BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ MẠNH KHƯƠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TRONG
DẠY HỌC HỢP TÁC NỘI DUNG PHƯƠNG TRÌNH
ĐƯỜNG THẲNG TRONG MẶT PHẲNG –
HÌNH HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
SƠN LA, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ MẠNH KHƯƠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TRONG
DẠY HỌC HỢP TÁC NỘI DUNG PHƯƠNG TRÌNH
ĐƯỜNG THẲNG TRONG MẶT PHẲNG –
HÌNH HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BỘ MÔN TOÁN
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. HOÀNG LÊ MINH
Giáo viên
HS
Học sinh
DHHT
Dạy học hợp tác
PPDH
Phương pháp dạy học
THPT
Trung học phổ thông
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một đất nước muốn tồn tại và phát triển bền vững thì phải có nền giáo
dục phát triển, đào tạo được nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu
của xã hội, bởi vì “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.
Trong mỗi giai đoạn của lịch sử tình hình kinh tế, chính trị,văn hóa – xã
hội luôn có sự biến chuyển. Do đó nền giáo dục cũng phải luôn tự đổi mới để
phù hợp với tình hình chung của đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa với mục tiêu đến
năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp và hội nhập cộng
Như vậy: Đồng thời với việc đổi mới phương pháp dạy học là phải đổi
mới phương pháp kiểm tra, đánh giá. Bởi kiểm tra đánh giá có vai trò hết sức
quan trọng trong giáo dục, điều đó được nêu trong giáo trình “Kiểm tra đánh
giá trong giáo dục” – PGS.TS. Nguyên Công Khanh (chủ biên) như sau:
- Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận không thể tách rời của quá trình
dạy học. Bởi vì đối với giáo viên khi tiến hành quá trình dạy học, họ phải xác
định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kĩ thuật tổ
chức quá trình dạy học sao cho phù hợp với đối tượng người học và đạt chất
lượng hiệu quả cao theo mục tiêu đã đề ra. Muốn biết quá trình dạy - học có
chất lượng hiệu quả hay không, Người giáo viên phải thu thập thông tin phản
hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kĩ thuật
dạy của mình cũng như giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học.
- Kiểm tra đánh giá là công cụ hành nghề của giáo viên.
Giáo viên là người trực tiếp tác động tạo ra những thay đổi ở người học
nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Muốn xác định người học - sản phẩm của
quá trình giáo dục đáp ứng như thế nào so với mục tiêu giáo dục đã đề ra thì
người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá. Kết quả kiểm tra đánh giá
2
trên cơ sở tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin do sử dụng đa dạng các loại hình
kiểm tra đánh giá là vô cùng quan trọng để đi đến những nhận định, những
quyết định đánh giá khách quan, điều chỉnh kịp thời nội dung, phương pháp
giáo dục.
- Kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục,
quản lí chất lượng dạy và học. Kiểm tra đánh giá luôn được xem là phương
thức quan trọng để giám sát, quản lí con người trong một lớp học, trong tổ
chức vận hành nhà trường.
Trong các phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học hợp tác là
một phương pháp dạy học mới và hiện đại, phát huy được tính tự giác, tích
Cần tổ chức hoạt động đánh giá như thế nào khi dạy học hợp tác nội
dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học
phổ thông để đem lại hiệu quả và nâng cao chất lượng dạy học?
6. Giả thuyết khoa học
Nếu biết cách tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội
dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học
phổ thông sẽ nâng cao hiệu quả dạy học, đạt được các mục tiêu dạy đã đề
ra, qua đó vừa rèn luyện kĩ năng hợp tác, vừa bồi dưỡng năng lực xã hội
cho học sinh.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp dạy học hợp tác.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động đánh giá
trong giáo dục toán.
Tìm hiểu nhu cầu và hiểu biết của giáo viên và học sinh về tổ chức
hoạt động đánh giá trong giáo dục toán.
Tổ chức hoạt động đánh giá trong dạy học hợp tác nội dung phương
trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 trung học phổ thông.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
4
8. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học
hợp tác, các tài liệu về tổ chức hoạt động đánh giá trong giáo dục và trong
giáo dục toán, chương trình hình học lớp 10 trung học phổ thông.
Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn: Tiến hành dự giờ, trảo
đổi và tham khảo ý kiến của các thầy, cô có kinh nghiệm trong giảng dạy
môn toán.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức hoạt động đánh giá nội
dung phương trình đường thẳng trong mặt phẳng hình học lớp 10 ở một số
thức của một HS về:
Khả năng sử dụng toán học và khuynh hướng toán học.
Việc đưa ra các kết luận từ chứng cứ đó cho nhiều mục đích khác nhau.
Đánh giá có thể thực hiện ở mức độ định tính hoặc định lượng. Khái niệm
“Đánh giá” rộng lớn hơn “Đo lường”, hai HS có thể nhận được cùng một kết
quả đo lường (như điểm số bài kiểm tra) nhưng có thể được đánh giá khác
nhau [3, tr.13-14].
Mục tiêu đánh giá.
Trong việc dạy học, việc đánh giá HS nhằm các mục tiêu sau:
Đối với HS việc đánh giá kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về
quá trình học tập của bản thân mình để tự họ điều chỉnh quá trình học tập, khuyến khích họ phát triển năng
lực tự đánh giá.
Về mặt tri thức và kĩ năng, việc đánh giá chỉ cho mỗi HS thấy mình lĩnh
hội những điều vừa được học đến mức nào, còn những lỗ hổng nào cần phải
bổ khuyết.
Việc đánh giá, nếu được khai thác tốt sẽ kích khích học tập không
nhữngvề mặt lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn cả về mặt phát
triển năng lực trí tuệ, tư duy sáng tạo và trí thông minh.
Về mặt giáo dục việc kiểm tra đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ
giúp quyết định việc dạy sẽ được tiến hành như thế nào, HS học cái gì và học
như thế nào, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học như thế nào để đạt
hiệu quả, nên kết hợp phương pháp dạy học gì trong một bài học cụ thể, HS
thực hiện những khảo sát nào để hình thành tri thức toán...[3, tr. 16].
1.1.1.2. Phân loại đánh giá
Phân chia đánh giá theo mục đích đánh giá:
Đánh giá chẩn đoán.
7
Đánh giá chẩn đoán (ĐGCĐ) được hiểu là tiền đánh giá nhằm cung cấp
cho nhà đánh giá những nền tảng tri thức, kĩ năng và tư duy của HS trước khi
bắt đầu một quá trình học tập. Kết quả của đánh giá cũng cung cấp những
thông tin cơ sở cho việc xác định trình độ của học sinh đang ở mức độ nào
sau một hoạt động hoặc một quá trình học tập hoàn tất.
ĐGCĐ giúp đưa ra những phán xét kiểu như HS đáp ứng những tiêu
chí đặt ra như thế nào để làm cơ sở tiến hành một quá trình giáo dục mới. Tuy
nhiên không có kết quả ĐGCĐ nào là hoàn toàn chính xác. Giáo viên nên cân
bằng một kết quả đã đánh giá của HS với những đánh giá riêng của giáo viên
về HS đó.
ĐGCĐ được thực hiện trước và có thể trong suốt quá trình dạy học để
xác định:
- Những kiến thức, kĩ năng, tư duy, thái độ, sở thích,…hiện có của HS.
- Khoảng cách khác biệt giữa các HS.
- Chỉnh sửa các kế hoạch dạy học để phù hợp với trình độ của HS.
ĐGCĐ có thể nhận được từ:
- Đánh giá tổng kết của hoạt động hoặc một quá trình học tập trước đó.
thực hành dạy học, nó cung cấp thông tin cần thiết để điều chỉnh việc dạy và
việc học sao cho tiến tới hiệu quả hơn. Theo ngữ cảnh, kết quả của ĐGĐH
thông tin cho cả HS và GV về mức độ hiểu biết của các em ở thời điểm đánh
giá. Với mục đích chính của việc đánh giá là nâng cao chất lượng học tập thì
ĐGĐH được hiểu là thực hành đánh giá quan trọng nhất.
Nhiệm vụ của HS trong việc thực hiện ĐGĐH:
- HS phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong đánh giá.
- HS hiểu rõ cách các em được đánh giá.
- HS hiểu được mục tiêu đánh giá và làm thế nào để đạt mục tiêu đó.
- HS hiểu được kết quả đánh giá sẽ giúp mình học tốt hơn như thế nào.
- HS biết được những thay đổi cần thực hiện để có thể đạt mục tiêu
học tập.
9
Các kết quả của ĐGĐH nên được GV:
- Thông báo kịp thời cho HS.
- Cung cấp cho HS những gì các em đã đạt được và những thay đổi để
các em ho àn thành mục tiêu học tập.
- Hạn chế bình luận về nó mà tập trung vào việc đưa ra những lời
khuyên cụ thể, chẳng hạn làm thế nào để đạt mục tiêu học tập.[3, tr.30]
Đánh giá tổng kết (ĐGTK).
Cuối mỗi giai đoạn học tập thành quả của HS sẽ được đánh giá và tổng
kết một cách có hệ thống. ĐGTK không góp phần cải thiện kết quả học tập
của chính giai đoạn dạy học này. Mặc dù nó góp phần quan trọng để cung cấp
chứng cứ để lập kế hoạch giảng dạy trong tương lai.
Mối quan hệ giữa ĐGĐH và ĐGTK.
ĐGĐH phải góp phần phát huy tác dụng mạnh mẽ của ĐGTK. ĐGĐH
thay đổi để tiến bộ.
- Đánh giá HS của GV là một quá trình liên tục, nếu hành động đưa ra
dựa trên kết quả đánh giá có hiệu quả thì thông tin cung cấp cho hành động đó
sẽ trở nên lỗi thời khi đứa trẻ có sự tiến bộ nhiều hơn sau đó.
- Kết quả đối với các yêu cầu học tập được kết hợp lại thành kết quả
phân môn, kết quả phân môn được tổng hợp thành kết quả môn học theo
những nguyên tắc nhất định.
- Cuối cùng, thông tin cơ bản với các chi tiết khác nhau được chuẩn bị
cho những đối tượng sử dụng khác nhau như HS, phụ huynh, GV giảng dạy
tiếp theo của trẻ,…[3, tr.35]
Phân chia theo căn cứ để so sánh thành tích.
Đánh giá theo chuẩn.
Đánh giá theo chuẩn hay còn gọi là đánh giá thông qua chuẩn điểm là
so sánh thành tích của các đối tượng của các đối tượng được đánh giá. Có hai
cách để so sánh:
11
Cách 1: So sánh thành tích tương đối của cá nhân này với cá nhân khác
trong một nhóm cụ thể.
Cách 2: So sánh thành tích của cá nhân hoặc nhóm trong tương quan
với nhóm đại diện (Trung bình hoặc chuẩn).
Có hai đặc trưng trong đánh giá theo chuẩn:
Một là: Phương tiện (Công cụ) là bài kiểm tra chuẩn hóa – có khả năng suy rộng do sự thay đổi
trong thành tích, thường dự đoán các cách thức phổ biến và các dấu hiệu phân tán.
Hai là: Bài kiểm tra càng phân biệt một cách hiệu quả những người làm trắc nghiệm với các năng
lực khác nhau thì tính chuẩn càng được hiểu chính xác bấy nhiêu.[3, tr.35 – 36]
Đánh giá theo tiêu chí
Các tiêu chí nào được sử dụng để nhận định sự thể hiện qua các hoạt động?
Hình thức nào được dùng để tổng kết các nhận định và báo cáo kết quả?
Thu thập chứng cứ.
Các hoạt động và nhiệm vụ toán được tạo ra hoặc được chọn lọc như
thế nào?
Các phương pháp được chọn để lôi cuốn HS vào các hoạt động như
thế nào?
Các phương pháp được sử dụng để thu thập và lưu giữ các chứng cứ
của sự thể hiện được xem xét như thế nào?
Lí giải chứng cứ.
Chất lượng của chứng cứ được xác định như thế nào?
Việc hiểu các thể hiện rút ra từ chứng cứ là như thế nào?
Tiêu chí cụ thể nào được áp dụng để nhận định các thể hiện?
Tiêu chí có được áp dụng phù hợp không?
Làm thế nào để các nhận định được tổng kết lại thành các kết quả?
Sử dụng kết quả.
Những kết quả được tường trình như thế nào?
Từ các kết quả thì những kết luận được rút ra như thế nào?
Dựa vào kết quả thu được hành động nào sẽ được tiến hành?
Làm thế nào để bảo đảm những kết quả này sẽ được sử dụng trong việc
dạy và đánh giá sau này?
1.1.2.2.
Xu hướng đánh giá mới trong giáo dục toán.
(Phần này trình bày theo [3, tr. 19-20]).
Mọi HS đều có khả năng học toán và việc hoc của các em có thể được
hợp tùy theo mức độ tư duy của HS. Mức độ “mở” trong mỗi câu hỏi phụ
thuộc vào số lượng các điều kiện dàng buộc trong câu hỏi.
Thang đánh giá chung
14
Thang đánh giá có thể chia thành các mức sau:
Mức 1: Lời giải tốt.
Mức này bao gồm hai loại:
Loại 1: Lời giải hoàn chỉnh: Loại A – 6 điểm.
Đưa ra lời giải đúng, đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc.
Có các biểu đồ, sơ đồ minh họa, giải thích.
Chứng tỏ hiểu rõ ràng tất cả nội dung toán học trong câu hỏi.
Trình bày lập luận chặt chẽ, có các ví dụ và phản ví dụ...
Có ý tưởng mở rộng, khám phá xa hơn vấn đề nêu ra.
Loại 2: Lời giải có năng lực: Loại A , 5 điểm.
Đưa ra lời giải đúng, rõ ràng với những giải thích hợp lí.
Hiểu được các nội dung quan trọng của vấn đề.
Trình bày các lập luận đúng, chắc chắn.
Mức 2: Lời giải thỏa đáng. Gồm hai loại:
Loại 1: Lời giải gồm những lỗi nhỏ nhưng vẫn thỏa đáng: Loại B, 4 điểm.
- Hoàn thành lời giải nhưng các lập luận còn có thể lúng túng, không
đầy đủ.
- Sơ đồ, biểu đồ không rõ ràng.
- Chỉ hiểu được các nội dung chính, một số liến thức phụ liên quan
chưahiểu.
- Sử dụng các khái niệm, thuật ngữ toán học hiệu quả.
Loại 2: Lời giải còn những lỗi quan trọng những cũng gần đạt yêu cầu:
khác nhau trong đó phương pháp quan sát, phỏng vấn rất cần được vận dụng.
Việc quan sát quá trình học toán của HS bao gồm: các quan sát trong
giờ dạy của GV, các buổi làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân khi giải quyết
vấn đề bài toán. Quan sát trực tiếp và đặt câu hỏi cho HS trong quá trình giải
quyết vấn đề là phương pháp rất hiệu quả để đánh giá một vài mục tiêu nào
đó. Phương pháp này cũng có thể được dùng để đánh giá thái độ, niềm tin.
16
Phương pháp quan sát.
Cách quan sát.
GV sử dụng đánh giá mọi lúc trong quá trình dạy học. Một ví dụ quan
trọng về đánh giá là sự quan sát có mục đích việc tham gia vào các hoạt động
giáo dục của HS. Có ba vấn đề cần quan tâm để có được hiệu quả trong đánh
giá quan sát:
Chọn nhiệm vụ phù hợp.
Một lớp học đánh giá thân thiện.
Một phương pháp gọn gàng và hiệu quả để ghi lại những điểm đặc sắc
từ việc quan sát HS.
Khung cảnh của đánh giá quan sát có thể như sau:Lớp học được chia
thành những nhóm nhỏ. Một nhiệm vụ được giao, đặc biệt là loại nhiệm vụ có
kết thúc mở và đòi hỏi nhiều hơn là việc nhắc lại các bướcgiải toán đã được
học. Mỗi nhóm làm việc một cách hợp tác về nhiệm vụ của mình và hoàn
thành lời giải vấn đề đặt ra.
Kỹ thuật quan sát.
Biết chia sẻ nhiệm vụ giữa các thành viên.
Khả năng trao đổi, đưa ra và bảo vệ lập luận của bản thân trước nhóm.
Thường xuyên đề xuất các ý tưởng cho nhóm không?
- Thái độ:
Chủ động trong việc tiếp cận bài toán hay không?
HS tỏ ra quan tâm, sẵn sàng, hứng thú trong việc giải quyết vấn đề
hay không?
Chứng tỏ sự tự tin của bản thân hay không?
Biết cố gắng vượt qua khi gặp khó khăn trong giải quyết vấn đề không?
HS có thường xuyên kiểm tra lại lời giải hay không, hay phải có sự
nhắc nhở của GV.
Kĩ thuật đánh giá thông qua quan sát.
- Các mặt quan trọng của đánh giá thường xuyên cần chú ý:
Quá trình đánh giá thông qua quan sát.
18
Thu thập chứng cứ để hỗ trợ đánh giá của GV.
Xây dựng hệ thống ghi chép có thể quản lí được.
Cân bằng giữa đánh giá của GV với các đánh giá khác.
- Các lựa chọn cần thực hiện:
Phương pháp quan sát.
Trọng tâm quan sát – các nhân hay nhóm.
Vai trò của GV – tham dự hay không tham dự.
Cách ghi chép quan sát – miêu tả, đánh dấu hay gạch chéo vào mã số
cá nhân.
Kĩ thuật đặt câu hỏi phỏng vấn.
Giai đoạn 4: Đánh giá.
Sau khi HS giải được bài toán GV nên đặt các câu hỏi dạng:
Em có thể mô tả lời giải, làm thế nào mà em tìm được lời giải đó?
Bài toán này có giống với một bài toán nào đó em đã giải không? giống
thế nào? Hay là một trường hợp đăc biệt của một bài toán đã gặp?
Em nghĩ rằng bài toán có thể giải được bằng cách khác không?
Bài toán có thể được tổng quát không? theo hướng nào?
1.1.3.3. Phương pháp tự đánh giá của HS.
Khái niệm
Để đánh giá chính xác quá trình tư duy toán trong giải quyết vấn đề của
HS, GV phải sử dụng phối hợp nhiều kĩ thuật khác nhau như quan sát, phỏng
vấn, câu hỏi mở có kết thúc...Tự đánh giá cũng là một kênh thu thập dữ liệu
hữu ích đối với GV trong việc góp phần đánh giá quá trình tư duy và thái độ
HS. Tất nhiên mức độ chính xác phụ thuộc nhiều vào tính trung thực của HS.
HS có thể học cách để đánh giá công việc của mình. HS học để chia sẻ
trách nhiệm về quá trình đánh giá khi các em hiểu được và đưa ra những phán
xét về chất lượng công việc của mình.
HS cũng học cách tìm kiếm những giải pháp trong những tình huống toán
phức tạp mà các em khám phá ra có thể cung cấp thông tin giúp các em xác
định xem con đường đi đến lời giải của mình có lí hay không khi so sánh với
các phương pháp khác mà các em có thể chọn.
Thiết kế các mẫu tự đánh giá.
20
Mẫu tự đánh giá của HS về khả năng giải quyết vấn đề: Khoanh tròn
một trong các chữ số 1, 2, 3, 4 tương ứng với mức độ phù hợp với bản thân
3. Hướng tiếp cận của em giải được bài toán.
4. Hướng tiếp cận của em hiệu quả và hay.
1. Em giải xong bài toán rồi dừng lại.
2. Em giải xong bài toán rồi đưa ra những nhận xét liên
21