây.
Gà mới nở mẫn cảm với bệnh nhất. Tuy nhiên, đã phân lập được Mycoplasma
gallisepticum từ sự nhiễm trùng tự nhiên trên trĩ, công, chim cút, vẹt Amazon, vịt,
ngỗng, hồng hạc (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [14].
Bệnh sảy ra không phụ thuộc vào mùa vụ. Gà bị bệnh nhiều hơn khi thời tiết
thay đổi đột ngột trong năm: Chuyển từ nóng sang lạnh, có đợt gió mùa hoặc mùa
xuân ẩm ướt.
CRD nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế
phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác
hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn thì bệnh sẽ nặng hơn. Đặc biệt, nếu ghép với 3
bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh cúm
thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa được.
Thời gian tồn tại của Mycoplasma gallisepticum ở ngoài cơ thể vật chủ
(phân, lông…) khác nhau (từ 1 - 14 ngày), tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó
bám. Vì vậy việc vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi kém thì đó là một
con đường truyền lây của bệnh. Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng
trắng trứng là 3 tuần ở 5oC, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ,
mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 37oC, 6 tuần ở 20oC. Như vậy, những quả trứng đập vỡ
trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh. Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn
tại ở trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh
có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh.
Một trong con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng. Ở giai
đoạn cấp tính, Mycoplasma gallisepticum dễ dàng tiến đến buồng trứng , tử cung và
định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng bị nhiễm bệnh. Mycoplasma
gallisepticum không những được phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng
lòng đỏ trứng tươi. Trong một số trường hợp cụ thể , sự lây nhiễm có thể thực hiện
lây qua việc sử dụng vắc-xin virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh.
Mycoplasma gallisepticum còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà trống bị bệnh
vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua đường thụ tinh từ gà trống truyền cho gà

* Triệu chứng:
Tùy từng nguyên nhân gây ra bệnh mà gà có những triệu chứng khác nhau
sau đây gây ra bệnh hô hấp ở gà:
Theo Lê Hồng Mận và cs (2003) [9], triệu chứng mắc bệnh CRD là: trong tự
nhiên, thời kỳ ủ bệnh có khác nhau đáng kể (3 - 38 tuần), trong những đàn bị nhiễm
bệnh qua trứng, những biểu hiện lâm sàng có thể phát triển và biểu hiện từ giai đoạn
3 - 6 tuần tuổi, còn những trường hợp khác thì phát triển ở giai đoạn chuẩn bị sinh
sản. Trong trường hợp đàn gà bị nhiễm bệnh từ trứng bệnh nhưng được xử lý bằng


9
kháng sinh và được nuôi trong điều kiện tốt thì biểu hiện lâm sàng cho đến khi đàn
gà bị kết hợp với những mầm bệnh khác hoặc các yếu tố stress xuất hiện.
Các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là: Gà giảm ăn, khó thở, có âm ran khí quản,
lúc đầu có một số ít sau đó ở nhiều gia cầm, triệu chứng này thấy rõ về đêm hay
sáng sớm. Do bị viêm đường hô hấp nên gà thường ho khan, vảy mỏ quệt xuống
nền chuồng, mỏ nửa kín nửa hở. Ho cũng như thở có âm ran và tiếng kêu đột ngột
(khẹc) thường xuất hiện vào ban đêm. Gà ăn ít dẫn đến mệt mỏi, lông thô xã cánh,
một số ỉa phân xanh trắng, sung huyết và sưng cổ họng, sưng ở ngoài hốc mắt các
triệu chứng này thường biểu hiện thường ở cường độ rất khác nhau, nó kéo dài hàng
tháng, mùa hè nặng hơn mùa đông. Đàn gia cầm có tỷ lệ mắc bệnh rất cao, có khi
đến 80 - 90%, nhưng tỷ lệ chết lại rất thấp ở gà con tỷ lệ chết từ 10 - 25%, mức chết
thường lớn nhất ở tuần lễ đầu khi bệnh xuất hiện. Đối với gà trưởng thành và gà mái
đẻ thì tỷ lệ chết không lớn lắm, nhưng bệnh làm giảm từ 10 - 40% sản phẩm, gà gầy
sút, chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Thanh Sơn và cs, 2004) [11].
Bệnh CRD thường xuất hiện cùng yếu tố khác như Tụ huyết trùng, E. coli
thường gặp ngoài tự nhiên. Tỷ lệ chết thường là thấp ở trường hợp không xuất hiện
với các yếu tố trên nhưng có thể chiếm tới 30% so với sự xuất hiện của các yếu tố
bệnh trên.
- Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm:

tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bị bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 - 40%.
- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con:
Bệnh thường sảy ra trong 3 tuần đầu hoặc sau 3 tuần đầu với triệu chứng:
+ Gà lớn không đều (con to, con nhỏ).
+ Các biểu hiện bệnh CRD rất rõ gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt,
nước mắt, nước mũi chảy đẫm, gà bị ngạt thở nên thở dồn dập, hai cánh xã xuống
để thở cho dễ, uống nhiều nước.
+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc phân trắng xanh, một số gà đi ngoài khó do
phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, một số con có hiện tượng
viêm khớp.
+ Gà kém ăn, ủ rũ và chậm lớn.
+ Tỷ lệ chết phụ thuộc vào việc điều trị sớm hay muộn.
* Bệnh tích:
Tùy từng nguyên nhân gây ra bệnh mà gà có những bệnh tích khác nhau, một
số biểu hiện bệnh tích như sau:
+ Bệnh tích đại thể:
Các biển đổi chủ yếu ở phần trên khí quản, phế nang phổi, túi khí và các
xoang. Mức độ rõ ràng và không rõ ràng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề


11
kháng của gà và động lực của Mycoplasma. Nếu gà chết hoặc bị giết ở giai đoạn
đầu thì những biến đổi không đặc trưng, chỉ thấy xác chết gầy lông xơ xác, thịt nhạt
màu do thiếu máu, các xoang mũi hốc mắt nhiều chất nhầy như keo dính chặt vào
niêm mạc, các túi khí dày lên và đục màu trắng sữa. Bệnh nặng người ta quan sát
thấy trong lòng khí quản có thanh dịch, phổi có vùng cứng đôi khi nổi thành các nốt
u, thành túi khí dày lên và bị viêm, mặt phổi bị phủ fibrin, rải rác có một số vùng bị
hoại tử, thành túi khí dày lên thủy thũng, xoang túi khí chứa đầy túi dịch màu trắng
sữa. Theo Martinez thì thanh dịch bị vữa hóa thường dích và bám chặt vào niêm
mạc khó bóc.

đậu đóng thành cục. Nếu bị ghép với E.coli sẽ thấy màng bao quanh tim và màng bị
viêm, sưng. Mắt gà sưng có một số gà bị mù bởi tuyến lệ bị viêm, loét. Trong một
vài trường hợp gà bị viêm khớp, mổ khớp gà ta thấy khớp gà bị sưng chứa nhiều
dịch vàng loãng.
* Phương pháp chẩn đoán:
- Dựa vào đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích như trên.
- Phân lập vi khẩn qua bệnh phẩm, mổ khám hoặc qua các túi khí ở phôi chết.
- Chẩn đoán bằng phương pháp kiểm tra huyết thanh: Phản ứng ngưng kết
trên phiến kính, phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu, phản ứng ELISA, Blocking
ELISA, phương pháp miễn dịch đánh dấu.
- Phân biệt với các bệnh có triệu chứng đường hô hấp giống với CRD như:
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh cúm.
Hoàng Huy Liệu (2002) [25], khuyến cáo, nên phân biệt CRD với các bệnh
dưới đây:
Bệnh Newcastle: Bệnh Newcastle lây lan nhanh hơn CRD, thường biểu hiện
triệu chứng thần kinh, xác định bằng phản ứng HI.
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: Lây lan nhanh hơn bệnh CRD, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến phẩm chất trứng. Dùng phản ứng HI hoặc ELISA để chẩn đoán
bệnh này.
Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: Biểu hiện viêm xoang, dung dịch xuất tiết trong
xoang phân lập được Hemophilus para gallinarum.
Bệnh tụ huyết trùng mãn tính ở gà: Gây những ổ viêm dạng bã đậu hóa và
viêm xoang. Bệnh phân lập được Pasteurella multocida.
* Phòng bênh:
+ Phòng bệnh CRD theo Hội bác sĩ thú y (2008) [24] cho biết:
VSTY: Dùng thuốc kháng sinh liều cao cho đàn gà mẹ, trước khi thu ấp trứng
không cho mầm bệnh ký sinh trên trứng. Có thể dùng kháng sinh sử lý trứng trước
khí đưa trứng vào ấp. Dùng dung dịch kháng sinh để rửa trứng. Cần phải vệ sinh
chuồng trại đảm bảo môi trường nuôi sạch sẽ thông thoáng, dùng kháng sinh và
vắc-xin định kỳ.

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chuồng trại thông thoáng, mật độ thích hợp.
- Sau khi xuất hết đàn, vệ sinh sát trùng kỹ mới nhập đàn mới về nuôi. Nếu
đàn gà đang bị bệnh CRD mà nhập đàn mới vào thì chắc chắn bệnh sẽ lây qua
đường mới.
- Dùng vắc-xin phòng bệnh CRD cho đàn gà bố mẹ.
- Định kỳ vệ sinh sát trùng chuồng trại, đặc biệt tiêm phòng đầy đủ các loại
vắc-xin để hạn chế vi khuẩn, virus cơ hội sẽ giảm thiểu tác hại của bệnh.
Một biện pháp hạn chế bệnh xảy ra là định kỳ dùng kháng sinh phòng bệnh
CRD. Dùng CRD - pharm phòng bệnh pha 1 g/1 lít nước hoặc DTC - vit pha 2 g/1
lít nước, Phargentylo - F 10 ml/1 lít nước.


14
Trong số các kháng sinh và sulfamid chỉ có 3 nhóm kháng sinh sau đây có
hiệu lực với Mycoplasma:
+ Nhóm Tetracycline gồm: Oxytetracycline, Chlorte tracycline, Doxycycline.
+ Nhóm Macrolides gồm: Erythromycin, Tylosine, Lincomycin, Spiramycin,
Tiamuline.
+ Nhóm Quinolones (Fluoroquinolones) gồm: Norfloxacin, Enrofloxacin.
Các kháng sinh khác và các loại Sulfonamides có hiệu quả rất thấp hoặc
không có hiệu quả.
- Sau một thời gian sử dụng khá lâu, nhiều kháng sinh trước đây nhạy cảm
với Mycoplasma nay đã bị đề kháng như Tylosin, Erythromycine, Spiramycin,
Oxytetracycline…
Để việc phòng CRD bằng kháng sinh có hiệu quả, nhất thiết phải lựa chọn
kháng sinh phù hợp và nhạy cảm, đồng thời thực hiện tốt các vấn đề vệ sinh chuồng
trại, quản lý tốt tiểu khí hậu, dinh dưỡng hợp lý và loại thải các gà nhiễm bệnh
thường xuyên… (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Đình, 2004) [21].
Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [8] cho biết, việc dùng kháng
sinh như Dihydrostreptomycin, Erythromycin hoặc Tylosin để sát trùng trứng ấp đã

sau:
+ Tiamulin 1 g/4 lít nước cho uống 3 - 5 ngày.
+ Tylosin 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày.
+ Suanovil 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày.
+ Tetracyclin 500 - 600 g/tấn thức ăn 3 - 5 ngày.
- Cách chữa bệnh hen ghép:
Theo Lê Văn Năm (2004) [10], nếu gà bị hen thở khò khè lạo xạo, miệng
luôn bán mở, gà ngẩn cao cổ há mồm thở một cách khó khăn. Khi gà bắt lên nghe
tiếng lạo xạo khò khè râm ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi, xung quanh mí
mắt sưng, thậm chí sưng phù rất to, một số gà bị viêm khớp đi lặc vì bệnh hen
(CRD) ghép với viêm phế quản truyền nhiễm. Viêm phế quản không có thuốc điều
trị đặc hiệu, do đó ta tập trung chữa CRD theo hướng chữa hen gà và hạn chế bội
nhiễm. Cho 100 kg gà, T. Avimicin 20 g, CRD Polyvitamin 15 - 20 g, pha vào 12 15 lít nước cho gà uống/ngày, liên tục 4 - 5 ngày.
Khi bệnh hen gà bội nhiễm với E. coli bệnh lây lan nhanh hơn, gà sốt nên
uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng vàng trắng hoặc phân xanh vàng trắng, gà thở
khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít, gà lớn tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20
- 40 %. Nhìn chung khi bị bệnh hen gà ghép với E. coli thường là rất nặng do đó ta
phải tiêm thuốc đặc trị Mycoplasma vừa phải tiêu diệt E. coli mới đạt hiệu quả.
Tiêm bắp Dinamutilin (Tinamulin, Tinamutilin, Tiotilin) 20%, tiêm bắp 0,2 - 0,3
ml/1-2 kg khối lượng/ngày, tiêm liên tục 4 - 5 ngày hoặc Tylosin 98 %... Đồng thời
cho uống Erythromycin hoặc Spiramycin nguyên chất 4g, T. Colivit 20 g, Stress
Bran ½ gói 20 g, pha vào 12 - 15 lít nước cho 100 kg khối lượng gà.
2.1.3. Một số đặc điểm về Mycoplasma gallisepticum
* Đặc điểm hình thái:
Mycoplasma là loại sinh vật đa hình thái, có hình sợi, hình nhẫn, kích thước
xấp xỉ 0,1 μm - 0,8 μm. Vi khuẩn MG có kích thước nhỏ 0,25 μm - 0,5 μm, thành tế


16
bào không ổn định, bắt màu tốt với thuốc nhuộm Giemsa. Hai hình dạng thường

chúng cũng khó phân biệt. Không có một môi trường nào phù hợp cho tất cả các
Mycoplasma, đó cũng là một khó khăn trong công tác chẩn đoán và phân lập.


17
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc lưu thông hàng hóa giữa các nước đặc biệt là xuất, nhập khẩu trứng và
gà giống đã tạo điều kiện cho bệnh CRD lây lan mạnh.
Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [3] cho biết, năm 1898, E.Nocard và cs lần
đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng phổi truyền
nhiễm. Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm phổi màng phổi (PPO:
Pleuropneumonia organism). Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ các
động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm phổi màng phổi (Pleuropneumonia
like organism). Từ năm 1955, PPO và PPLO được chính thức đổi thành
Mycoplasma.
CRD được Dobb (người Hà Lan) phát hiện lần đầu tiên ở gà tây vào năm
1905. Đến năm 1935, J.B. Nelson và Gibbs đã phân lập được MG là loại vi khuẩn
gây bệnh chủ yếu. Năm 1952, bác sỹ Van Roekei đã tiến hành nuôi cấy và tìm hiểu
rõ về đặc tính của loại vi khuẩn này. Tiếp đó là hai bác sỹ Adler và Yamato phát
hiện ra vi khuẩn MG gây CRD cùng loại với Mycoplasma gây bệnh viêm xoang
truyền nhiễm. Họ cũng đã thấy mức độ nghiêm trọng khi cùng một lúc gà nhiễm hai
loại vi khuẩn này (Theo Hoàng Huy Liệu, 2002 [25]).
Kojima và cs (1997) [17], đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện mầm
bệnh thuộc 9 loài Mycoplasma của gia cầm trong vắc - xin sống tạo từ phôi gà với
độ nhạy cảm khá cao. Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được khẳng định là đặc
trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại vi khuẩn khác.
Wose và cs (1980) [19], đã phân tích, so sánh trình tự gen 16S rARN của các
giống Mycoplasma, Spiroplasma, Acholeaplasma và họ cho rằng, các giống này
được tiến hóa ngược từ một nhánh vi khuẩn yếm khí là tổ tiên của họ Bacillus và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status