Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực chủ yếu ở nước ta. Lúa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân. Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nông
nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nổi bật là sản xuất lương thực. Trong hơn
20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam đã tăng gấp khoảng 2 lần, hiện nay năng
suất bình quân đạt 5,3 tấn/ha một vụ, sản lượng cả năm đạt gần 39 triệu tấn. Sản xuất lúa gạo
phát triển đã đưa Việt Nam những có đủ lương thực cho nhân dân, mà còn xuất khẩu với số
lượng trên 70 triệu tấn gạo mang về cho đất nước gần 20 tỷ USD, trở thành nước xuất khẩu gạo
lớn thứ 2 thế giới. Cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ lực, liên quan đến việc làm và thu
nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam.
Bên cạnh những thành công thì còn không ít những bất cập yếu kém, hiệu quả sản xuất
kinh doanh chưa cao, phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là thiên tai, biến đổi khí
hậu đặc biệt là dịch hại xảy ra thường xuyên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo. Để
bảo vệ cây lúa người nông dân đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau: Biện pháp thủ công, biện
pháp canh tác, biện pháp vật lý, biện pháp dùng giống kháng, biện pháp sinh học và phổ biến
nhất là biện pháp hóa học. Việc sử dụng thuốc hóa học trừ sâu để phòng trừ sâu hại dịch bệnh,
bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia cho đến nay vẫn là một biện pháp quan
trọng và chủ yếu. Tuy nhiên bên cạnh việc ngăn chặn được dịch hại thì việc sử dụng thuốc hóa
học trừ sâu nhiều và rộng rãi đã kéo theo những hậu quả không mong muốn đó là làm giảm
thiểu đáng kể những loài thiên địch có ích trên đồng ruộng ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường sống và sức khoẻ con người. Chính vì vậy, ngày nay việc sử dụng thuốc hóa học
trừ sâu đòi hỏi phải có những hiểu biết về ảnh hưởng xấu của chúng đến môi trường, đặc biệt là
sự ảnh hưởng tới những sinh vật có ích hay còn gọi là “thiên địch” trong sinh quần nông nghiệp.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch.
Tính đến năm 1989, ít nhất có 12.600 công bố trên giới nói về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến
- Xác định được vai trò của thiên địch đối với việc hạn chế một số loài sâu hại chính trên
lúa.
- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đối với một số quần thể thiên địch phổ biến trên
đồng ruộng trong vụ Đông xuân 2011 tại hợp tác xã Hải Lộc – huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thương Thương – Lớp B3MS1
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm về thiên địch của sâu hại lúa
Trên đồng ruộng ngoài những loài côn trùng gây hại như đã nói đến ở trên thì còn vô số
những loài côn trùng, nhện, virus, các loài kí sinh… không những không gây hại cho cây lúa mà
ngược lại chúng còn giúp bà con nông dân tiêu diệt sâu hại. Có nhiều người gọi chúng bằng
những cái tên rất hình tượng và dễ hiểu đó là “những người bạn của nông dân”. Còn các nhà
khoa học gọi chúng với một cái tên khác là “thiên địch”.
Thiên địch là những thành viên thường xuyên không thể thiếu được của sinh quần ruộng
lúa. Chúng là những tác nhân gây chết tự nhiên rất quan trọng đối với các sâu hại lúa. Ở từng
nơi, trong từng thời gian cụ thể, các thiên địch có thể kìm hãm được số lượng sâu hại chính trên
lúa ở dưới mức gây hại kinh tế mà không cần tiến hành bất kì một biện pháp phòng trừ nào khác.
Thiên địch được nhiều nhà nghiên cứu bảo vệ thực vật coi là cốt lõi của hệ thống biện pháp
phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa ở vùng nhiệt đới.
1.2. Tài liệu nghiên cứu trong nước
1.2.1 Một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở Việt Nam
1.2.1.a. Số lượng loài thiên địch đã phát hiện được trên lúa
Tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu tới năm 2000 trên ruộng lúa của nước ta xuất hiện
khoảng 415 loài thiên địch của sâu hại lúa. Chúng thuộc 14 bộ, 58 họ, 240 giống của các lớp côn
Đây là loài bọ BM rất quan trọng của rầy nâu, rầy lưng trắng và các loài rầy xanh hại lúa
(N. V. Huỳnh và nnk., 1980; B. V. Ngạc và nnk., 1980; N. C. Thuật, 1980 ; P. V. Lầm và nnk.,
1993, 2001). Bọ xít mù xanh chiếm ưu thế khá lớn trong tập hợp các loài bắt mồi của rầy nâu. Ở
một số nơi thuộc Đồng bằng sông Hồng vào thời điểm rầy nâu phát sinh rộ, tỷ trọng của bọ xít
mù xanh đạt 10,8 – 50,8%, riêng ở Vụ Bản tỷ lệ này đạt rất cao 79,8% (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Tỷ trọng của một số nhóm BM chính gặp trong quần thể rầy nâu
Tetragnatha spp tỷ trọng các nhóm BMAT chính (%) tại
Nhóm bắt mồi
một số nơi
Phúc
Vụ
Hải
Bình
Đông
Thọ
Bản
Hậu
Lục
Bọ rùa đỏ
5,8
3,3
17,1
1,9
12,3
10,0
Cánh cứng ngắn
0,7
0
3,5
0,4
0,6
2,7
Nhện lớn bắt mồi
Ngày thứ
Ngày thứ
Ngày thứ 3
Trung
1
2
Nhện non tuổi 3 (đực) (*)
5,0 ± 2,1
3,7 ± 1,6
3,2 ±2,3
3,8 ± 2,1
Nhện non tuổi 3 (cái) (*)
5,5 ± 2,2
5,2 ± 1,3
4,3 ± 2,2
7,9 ± 3,7
Nhện non tuổi 8 cái (*)
21,0 ± 5,6
14,1 ± 3,2
7,8 ± 3,0
14,3 ± 6,8
Trưởng thành đực (**)
13,8 ± 2,8
7,8 ± 1,9
6,9 ± 2,3
9,4 ± 2,4
bình
Trưởng thành cái không trứng (**)
34,1 ± 3,1
25,3 ± 2,1
Bảng 1.3. Những thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân lúa
Quan hệ
Pha phát dục của
dinh
sâu hại bị tấn
dưỡng
công
KS (***)
Trứng
KS (***)
Trứng
Telenomus dingus
KS (**)
Trứng
Exoryza schoenobii
S. incertulas, C.
KS (*)
Sâu non
suppessaalis, C. auricilius, S.
Inferens
S. incertulas, C.
KS (*)
Sâu non
suppressaalis, S. incertulas,
C. Auricilius
KS (*)
Sâu non
S. incertulas, C. auricilius
KS (*)
Sâu non
KS (*)
Trưởng thành
Ngay từ giữa thập niên 1970 đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc 666 và wofatox
đối với ký sinh trứng sâu đục thân lúa bướm hai chấm. Các thuốc 666 (6% ở nồng độ 1/200
hoặc 25kg/ha) và wofatox (nồng độ 0,1%) đều gây ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh nở ong ký sinh
từ trứng đục thân lúa bướm hai chấm. Nơi xử lý thuốc, tỷ lệ ong nở là 0 - 14,2%, trong khi đó
đối chứng không xử lý thuốc tỷ lệ này là 91,4 – 95% (L. M. Khôi và nnk., 1975).
Trong điều kiện phòng thí nghiệm các thuốc mipcin (1/300), bassa (1/800), wofatox
(1/1000) rất độc hại với bọ rùa H. octomaculata (N. V. Huỳnh và nnk., 1980). Bọ cánh cứng
ngắn Paderus fuscipes bị chết 52 – 72% khi dùng thuốc azodrin, bassa (L. M. Châu và nnk.,
1987). Thuốc trebon 10EC dùng lượng 0,7 lít/ha trừ rầy nâu có mức độc cấp 2 đối với bọ P.
fuscipes, P. tamulus tức là gây giảm 26 – 50% quần thể của chúng. Nếu dùng lượng 1 lít/ha thì
sẽ có mức độc cấp 3, tức là gây giảm quần thể của nó từ 51 đến 75% (P. V. Lầm và nnk., 1996).
Thuốc wofatox, bassa, mipcin phun trực tiếp lên bọ ba khoang Ophionea indica, sau 18 giờ gây
chết tương ứng 100%, 93 và 73%. Nếu phun gián tiếp, các thuốc này gây chết từ 63 – 83% (T.
Đ. Chiến, 1993).
1.2.2. Nghiên cứu sử dụng thiên địch trong phòng chống sâu hại lúa
1.2.2.a. Nhân nuôi lượng lớn các thiên địch để thả ra đồng lúa
Có thể nhân nuôi lượng lớn ong mắt đỏ để trừ sâu cuốn lá loại nhỏ, sâu đục thân lúa hoặc
sản xuất nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Metarhizium flavoviride để trừ rầy
nâu, bọ xít hại lúa. Nói chung, hiệu quả của việc nhân thả thiên địch phụ thuộc nhiều vào chất
lượng loài thiên địch (ong ký sinh, vi sinh vật gây bệnh côn trùng,…) được nuôi trong phòng.
Chất lượng này lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nhân nuôi. Mặt khác, việc nhân nuôi lượng
lớn các thiên địch thường gắn liền với một quy trình công nghệ sinh học phức tạp, nên giá thành
của chế phẩm cao. Nếu nhân nuôi theo kiểu thủ công thì chỉ giải quyết được một lượng nhỏ,
không thể áp dụng rộng được. Với điều kiện nước ta thì hướng nhân thả thiên địch để trừ sâu hại
lúa chưa thể thực hiện được.
1.2.2.b. Bảo vệ, duy trì và phát triển quần thể các loài thiên địch có sẵn trong tự
nhiên
Đây là việc áp dụng các nguyên lý sinh thái trong phòng trừ sâu hại lúa. Mục đích chính
spp., nhện sói Pardosa pseudoannulata,… Gieo trồng các giống lúa có tính kháng rầy nâu trung
bình là những biện pháp hữu hiệu để duy trì nhiều loài thiên địch trên đồng lúa (Phạm Văn Lầm,
1994).
* Bảo đảm tính đa dạng thực vật trong hệ sinh thái đồng lúa
Như đã nêu trên, phần lớn các loài thiên địch trên đồng lúa là loài đa thực, không chuyên
tính. Chúng có thể cư trú trên nhiều loại cây trồng. Nhiều loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúa
như bọ rùa đỏ, cánh cứng ngắn, bọ ba khoang,… thì cũng phổ biến trên đồng ngô, đậu tương…
Việc xen canh các cây trồng khác với cây lúa góp phần làm tăng tính đa dạng hệ thực vật trong
hệ sinh thái đồng lúa, tức là làm tăng tính đa dạng của khu hệ chân đốt và làm tăng thêm tính
“dẻo sinh thái” cũng như tính bền vững của hệ sinh thái đồng lúa. Trong điều kiện như vậy, các
loài thiên địch dễ dàng phát huy được vai trò của chúng trong hạn chế số lượng nhiều loài sâu
hại lúa (Phạm Văn Lầm, 1994).
* Sử dụng thuốc hóa học hợp lý
Để bảo vệ các loài thiên địch của sâu hại lúa cần phải sử dụng thuốc hóa học hợp lý. Đây
là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ thiên địch trong tự nhiên. Việc dùng thuốc hóa học hợp lý
chỉ đạt được khi áp dụng hệ thống PTTH. Không được coi biện pháp dùng thuốc hóa học là bắt
buộc. Thuốc hóa học chỉ dùng khi các biện pháp khác không thể kìm hãm được sâu hại ở mức
cho phép. Khi dùng thuốc hóa học thì cần tuân theo phương châm 4 đúng: Đúng lúc; đúng
thuốc; đúng liều lượng, nồng độ; và đúng chỗ, đúng phương pháp. Muốn vậy phải thường xuyên
thăm đồng theo dõi tình hình phát triển sâu hại cũng như các loài thiên địch trên đồng lúa.
1.3. Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
1.3.1. Một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở nước ngoài
1.3.1.a. Nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại lúa
Những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu hại lúa đã được tiến hành ở nhiều
nước trồng lúa trên thế giới từ đầu thế kỉ XX. Nawa (1913), Shiraki (1917), Speare (1920), Maki
(1930), Uichanko (1930), Esaki và Hashimoto (1931), Esaki (1932),… đã có những công bố về
thiên địch của các loài sâu đục thân lúa và rầy hại lúa ở Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Thái
nghiệm, sau 24 giờ, một trưởng thành cái và một trưởng thành đực loài bọ xít mù xanh có thể ăn
20 và 10 trứng rầy nâu (tương ứng) (Chua et al., 1986; IRRI, 1987; Reisig et al., 1986).
* Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa
Ở Đông Nam Á có 16 loài thiên địch phổ biến và quan trọng của các sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphaocrois medinalis, Marasmia patnalis) (Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Reissig et
al., 1986; Shepard et al., 1991). Ở trang trại của IRRI, sâu cuốn lá nhỏ bị kí sinh với tỷ lệ khoảng
40% (Arida et al., 1990). Ong Triochogramma sp. Có thể tiêu diệt khoảng 20% trứng sâu cuốn
lá nhỏ. Ở Trung Quốc ong Trichogramma cofusum, T. japonicum, Telenomus sp. là những ký
sinh chủ yếu trên trứng sâu cuốn lá lớn. Vào tháng 8 – 9 hàng năm, tỷ lệ trứng sâu cuốn lá lớn bị
ký sinh trùng là 10,4% và tăng lên 26,6% vào tháng 10 – 12 (Xie Minh, 1993).
Các loài BM có vai trò lớn trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa. Theo Kamal (1981),
khoảng 70% sâu cuốn lá nhỏ bị tiêu diệt bởi các loài BM (dẫn theo Ooi et al., 1994).
* Vai trò của thiên địch đối với nhóm sâu đục thân lúa
Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá phong phú, nhưng có rất ít loài
quan trọng. Số loài thiên địch quan trọng đối với nhóm sâu đục thân lúa chung cho vùng lúa
Đông Nam Á là 15 loài (Kamran et al., 1969; Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Ressig et al.,
1986; Shepard et al., 1991; Tirawat, 1982). Subba Rao et al., (1983) đã thông báo rằng tập hợp
ký sinh trứng (Tetrastichus, Telenomus và Trichogramma) có thể tiêu diệt được 77% trứng đục
thân lúa bướm hai chấm ở Ấn Độ.
Hoạt động của các ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vật gây bệnh có thể gây chết tới
58% sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của Ấn Độ. Các loài BM cũng đóng vai trò khá quan
trọng trong tiêu diệt sâu đục thân lúa ở các pha phát dục khác nhau. hai chấm. Một cá thể nhện
sói Pardosa pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng thời
nó tấn công cả pha trưởng thành của các loài sâu đục thân.
1.3.1.c. Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch
Ngay từ năm 1954, Bei – Bienko nhà côn trùng học của Liên Xô cũ đã nhận thấy: “Việc
sử dụng thuốc hóa học BVTV quá mức và máy móc, đặc biệt là dùng các loại thuốc có tốc độ
cao, có thể kéo theo những hậu quả nặng nề: Làm tăng số lượng và ý nghĩa kinh tế của nhiều
al., 1984; Kiritani, 1979; Ooi et al., 1994).
1.4. Giới thiệu về địa điểm thực tập - Viện Bảo Vệ Thực Vật
* Tên Tiếng Việt : Viện Bảo vệ thực vật;
* Tên Tiếng Anh : Plant Protection Research Institute (PPRI)
1.4.1. Chức năng nhiệm vụ
* Chức năng:
1. Viện Bảo vệ thực vật được thành lập theo điểm"c" Khoản "1" Điều 2 của Quyết định
số: 220/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Thành lập Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam.
2. Viện Bảo vệ thực vật là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về dịch hại và
sinh vật có ích trên cây trồng nông lâm nghiệp, các đối tượng kiểm dịch thực vật, thuốc bảo vệ
thực vật trên phạm vị cả nước.
Trụ sở của Viện đặt tại Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ:
1. Xây dựng chương trình, dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công
nghệ dài hạn, năm năm và hàng năm trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp để phục vụ phát triển
kinh tế xã hội của cả nước, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.
2. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực:
a) Điều tra cơ bản về sinh vật gây hại, sinh vật có ích, xây dựng quỹ gen về sinh vật trong
bảo vệ thực vật; bảo quản và xây dựng bộ mẫu chuẩn quốc gia về côn trùng, bệnh hại, cỏ dại, vi
sinh vật nông nghiệp, ký sinh thiên địch;
b) Nghiên cứu sâu bệnh, bệnh, cỏ dại và các dịch hại khác hại cây Nông Lâm nghiệp và
giải pháp phòng trừ;
c) Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật;
d) Nghiên cứu độc lý, dư lượng, phát triển thuốc bảo vệ thực vật và giải pháp sử dụng
theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường;
Đơn vị sự nghiệp: Trung tâm đấu tranh sinh học.
Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ thực vật Nam Bộ.
Doanh nghiệp: Công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển BVTV.
* Lực lượng cán bộ:
Viện có 145 cán bộ trong biên chế, trong đó có: 01 GS. Tiến sỹ; 01 PGS.TS; 14 Tiến sỹ;
32 Thạc sỹ; 84 kỹ sư và 13 KTV và nhân viên phục vụ.
Hình 1.1: Viện BVTV – Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 15 tháng 3 đến 15 tháng 5 năm 2011
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Nhóm Sâu hại lúa – Bộ môn Côn trùng - Viện Bảo vệ thực vật – Đông Ngạc – Từ
Liêm – Hà Nội
+ Hợp tác xã Hải Lộc - huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định
2.2. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Một số loài thiên địch bắt mồi chính (Nhện lớn bắt mồi, bọ xít
mù xanh, bọ rùa đỏ, bọ ba khoang).
* Vật liệu nghiên cứu:
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.2. Xử lý và bảo quản mẫu vật
- Mẫu loài thiên địch sẽ bảo quản trong cồn 95o và đem đi giám định tại Viện BVTV.
- Việc phân loại và giám định tên khoa học được các cán bộ trong bộ môn côn trùng
phân loại dựa trên các tài liệu chuẩn quốc tế.
2.3.3. Phương pháp đánh giá sức tiêu diệt sâu hại của thiên địch
Phương pháp nghiên cứu: Bọ xít mù xanh và nhện sói vân hình đinh ba được thu bắt
bằng ống nghiệm ở đồng đem về phòng thí nghiệm. Mỗi cá thể được nuôi trong một ống thủy
tinh (kích thước 20 x 2cm cho bọ xít mù xanh, 25 x 4cm cho nhện sói vân hình đinh ba). Bọ xít
mù xanh bỏ đói 24 giờ còn nhện sói vân hình đinh ba bỏ đói 48 giờ. Sau thời gian bỏ đói thì bắt
đầu tiến hành thí nghiệm. Mỗi ngày thả 40 rầy non tuổi 4-5 của rầy nâu cho 1 nhện sói vân hình
đinh ba và 100 trứng rầy nâu cho bọ xít mù xanh. Sau 24 giờ kiểm tra số lượng con mồi bị tiêu
diệt và thay thức ăn mới.
- Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành liên tục trong 3 ngày.
2.3.4. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số
quần thể thiên địch trong phòng thí nghiệm
Nhện sói vân đinh ba được thu ngoài đồng ruộng với các kích thước tương đương nhau
(9±0,1mm chiều dài). Sau đó mang về phòng thí nghiệm giữ ổn định sau 12 tiếng sau đó thả vào
các đĩa Pepti (10cm đường kính), được lót một tấm giấy thấm có kích thước vừa với đĩa Pepti.
Giấy được phun thuốc ở các liều lượng khác nhau trước khi cho vào đĩa Pepti.
Sử dụng 2 loại thuốc có gốc là Diazinon và Imidacloprid để đánh giá ảnh hưởng của
thuốc với Nhện sói vân đinh ba. Thuốc được áp dụng ở các liểu lượng khác nhau 3ppm, 15ppm,
30ppm, 150ppm và 300ppm (ppm = pass per million; một phần một triệu).
Sau khi thả nhện vào các đĩa Pepti, tiến hành theo dõi khả năng sống sót của nhện ở 12,
24 và 48 giờ sau khi thả. Mỗi công thức tiến hành theo dõi 10 cá thể Nhện sói vân đinh ba.
2.3.5. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số
quần thể thiên địch ngoài đồng ruộng
: Ít (11 – 20 % số lần bắt gặp
++
: Trung bình (21 – 50% số lần bắt gặp)
+++
: Nhiều (>50% số lần bắt gặp).
Tổng số thiên địch bắt gặp (con)
- Mật độ thiên địch (con/m2) = ---------------------------------------Tổng số m2 điều tra
- Tỷ lệ số lượng từng loài (%):
Na
- Tỷ lệ loài (%) = ------------------ x 100
N
Trong đó:
Na: số lượng cá thể từng loài (theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
N: Tổng số cá thể thiên địch điều tra.
- Hiệu lực thuốc được tính theo công thức: Henderson – Tilton.
Ta x Cb
E (%) = (1- ----------------- x 100)
Tên khoa học
Việt Nam
Bộ/họ
Thời gian và mức
độ phổ biến
T3
Bộ cánh cứng
T4
T5
Coleoptera
1
Bọ cánh ngắn
Paederus fuscipes Curt
Staphylinidae
+
++
4
Bọ rùa 8 chấm
Harmonia octomaculata Fabr
Coccinellidae
+
+
++
Veliidae
+
+
+
Miridae
+
++
+++
Bọ xít mù xanh
3
Bọ xít ăn thịt
4
Bọ xít gọng vó
Bộ nhện lớn
1
Nhện lưới
Hermiptera
Microvelia sp.
Cyrtorhinus
lividipennis
Reuter
Cavelerius
Okajima
Limnogonus
Fabricius
sacchiricvorus
fossarum
Nhện nhảy vằn
Bianor
lưng
Schenkel
Nhện linh miêu
Oxypes javanus Thorell
Nhện chân dài
Lycosa pseudoannulata Boes.
hàm to
et Str.
5
6
7
hottingchiehi
Lycosidae
++
++
++
++
Tetragnathidac
+
+
+
Ghi chú: Mức độ phổ biến của các thiên địch:
-
: Rất ít (50% số lần bắt gặp).
Cyrthohinus lividipennis Reuter
Ophionea indica Thunbr
Nhện lùn .
Atypena sp.
Hình 3.1: Một số thiên địch phổ biến của sâu hại trên lúa vụ xuân 2011 tại Hải Lộc
- Hải Hậu – Nam Định
3.2. Vai trò của một số loài thiên địch đối với việc hạn chế sâu hại chính trên lúa.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU
VÀ THẢO LUẬN
Để hiểu rõ được vai trò của các loài thiên địch trong việc hạn chế các loài sâu chính hại
lúa, trong vụ xuân năm 2011 chúng tôi tiến hành theo dõi khả năng ăn rầy nâu của 2 loài thiên
địch bắt mồi phổ biến tại Hải Lộc - Hải Hậu – Nam Định là: Nhện sói vân đinh ba và bọ xít mù
xanh.
3.2.1. Khả năng ăn trứng rầy nâu của bọ xít mù xanh
Ở nước ta bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis Reuter) là loài côn trùng bắt mồi khá
phổ biến trên đồng lúa ở khắp các vùng trồng lúa. Cả ấu trùng và trưởng thành đều sống kiểu bắt
mồi. Chúng tiêu diệt trứng và rầy non tuổi nhỏ của rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen và
nhiều loài rầy hại lúa khác. Bọ xít mù xanh được coi là loài bắt mồi quan trọng trên đồng lúa ở
nhiều nước (Chiu, 1979). Thí nghiệm về khả năng ăn trứng rầy nâu được tiến hành với bọ xít
trưởng thành và bọ xít non tuổi cuối. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm khả năng ăn trứng rầy nâu
của bọ xít mù xanh, thả 100 trứng rầy nâu vào trong lọ thí nghiệm có cây lúa và bọ xít mù xanh,
theo dõi trong 3 ngày, 3 lần nhắc lại.
Kết quả cho thấy bọ xít trưởng thành có khả năng ăn trứng rầy nâu cao hơn bọ xít non
tuổi cuối. Trong ba lần thí nghiệm, ở ngày đầu tiên bọ xít trưởng thành đều ăn nhiều trứng rầy
nâu nhất. Khả năng ăn mồi của chúng giảm đi trong các ngày thí nghiệm sau. Số trứng rầy nâu