PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Rau xanh là nguồn thức ăn không thể thiếu trong bữa ăn của con người.
Rau xanh cung cấp vitamin, chất xơ, muối khoáng... cần thiết cho cơ thể.
Trong tháp dinh dưỡng rau, củ, quả chiếm 30% trọng lượng thức ăn cần cho
mỗi ngày, chỉ sau thức ăn cung cấp tinh bột (gạo, khoai tây, ngô…).
Sản xuất rau là một ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.
Năm 1997 tổng kim ngạch xuất khẩu rau, quả, hoa, cây cảnh đạt 59,88 triệu
USD (trong đó rau tươi 43,77 triệu), năm 2007 giá trị ước tính đạt xấp xỉ 400
triệu USD [19].
Dân số tăng nhu cầu sử dụng rau xanh cũng tăng, diện tích trồng rau
tăng lên không đáng kể. Hơn nữa Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm thuận lợi cho sự phát triển của rau trồng nhưng cũng rất thuận lợi
cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do đó
việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để tăng năng suất cây trồng,
phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực
quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng chủ yếu. Cùng với phân bón hữu
cơ, phân bón hóa học thì thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo
lương thực, thực phẩm cho con người [27].
Hầu hết các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính
cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ con người và
là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu
không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách. Dư lượng thuốc BVTV
quá giới hạn cho phép trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức
khoẻ con người. Nhưng những người nông dân trồng rau vẫn thường xuyên
sử dụng thuốc BVTV quá tiêu chuẩn cho phép của nhà nước, sử dụng với
nồng độ cao, mật độ dùng thuốc dày, thu hoạch sớm. Đó cũng là nguyên
1
Tại Mỹ, Pimentel và Greiner (ở Đại học Cornell) đã tính được rằng:
người nông dân cứ chi 6,5 tỷ đô la thì đã làm giảm giá trị thiệt hại do dịch
hại gây ra cho cây trồng là 26 tỷ đô la tức là người nông dân thu được 4
đô la khi cứ chi ra 1 đô la cho thuốc BVTV. Nhưng nếu tính đến những
chi phí đền bù mà thuốc BVTV phải trả khi làm ảnh hưởng đến sức khỏe
và môi trường thì thu nhập trên chỉ còn 1 đô la. Ngoài những ảnh hưởng
trực tiếp của thuốc BVTV lên con người như ngộ độc thực phẩm… thì với
bản chất là các thuốc nhân tạo có độ độc cao và cần có hiệu lực lâu dài
với dịch hại, nên hầu hết thuốc BVTV đều có độc với con người và môi
trường cũng như để lại tồn dư trong nông sản (Stephenson, 2003)
(Wayland, 1991) [32], [33].
3
Ngày nay việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một nhu cầu tất yếu
của con người. Vai trò của thuốc BVTV đã được Stephenson khẳng định:
Thuốc BVTV đã có vai trò chính trong việc tăng gấp 3 lần sản lượng
lương thực trong 50 năm qua; Thuốc BVTV đã đem lại lợi ích cho con
người và môi trường bằng việc giảm đói nghèo, tiết kiệm lao động, năng
lượng hóa thạch, đất đai, góp phần hạn chế sự xâm lấn của nông nghiệp
vào đất không phù hợp. Hiện nay, ở các nước đang phát triển, việc sử
dụng thuốc BVTV tăng lên thực sự đã trở thành một sức ép lớn cho môi
trường sinh thái. Do vậy, chúng ta cần có những chương trình giáo dục về
việc sử dụng thuốc BVTV nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nó đến
sức khỏe con người và môi trường [32].
Như vậy, có thể thấy rằng việc sử dụng thuốc BVTV trên thế giới đã có
từ rất lâu và tốc độ sử dụng ngày càng gia tăng. Đặc biệt các nước đang phát
triển có mức độ sử dụng hóa chất BVTV cao hơn các nước phát triển.
2.1.2. Tại Việt Nam
Nhiều hộ nông dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ tổng
hợp trong sản xuất và chỉ phun thuốc khi cần thiết theo sự chỉ đạo của cơ
quan BVTV. Tại các địa phương có áp dụng chương trình Quản lý dịch hại
tổng hợp (IPM) số lần phun thuốc đã giảm đi. Kết quả này chứng minh
rằng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một trong các biện
pháp hữu hiệu nhằm tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốc
BVTV. Tại nhiều địa phương, số lần phun thuốc đã giảm 73%, trong đó số
lần phun thuốc trừ sâu đã giảm 80-90% [25].
Tình hình nhập khẩu thuốc BVTV vào nước ta qua các năm từ 1991
đến 2006 được thể hiện ở bảng sau:
5
Bảng 1: Lượng hóa chất BVTV nhập khẩu vào Việt Nam
Năm
1991
1992
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
64,10
3413
13,30
4979
19,40
32751 17352
53,00
9000
23,00
7681
22,00
30406 15351
50,50
7109
23,90
7620
25,00
42738 19427
45,40
9600
22,54
13711
32,03
33715 16284
48,30
7788
23,10
9069
26,90
33637 16856
40,0
14361
27,70
14433
27,70
71345 29932
42,10
17834
25,00
20342
28,40
Nguồn: Nguyễn Hồng Sơn, Vũ Đình Tuấn – Cục BVTV, 2008 [24]
Hầu hết các loại thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam đều
nhập khẩu từ nước ngoài. Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 1300015000 tấn/năm những năm đầu thập kỷ 90 lên 33000-38000 tấn những năm
2000. Đặc biệt các năm 2005 và 2006 do bùng phát dịch rầy nâu và vàng lùn
xoắn lá tại các tỉnh Nam bộ nên lượng thuốc BVTV nhập khẩu đã tăng lên
51000 tấn (2005) và 71000 tấn (2006). Hiện tượng nhập lậu các loại thuốc
BVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử
dụng) đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi. Hàng năm vẫn có một khối
lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu vào nước ta. Tình trạng các thuốc BVTV tồn
đọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số lượng
và chủng loại. Hầu hết các loại thuốc BVTV tồn đọng này được lưu giữ trong
các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ thuật nên nguy
6
cơ thẩm lậu và dò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động. Cùng với thuốc
BVTV tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ đựng thuốc BVTV đang là nguy
cả nước có 60 nhà máy, cơ sở sản xuất gia công, sang chai, đóng gói hóa chất
BVTV và 22509 đại lý, cửa hàng kinh doanh bán hóa chất BVTV. Hàng năm,
thanh tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật đã tiến hành khoảng 500 600 đợt thanh tra việc thực hiện pháp luật BVTV và đã xử lý 3000 - 4000 trường
hợp vi phạm. Năm 2000, tỷ lệ vi phạm trong sản xuất hóa chất BVTV là 25%,
năm 2006, tỷ lệ này giảm xuống còn 15,9%. Riêng 10 tháng đầu năm 2007,
thanh tra chuyên ngành bảo vệ và kiểm dịch thực vật đã tiến hành 492 đợt thanh
tra, kiểm tra với 10127 lượt cơ sở sản xuất, cửa hàng, đại lý kinh doanh hóa chất
BVTV, đã phát hiện 4 cơ sở sản xuất và 1457 cửa hàng đại lý có vi phạm (chiếm
14,3%). Tính đến nay, số lượng hóa chất BVTV tồn đọng bị thu giữ cần phải
tiêu hủy trong cả nước gần 171 tấn. Tổng số tiền phạt thu nộp ngân sách trên 1,7
tỷ đồng. Trong số các cơ sở gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV vẫn
còn nhiều cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến việc cải tiến công nghệ còn sử
dụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm. Đặc biệt là hệ thống xử lý
chất thải chưa đạt các tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường [25].
Trình độ của người kinh doanh hóa chất còn thấp so với yêu cầu. Theo
khảo sát, chỉ có 7,4% có trình độ đại học; 5,9% có trình độ trung cấp; số còn
lại mới chỉ qua các lớp huấn luyện ngắn ngày, trong khi có tới 91% nông dân
tìm hiểu cách sử dụng hóa chất BVTV trực tiếp từ người bán thuốc [25].
Khi kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên 373 mẫu rau năm 2006, cho
thấy có 33 mẫu (chiếm 13,46%) vượt mức dư lượng cho phép. Đây là nguyên
nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông
sản, hàng hoá trên thị trường thế giới và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến
sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường [25].
Bảng 2: Tình hình ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam năm 2003, 2004
và các nguyên nhân
8
Năm
hộ nông dân năm 2006 cho thấy có tới 59,8% số hộ vi phạm về quy trình sử
dụng thuốc. Số hộ không giữ đúng thời gian cách ly: 20,7%; sử dụng thuốc
cấm, thuốc ngoài danh mục: 10,31%; sử dụng thuốc hạn chế trên rau: 0,18%;
sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ: 0,73%. Chi cục BVTV Hà Nội
năm 2006 thông báo, 100% nông dân vùng ngoại thành vẫn phun thuốc định kỳ
để tránh rủi ro, có tới 50% nông dân tự tiện tăng nồng độ lên gấp đôi. Ở thành
phố Hồ Chí Minh, nông dân ngoại thành phải phun 20-30 lần/vụ thuốc BVTV
đối với rau cải bắp, còn trên cây nho, nông dân ở Ninh Thuận phải phun thuốc
tới 80 lần/vụ. Hầu hết những người trồng rau chỉ dùng thuốc trừ sâu mà không
quan tâm đến thời gian cách ly để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh thực
phẩm. Hiện tượng phun thuốc trừ sâu ngày hôm trước và vài ngày sau đã thu
hoạch rau để bán diễn ra phổ biến. Bên cạnh việc tăng lượng dùng và số lần
phun, nông dân thường trộn các loại thuốc khác nhau thành hỗn hợp. Họ kỳ
vọng rằng, có thể tạo ra loại thuốc mới có phổ tác động rộng trừ đồng thời
9
nhiều loại sâu bệnh và nâng cao hiệu quả của thuốc. Tuy nhiên, do thiếu kiến
thức về hỗn hợp thuốc nên các hỗn hợp tự pha chế thường không hợp lý, không
những không có tác dụng hỗ trợ cho nhau mà đôi khi còn làm giảm tác dụng,
gây lãng phí thuốc và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng [25].
2.2. Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến rau trồng
Sản xuất rau ở nước ta được tập trung ở 2 vùng chính:
Vùng rau tập trung, chuyên canh ven thành phố, thị xã và khu công
nghiệp chiếm 46% diện tích và xấp xỉ 45% sản lượng. Sản xuất rau cung cấp
cho thị trường nội địa là chính. Chủng loại rau ở đây rất phong phú: 60-80
loại trong vụ đông xuân, 20-30 loại trong vụ hè thu.
Vùng rau hàng hoá, luân canh với cây lương thực tại các vùng đồng
bằng lớn, chiếm 54% diện tích và 55% sản lượng. Rau ở đây tập trung cho
Có dư
Có dư lượng
2000
dư lượng
279
41,2
2001
264
54,1
41,7
4,2
2003
102
49,0
38,2
12,8
2004
153
54,2
37,3
8,5
2004
2001
36
132
63,9
29,6
33,3
51,5
2,8
18,9
Đậu đỏ
2003
102
28,4
Cà chua
2004
2004
lượng
54,5
>TCCP
4,3
75
69,3
26,7
4,0
105
58,1
39,0
2,9
Nguồn: Trung tâm KDTV phía Bắc, 2005 [26]
Theo TS. Marcus Theurig (2002), nếu không sử dụng hóa chất BVTV
thì loài người cần đến 3 lần diện tích trồng cây như hiện nay. Vì vậy, hóa chất
BVTV cùng với phân bón hóa học là những phát minh quan trọng nhằm đảm
bảo an ninh lương thực cho loài người [24]. Tuy nhiên, mặt trái của hóa chất
BVTV là rất độc hại cho sức khỏe con người và có nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường cao. Ngoài ra, khi phun hóa chất BVTV thì có tới 50% lượng thuốc rơi
vào đất và khi đó chúng sẽ bị biến đổi, phân tán theo nhiều con đường khác
nhau gây ô nhiễm môi trường [27].
12
đùn lên mặt đất. Trong ống tiêu hóa của giun các vụn hữu cơ được nghiền cơ
học, được phân hủy hóa học nhờ nhiều loại dịch và men tiêu hóa. Trong phân
giun có chứa lượng enzim khá lớn, trung bình lượng enzim trong 1 tạ phân
giun bằng lượng enzim trong 5 tạ phân chuồng (Vũ Quang Mạnh, 2000) [15].
Trong phân giun chứa lượng lớn photpho trao đổi, đạm amon, axit canxi
(Thái Trần Bái, 2000) [3]. Đây là nhóm động vật đất hoại sinh, thức ăn chính
của chúng là xác hữu cơ, qua quá trình tiêu hóa thải ra phân tơi xốp giàu N, P,
K dễ tiêu trở lại môi trường đất.
Trên thế giới, giun đất được con người sử dụng vào nhiều mục đích:
nuôi lấy đạm, xử lý rác thải có nguồn gốc từ hữu cơ, cải tạo đất cằn, làm
thuốc, yếu tố chỉ thị môi trường… Tại Việt Nam, giun đất được sử dụng
làm nguồn đạm vỗ béo, gà, vịt… Sử dụng giun đất như yếu tố góp phần
cải tạo đất.
Cùng với tốc độ đô thị hóa và sự gia tăng dân số nhanh chóng, đất
đai canh tác bị thu hẹp dần và cằn cỗi theo thời gian. Phân hữu cơ truyền
thống đã dần bị loại bỏ do bẩn, mùi hôi thối và mang nhiều vi khuẩn gây
bệnh. Phân bón hóa học trong quá trình sử dụng liên tục đã ảnh hưởng đến
độ phì nhiêu của đất và làm chai cứng đất. Việc lạm dụng hóa chất bảo vệ
thực vật đã hủy diệt các loài thiên địch của ngành nông nghiệp mà bản
thân nó là tác nhân rất tốt góp phần tiêu diệt sâu bọ có hại, cải tạo đất
trồng nâng cao sản lượng.
Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của thuốc trừ sâu lên động vật đất.
Trong số các sinh vật đất được nghiên cứu thì tùy từng nhóm mà có các phản
ứng khác nhau với các loại thuốc trừ sâu khác nhau. Chẳng hạn, thuốc diệt
nấm không cho thấy có ảnh hưởng đến lớp hình nhện (Arachnida), kiến
(Formicidae), giun tròn (Nematoda), mà có ảnh hưởng đến giun ít tơ
đất nói riêng. Việc phá vỡ và thay đổi cấu trúc này dẫn đến sự tăng vượt
trội số lượng cá thể của một hay vài loài và nhóm động vật hạt nhân, mà
14
mật độ quần xã động vật đất được quy định bởi chính các loài này. Như
vậy, việc sử dụng đã tạo ra kiểu cấu trúc đột biến. Đây là kiểu cấu trúc mà
trong đó xuất hiện một vài nhóm, loài phát triển với số lượng ưu thế đột
ngột, không tự nhiên. Trong nghiên cứu sinh thái học chỉ thị, việc xuất
hiện sự ưu thế bất thường trong cấu trúc quần xã động vật được xem xét
như là một chỉ số xác định mức độ thoái hóa của môi trường đất (Nguyễn
Thị Thu Anh, 2009) [1].
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc BVTV đến cây trồng và
động vật đất đã được tiến hành từ rất lâu và đều khẳng định rằng: thuốc
BVTV làm tăng năng suất cây trồng để đảm bảo nhu cầu lương thực phẩm
của con người nhưng chúng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất
và các nhóm động vật trong đất. Đặc biệt là nhóm giun đất được coi như
yếu tố chỉ thị môi trường (thành phần cơ giới, pH, thay đổi cảnh quan theo
hướng thuận hay nghịch do can thiệp của con người, chỉ thị nguồn gốc của
một vùng đất) [10].
15
III. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Supertox 25EC đến năng suất
của một số loài rau và thành phần, mật độ, sinh khối của giun đất ở vùng rau
chuyên canh xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội.
* Rau Cải thìa
(Brassica rapa chinensis L.)
Họ Cải (Brassicaceae)
Bộ Màn màn (Capparales)
- Thành phần hóa học: Cải thìa
có nhiều vitamin A, B, C. Lượng
vitamin C của nó đứng vào bậc nhất
trong các loại rau.
- Phân bố: Trồng ở nhiều nơi
Hình 2: Rau Cải thìa
vào mùa lạnh.
(Brassica rapa chinensis L.)
- Đặc điểm: Cải thìa có thể .)
cao 50-100 cm, thân tròn. Rễ không phình thành củ. Lá to màu xanh nhạt, có
gân giữa trắng, lá trưởng thành có thể dài 40-50 cm, phiến lá hình bầu dục,
nhẵn mọc theo tới gốc nhưng không tạo ra cánh. Cụm hoa ngù ở ngọn,
cuống hoa dài 3-5 cm, hoa vàng tươi, nhị (4 dài, 2 ngắn).
- Công dụng: Lá dùng làm rau ăn. Hạt làm thuốc trị bệnh co thắt, chứng
đau dây thần kinh và đau khớp. Ở Trung Quốc hạt được dùng trị sốt cao, co
giật, mất tiếng [28].
* Rau húng
(Mentha aquatica L. var crispa)
(húng lũi, húng dũi, húng bạc hà)
Họ Hoa môi: Lamiaceae
Bộ Hoa môi: Lamiales
- Thành phần hóa học: Cây
3.2.2. Hóa chất sử dụng
Thuốc trừ sâu: Supertox 25 EC
- Thành phần:
Alpha - Cypermethrin (C22H19Cl2No3): 25g/l
Phụ gia: 975 g/l
- Công dụng: Trừ sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang và nhiều
loại sâu khác trên cây trồng.
18
- Thuốc trừ sâu Supertox 25 EC
thuộc nhóm thuốc trừ sâu Pyrethroit (Cúc
tổng hợp), nhóm này dễ bay hơi, tương đối
mau phân hủy trong môi trường và cơ thể
người. Khi thuốc tiếp xúc với dạ dày của
sâu, nó sẽ tác động lên thần kinh trung
ương, thần kinh ngoại biên [23]. Trong cơ
thể
thực vật thuốc BVTV này dễ bị phân giải
dưới tác dụng của ánh sáng và enzim thành
các sản phẩm cuối cùng ở dạng ion là Cl-, H+,
Hình 4: Thuốc trừ sâu
Supertox 25 EC
NO3, CO2, CO3… (Đào Văn Bảy, 2007) [5].
Đây là những chất không có hại cho cây. Khí CO2 được bài tiết qua khí khổng
chuyên canh.
3.4. Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Luận điểm cơ bản: Thuốc BVTV góp phần quan trọng vào việc tăng
năng suất cây trồng.
- Đóng góp của luận văn: đưa ra con số thống kê về sinh trưởng, năng
suất của một số loài rau trồng và thành phần, sinh khối, mật độ của các loài
giun đất (Oligochaeta). Trên cơ sở đó, thấy được ảnh hưởng của thuốc BVTV
đến năng suất rau trồng và các loài giun đất (Oligochaeta).
IV. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu ngoài thực địa
* Thu thập các tài liệu nghiên cứu về hệ động vật đất, các loại thuốc
bảo vệ thực vật thường sử dụng trên rau.
* Điều tra về tình hình sử dụng thuốc BVTV ở vùng rau chuyên canh
xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội: sử dụng phiếu điều tra.
* Nghiên cứu ngoài ruộng rau:
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Có 18 ô trồng rau:
Diện tích một ô là: 5m x 1m = 5m2
9 ô trồng rau muống, rau Cải thìa, rau húng phun thuốc BVTV (thuốc
trừ sâu Supertox 25EC).
9 ô trồng rau muống, rau Cải thìa, rau húng không phun thuốc BVTV.
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại
(Ngô Thị Đào, 2007) [7].
20
Sơ đồ
Thí nghiệm
Đối chứng
- Phương pháp tính tỉ lệ và thời gian mọc mầm.
+ Thời gian mọc mầm (ngày): từ khi gieo đến khi 50% số cây mọc,
đếm số cây mọc trên ô thí nghiệm vào các buổi sáng.
+ Tỷ lệ mọc mầm (%): phần trăm số cây mọc trên tổng số hạt gieo.
- Phương pháp tính chỉ tiêu sinh trưởng: sau khi hạt nảy mầm được 15
ngày, 25 ngày, 35 ngày lấy mỗi ô 30 cây rau để đo mẫu vật:
+ Chiều cao cây: đo bằng thước cm từ gốc đến đầu mút lá cao nhất
hoặc ngọn cao nhất.
+ Đo chiều rộng lá: đo bằng thước cm, đo ở chỗ rộng nhất.
+ Đo chiều dài lá: đo bằng thước cm từ gốc lá đến chóp lá.
+ Số lá: đếm số lá trên cây rau.
- Tính năng suất thực thu: Cân khối lượng rau của các ô thí nghiệm, đối
chứng. Sau đó tính năng suất trung bình của ô thí nghiệm, đối chứng. Đơn vị
tính là kg/ô.
- Tính lợi nhuận sau sản xuất:
Lợi nhuận = tổng thu nhập – tổng chi phí
Tổng thu nhập của từng ô = năng suất của ô x giá thành 1 kg.
Tổng chi phí = Chi phí vật tư (giống, phân bón, thuốc BVTV) + chi phí
nhân công + chi phí khác.
22
4.3.Các phương pháp nghiên cứu với động vật đất
Giun đất (Oligochaeta)
- Thời gian nghiên cứu:
Thu mẫu trong 4 đợt:
+ Đợt 1: Ngày 15/10/2010 Trước khi làm đất trồng rau vụ đông
+ Đợt 2: Ngày 15/12/2010 Ngay sau khi thu hoạch rau vụ đông
+ Đợt 3: Ngày 1/05/2011 Trước khi làm đất trồng rau vụ hè
Bắt giun trong các tầng đất, cho vào túi vải có nhãn ghi rõ tầng đất,
sinh cảnh, thời gian thu mẫu.
23
Bảng 4: Số mẫu định lượng ở khu vực nghiên cứu
Tiêu chí
Số ô
Số hố
Số mẫu
Tổng
Rau muống
TN
ĐC
3
3
9
9
27
27
162 mẫu /1 đợt
Rau Cải thìa
TN
ĐC
3
3
9
vật, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
+ Phương pháp tính số lượng và sinh khối:
24
Tính số lượng cá thể (n): Đối với con nguyên vẹn tính cả con non và
con trưởng thành. Đối với con bị đứt chỉ tính phần đầu mới là một con, phần
đuôi không tính.
Tính sinh khối (p): sinh khối được tính bằng trọng lượng giun đất sau
khi định hình mẫu bằng foocmalin 4%, kể cả phần thức ăn trong ruột của
giun. Cân bằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,1 g.
Tính phần trăm số cá thể thu được (kí hiệu: n%). Và phần trăm tổng số
sinh khối thu được (kí hiệu: p%).
Các số liệu được tính trên đơn vị tương ứng là 1m2.
n = [(Ai + Ci)/N] x 4
p = [(PAi + PCi)/N x 4
Trong đó:
Ai: Số con non i có trong N hố
Ci: Số con trưởng thành i có trong N hố
i : Loài
N: Số hố
n % (loài): (Tổng số cá thể của loài/ tổng số các cá thể thu được) x 100%
p % (loài): (Tổng số sinh khối của loài/ tổng số sinh khối thu được)
x 100%.
4.4. Phương pháp thống kê xử lý số liệu:
- Sau khi thu thập các số liệu, đo đạc, tiến hành phân tích các số liệu để
tìm các giá trị đặc trưng cho các mẫu và nhóm mẫu.
- Các số liệu thu được được xử lý theo phương pháp thống kê toán học