2
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Bảng chữ viết tắt
Mục lục
Mở đầu
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của hội nhập
kinh tế Việt Nam -ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng
ở nước ta hiện nay.
1.1
Hội nhập kinh tế quốc tế và sự hội nhập kinh tế ASEAN
của Việt Nam
1.2
Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của hội nhập
kinh tế Việt Nam - ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng
Chương 2 Thực trạng tác động của hội nhập kinh tế Việt Nam
-ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta hiện nay.
2.1
Những tác động tích cực của hội nhập kinh tế Việt Nam ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta hiện nay.
2.2
Những thách thức từ hội nhập kinh tế Việt Nam-ASEAN
tác động đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta hiện nay.
2.3
Nguyên nhân của những thách thức và một số vấn đề đặt
ra từ sự tác động của hội nhập kinh tế Việt Nam - ASEAN
đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta.
Chương 3 Những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy
tác động thuận lợi, khắc phục trở ngại của hội nhập
kinh tế Việt Nam - ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục
185
196
MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân
tộc Việt Nam đã được ông cha ta tổng kết trong suốt lịch sử phát triển đất
nước. Ngày nay, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng, lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những
chuyển biến rất phức tạp. TCH, KVH đã, đang trở thành một xu thế khách
quan, tất yếu tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc
phòng-an ninh. Cách mạng nước ta vừa có vận hội lớn nhưng cũng vừa đứng
trước những thách thức không thể coi thường. CNĐQ, các thế lực thù địch
đang lợi dụng sự mở cửa, hội nhập của Việt Nam để tiếp tục thực hiện chiến
lược "DBHB", bạo loạn lật đổ kết hợp với răn đe quân sự và can thiệp vũ
trang khi có điều kiện nhằm xoá bỏ CNXH ở nước ta. Vì vậy, Đảng ta tiếp tục
khẳng định trong khi coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu,
phải luôn coi tăng cường củng cố quốc phòng là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng nhằm bảo đảm vừa đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vừa
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Để huy động mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước, Đảng
Cộng sản Việt Nam chủ trương tiếp tục chính sách mở cửa, đa phương hoá,
đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại và chủ động HNKTQT, đặc biệt
là với các nước ASEAN. Trong những năm đổi mới vừa qua chủ trương đó đã
góp phần tạo cho Việt Nam thế và lực mới để phát triển kinh tế- xã hội và
củng cố quốc phòng- an ninh của đất nước. Sự hội nhập kinh tế của Việt Nam
Đông Nam Á... Gần đây còn có một số công trình nghiên cứu về sự tác động
của HNKT Việt Nam - ASEAN đến sự phát triển kinh tế và quốc phòng của
đất nước như: " Việt Nam gia nhập ASEAN và ảnh hưởng của nó đối với sự
5
phát triển kinh tế của Việt Nam" của tác giả Đào Thị Ngọc Minh; "Một vài
suy nghĩ về tác động của Việt Nam gia nhập ASEAN đối với sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc ta hiện nay" của tác giả Nguyễn Ngọc Giao; "Quan hệ kinh tế Việt
Nam - ASEAN và tác động của nó đến quốc phòng- an ninh nước ta trong
giai đoạn hiện nay" của Bùi Quang Đức.
Nhìn chung các công trình trên đây chỉ chủ yếu tập trung đề cập đến
khía cạnh kinh tế của vấn đề hội nhập. Bên cạnh đó cũng có một vài công
trình đề cập đến khía cạnh quốc phòng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu về sự tác động của HNKT Việt Nam - ASEAN đến sự nghiệp
quốc phòng của đất nước một cách có hệ thống.
3- Mục đích, nhiệm vụ của luận án
* Mục đích:
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng về những tác động của
HNKT Việt Nam- ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng ở Việt Nam từ đó đề
xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác động tích cực,
khắc phục trở ngại của sự hội nhập đó đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta
hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của HNKT Việt
Nam - ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta.
- Phân tích làm rõ thực trạng những tác động chủ yếu của HNKT
Việt Nam - ASEAN đến những nhân tố tạo thành sức mạnh của nền quốc
phòng ở nước ta hiện nay.
- Phân tích tương đối toàn diện thực trạng những tác động của HNKT
Việt Nam - ASEAN đến sự nghiệp quốc phòng ở nước ta trong những năm
vừa qua.
- Là luận án đầu tiên của Việt Nam trình bày tương đối có hệ thống các
quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm khai thác những tác động thuận lợi, khắc
phục trở ngại của sự hội nhập kinh tế Việt Nam – ASEAN đến sự nghiệp
quốc phòng Việt Nam.
7 - Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7
- Góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tác động
của HNKT Việt Nam - ASEAN đối với sự nghiệp quốc phòng ở nước ta.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy một số
nội dung thuộc các môn: kinh tế chính trị XHCN, kinh tế quân sự, học thuyết
bảo vệ Tổ quốc trong các nhà trường quân sự.
8- Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 3 chương 7 tiết, phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP
KINH TẾ VIỆT NAM -ASEAN ĐẾN SỰ NGHIỆP QUỐC PHÒNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1- HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ SỰ HỘI NHẬP KINH TẾ ASEAN
CỦA VIỆT NAM
1.1.1- Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định HNKTQT, khu vực là bước đi tất
cường nội lực, cải cách, điều chỉnh cơ chế, chính sách, luật lệ, tập quán kinh
doanh, cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với “luật chơi chung” của quốc
tế. Điều này nhiều khi tạo cảm tưởng là các nước bị ép phải cải cách, mở cửa,
nhưng thực ra là vì sự phát triển của chính mình. Chính sách hội nhập gắn
chặt, dựa vào chiến lược phát triển của đất nước; đồng thời cải cách, điều
chỉnh cơ chế chính sách, luật lệ, hành chính phải bám sát với yêu cầu của hội
nhập. Cải cách bên trong quyết định tốc độ và hiệu quả của hội nhập, đồng
thời hội nhập sẽ hỗ trợ, thúc đẩy quá trình cải cách trong nước. Nhờ đó nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do vậy, hội nhập mang tính hai mặt vừa
hợp tác, vừa cạnh tranh và đấu tranh.
Ba là, HNKTQT diễn ra ở nhiều qui mô và cấp độ. Về qui mô có tam
giác, tứ giác, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực, liên châu lục và toàn cầu.
Cho đến nay đã hình thành ba tổ chức kinh tế toàn cầu: Quĩ tiền tệ quốc tế
(IMF) gồm 182 nước thành viên; ngân hàng thế giới (WB) gồm 180 nước
thành viên; tổ chức thương mại thế giới (WTO) gồm 144 nước thành viên.
Bên cạnh đó đã có hàng trăm tổ chức kinh tế khu vực như: liên lục địa
(ASEM, Đại Tây Dương...); khu vực (EU, APEC, ấn Độ Dương...); tiểu khu
10
vực (Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á, Nam Mỹ, Bắc mỹ...); liên quốc gia (chỉ
riêng ASEAN đã có tam giác phía Nam, tam giác phía Bắc, tam giác phía
Đông, tứ giác, tiểu vùng lưu vực sông Mê Kông...). Về cấp độ của HNKTQT,
bắt đầu từ sự thỏa thuận song phương và đa phương về buôn bán, trao đổi
hàng hoá, dịch vụ; tiếp theo là thoả thuận song phương và đa phương về thuế
quan bằng các hiệp định thương mại trong buôn bán, kinh doanh; cấp độ thứ
ba là thiết lập ưu đãi thuế quan dài hạn thông qua việc ký kết thỏa thuận giữa
các bên. Chẳng hạn, khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); cấp độ thứ tư
là thành lập thị trường chung; cấp độ thứ năm, cấp độ cao nhất cho đến thời
dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước
ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. Trong thương mại, Việt Nam
sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn
bán quá cảnh quốc tế. Đồng thời, Việt Nam tham gia mọi tổ chức hợp tác
quốc tế dưới sự lãnh đạo của liên hiệp quốc [61, tr. 470].
Đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, nước ta đã gia nhập SEV, tích
cực tham gia phong trào không liên kết, nhóm 77, liên hợp quốc mà một trong
những nội dung cơ bản là đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới công bằng,
thúc đẩy quan hệ hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước kể cả những
nước TBCN.
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và
HNKTQT càng được thể hiện rõ nét và được thực hiện tích cực hơn. Đại hội
lần thứ VI của Đảng đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nhằm đưa
nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội. Để phục vụ cho việc thực
hiện đường lối đổi mới, Đại hội và các Hội nghị Trung ương tiếp theo nhất là
Nghị quyết 13 (tháng 5 năm 1988) của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Hội nghị
Trung ương 8A (tháng 3 năm 1990) đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, đề
ra các chủ trương và giải pháp với nội dung chủ yếu là đẩy lùi chính sách bao
vây về kinh tế, cô lập về chính trị đối với nước ta, mở rộng quan hệ quốc tế.
Theo tinh thần đó, năm 1987 nước ta đã thông qua luật đầu tư nước ngoài với
những quy định khá thông thoáng.
12
Đại hội lần thứ VII đã mở ra bước đột phá mới, đưa ra đường lối đối
ngoại với khẩu hiệu: "Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố
rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" [23, tr. 40].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Tiếp
khoa học - công nghệ hiện đại.
Ngay từ những năm 1970-1980, thế giới đã từng chứng kiến sự phát
triển mạnh mẽ của cách mạng KH-CN, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ
thông tin, cộng với sự gắn kết giữa các quốc gia về vấn đề năng lượng, lương
thực, dân số, bệnh tật, môi trường sinh thái… đã làm cho sự phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia và sự phát triển của tiểu khu vực, khu vực, toàn cầu
ngày càng có sự liên quan mật thiết với nhau.
Khái niệm TCH xuất hiện và phổ cập vào những thập niên gần đây.
Theo một số thông tin thì khái niệm "TCH" (globalisation) được George
Modelski lần đầu tiên nêu ra vào năm 1972 trong tác phẩm "Principle of the
world politis" khi nói tới vấn đề liên minh châu Âu lôi kéo các nước khác vào
một hệ thống thương mại toàn cầu.
Về mặt kinh tế, TCH là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế
vượt khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng khu vực, lan toả ra phạm vi toàn
cầu, trong đó hàng hoá, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động... vận động thông
thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; mối quan hệ kinh tế giữa
các quốc gia, khu vực đan xen nhau, hình thành mạng lưới quan hệ đa tuyến,
vận hành theo các "luật chơi" chung được hình thành thông qua sự hợp tác,
đấu tranh giữa các thành viên của cộng đồng quốc tế. TCH kinh tế sẽ lôi cuốn
ngày càng nhiều nước, vùng lãnh thổ trên thế giới. Song sự tham gia hay hội
nhập của các nước vào quá trình đó đến mức độ nào còn tuỳ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế, KH-CN, năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị
trường, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước. Tuy vậy, đến nay trên thực tế
ở những mức độ khác nhau, nền kinh tế của tất cả các quốc gia đều đã trở
15
thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới thống nhất.
Cũng như bất kỳ hiện tượng kinh tế, chính trị- xã hội nào khác, TCH
25 mà nay đã lên tới hơn 100 [108, tr. 64].
TCH và KVH không có gì mâu thuẫn mà thực chất là hai mặt của cùng
một vấn đề: Nó củng cố lẫn nhau và cùng đi theo hướng hội nhập vào nền
kinh tế thế giới, khuyến khích tính năng động, phát triển. Thực tế đã cho thấy,
tại Châu Á, TCH đã góp phần nâng cao mức tăng trưởng và trình độ phát triển
kinh tế, nuôi dưỡng hội nhập khu vực, đặc biệt với sự thúc đẩy của Nhật Bản.
Trái lại tại khu vực Mỹ La Tinh, các sáng kiến mới đây về hội nhập khu vực
được nghiên cứu, triển khai theo hướng tạo điều kiện hội nhập vào tiến trình
TCH và đáp ứng được những điều kiện cạnh tranh mới mà tiến trình TCH đặt
ra. Vì vậy, không lấy gì làm lạ TCH và KVH luôn song hành với nhau trong
hơn một chục năm qua mặc dù các mối quan hệ của chúng cực kỳ phức tạp.
Bên cạnh sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới (World Trade
0nganization-WT0), là sự xuất hiện của các tổ khu vực: EU, NAFTA,
ASEAN, APEC…
Dưới góc độ chủ quyền quốc gia mặc dù quá trình TCH , KVH kinh tế
đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế Tư bản xuyên quốc
gia chi phối, nên có nhiều mặt tiêu cực, đe dọa độc lập chủ quyền của các
nước đang phát triển. Song nó vẫn lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới, bởi
bên cạnh mặt tác động tiêu cực nó cũng có cả những tác động tích cực, tạo
điều kiện thuận lợi cho các nước mở rộng môi trường kinh doanh, khai thác
các nguồn lực về vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, công nghệ, thị trường của
thế giới, khu vực để phát triển sản xuất trong nước, cải thiện cơ cấu kinh tế,
đời sống của nhân dân. Hơn nữa, tham gia vào các quan hệ kinh tế khu vực,
toàn cầu, các nước nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam có điều
kiện thực hiện sự đan cài lợi ích, tạo nên thế, lực mới trong bảo vệ nền kinh
tế độc lập tự chủ của mình, tăng thêm sự tin cậy của các đối tác, đồng thời
17
nhóm nước này phát triển theo hai con đường khác nhau và trở nên đối đầu
với nhau.
Từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu hướng KVH, TCH từng bước
thắng thế trên phạm vi toàn thế giới, do vậy trong phạm vi khu vực Đông
Nam Á xu hướng đối thoại đã từng bước thay cho đối đầu. Các nước ASEAN
từng bước khắc phục những khuyết tật của mình để đảm bảo tốc độ tăng
trưởng cao, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã
hội. Các nước Đông Dương, nhất là Việt Nam, Lào từng bước chuyển đổi nền
kinh tế từ hiện vật, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Cămpuchia từng bước giải quyết tốt hoà hợp dân tộc và cũng đang
trên con đường ổn định, phát triển kinh tế - xã hội.
Sự tồn tại và thành công của ASEAN trong những thập niên qua chính
là vì các thành viên của tổ chức này đã tìm thấy lợi ích quốc gia của mình
trong sự hội nhập khu vực. Sự đồng thuận về lợi ích đó là do bản thân
ASEAN được vận hành trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng về lợi ích của các
nước thành viên, thông qua cơ chế hoạt động mang tính nguyên tắc, đó là
"thương lượng" và "nhất trí".
Ngay từ đầu, những người sáng lập ra ASEAN đã có nhận thức tương
đối sâu sắc về sự cần thiết phải liên kết khu vực mới có thể khắc phục được
những khó khăn, hạn chế trong việc tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định để
cùng nhau phát triển. Chỉ có liên kết khu vực mới nâng cao được vị thế của
mình trong quan hệ với các đối tác kinh tế - chính trị và các nước lớn trên thế
giới. Từ nhận thức đó, nên ngay từ khi mới thành lập, các nước thành viên
trong tổ chức ASEAN đã thể hiện nguyện vọng kết nạp thêm các thành viên
mới nhằm mở rộng, nâng cao thế và lực của mình. Điều này được nêu rõ
trong tuyên bố Băng Cốc ngày 08 tháng 8 năm 1967: "Hiệp hội mở rộng cho
tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và
21
tộc trong cộng đồng quốc tế, giúp đỡ cùng nhau tiến bộ. Ngày nay cũng vậy,
cả dân tộc ta đang phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam XHCN, dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh và sẵn sàng là bạn, là đối tác
tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển.
Về kinh tế, các nước ASEAN có điểm xuất phát gần giống Việt Nam,
đã vươn lên thành những nước có nền kinh tế phát triển nhất ở khu vực hiện
nay. Hội nhập vào ASEAN sẽ giúp Việt Nam tận dụng được các nguồn ngoại
lực để nhanh chóng đuổi kịp và hoà nhập vào nhịp điệu phát triển chung của
các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, ASEAN là một tổ chức khu vực duy
nhất trên thế giới đã có mối quan hệ chặt chẽ và cơ chế đối thoại thường
xuyên với nhiều nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, Ôtxtrâylia, Nga,
Trung Quốc, Hàn Quốc...Vì vậy, hội nhập ASEAN sẽ giúp Việt Nam đẩy
mạnh hợp tác với các nước công nghiệp phát triển, tạo điều kiện cho đất nước
tận dụng các nguồn lực ngoài khu vực để đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội
và củng cố quốc phòng- an ninh .
Tựu chung lại, Việt Nam hội nhập ASEAN về kinh tế là phù hợp với
xu thế liên kết kinh tế quốc tế, khu vực, đáp ứng lợi ích không chỉ của Việt
Nam mà còn của cả ASEAN. Đó còn là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược
về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh đối với cả Việt Nam và ASEAN.
1.1.3.2- Tiến trình hội nhập kinh tế ASEAN của Việt Nam
Chủ truơng mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam
Á và tiến trình HNKT của Việt Nam vào ASEAN là phù hợp với tiến trình
chung của khu vực và thế giới. Tiến trình đó được thể hiện thông qua các
thời kỳ sau:
* Thời kỳ từ năm 1967 đến năm 1991. Đây là thời kỳ quan hệ Việt
ký được nhiều hiệp định hợp tác kinh tế song phương trên các lĩnh vực
thương mại, khoa học-kỹ thuật, hàng không, hàng hải.
23
Xu hướng phát triển trong quan hệ Việt Nam- ASEAN đang trên đà tốt
đẹp thì bị gián đoạn bởi sự cố Cămpuchia. Trong gần chục năm trời, vấn đề
"Cămpuchia" đã làm cho Việt Nam , ASEAN trở lại tình trạng đối đầu căng
thẳng, quan hệ Việt Nam với ASEAN trên hầu hết các phương diện kinh tế,
chính trị, ngoại giao gặp nhiều khó khăn trở ngại và xấu đi nhiều. Đứng trước
tình hình đó, với mong muốn về một khu vực Đông Nam Á hoà bình, ổn định
và hợp tác, trong suốt từ những năm 1980 đến 1985 Việt Nam đã liên tục đưa
ra các đề nghị để giải quyết vấn đề "Cămpuchia" và về hoà bình, hợp tác ở
Đông Nam Á. Cuối cùng những cố gắng đó của Việt Nam cũng được chấp
nhận và kết quả là tại hội nghị AMM tháng 2 năm 1985 các nước ASEAN đã
nhất trí cử Inđônêsia làm đại diện đối thoại với các nước Đông Dương, khẳng
định xu thế đối thoại giữa hai nhóm nước.
Tại Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới
toàn diện đất nước, về mặt đối ngoại, Việt Nam thực hiện chủ trương đối
ngoại đa phương hoá, đang dạng hoá. Đồng thời tuyên bố rút hết quân đội của
mình khỏi Cămpuchia vào tháng 9 năm 1989. Trở ngại lớn nhất trong quan hệ
Việt Nam-ASEAN từng bước được gỡ bỏ, vấn đề "Cămpuchia" dần đi vào
giải pháp hoà bình, quan hệ song phương Việt Nam với các nước ASEAN lại
tiếp tục phát triển. Các nước ASEAN cũng bắt đầu thể hiện thiện chí, mong
muốn có sự hội nhập của Việt Nam, Lào, Cămpuchia.
Quan hệ Việt Nam - ASEAN thực sự có những chuyển biến tích cực và
chấm dứt giai đoạn đối đầu, mở ra thời kỳ mới, hợp tác để phát triển từ khi
hiệp định Pari về Cămpuchia được ký kết vào tháng 10 năm 1991. Có thể nói,
Mặc dù phải trải qua những bước thăng trầm trong quan hệ giữa hai bên,
khoảng trên 40 hiệp định song phương, đa phương giữa Việt Nam và các
thành viên ASEAN được ký kết [48, tr.16].
Tại diễn đàn khu vực (ARF) tháng 7 năm 1994, Bộ Trưởng Ngoại giao
25
Việt Nam đã tham dự, tại cuộc họp này ASEAN đã mời Việt Nam tham gia
các chương trình, dự án của ASEAN trên lĩnh vực KH-CN, môi trường, y tế,
văn hoá - thông tin, du lịch. Tiếp đó, tháng 9/1994 Việt Nam được mời dự Hội
nghị Bộ Trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 26.
Ngày 28-7-1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
ASEAN và ngay sau đó Việt Nam tuyên bố gia nhập khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), bắt đầu thực hiện chương trình cắt giảm thuế từ ngày 1-11996 và hoàn thành vào năm 2006. Đây là sự kiện quan trọng, mở ra một
trang mới trong quan hệ kinh tế Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á.
Với tư cách là thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam đã, đang
hội nhập vào các hoạt động hợp tác kinh tế trong khuôn khổ ASEAN. Phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam đã gia nhập phòng thương mại và công
nghiệp ASEAN, Việt Nam cũng đã tham dự các hội nghị kinh tế, các chương
trình hợp tác kinh tế, các hiệp định về đầu tư, công nghệ, nông - lâm - ngư
nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông dưới các hình thức, cấp độ
đa dạng phong phú.
1.1.3.3- Nội dung hội nhập kinh tế Việt Nam - ASEAN
Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, mối quan hệ
hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với ASEAN từng bước được mở rộng, Việt
Nam có điều kiện thuận lợi hơn để hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế khu
vực, thế giới. Với tư cách là thành viên của ASEAN, Việt Nam có quyền lợi
và nghĩa vụ tham gia xây dựng, thực hiện các chương trình liên kết kinh tế tập
thể, song phương theo qui chế hợp tác mà hiệp hội đề ra. Trong đó tập trung
chủ yếu vào các nội dung sau:
định của CEPT ở nước ta như sau: Không gây ảnh hưởng tới nguồn thu ngân
sách; Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước; Tạo điều kiện khuyến khích