MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA TRUNG - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG
Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA TRUNG

Người thực hiện: Ngô Thị Hải
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Trung
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA NĂM 2015

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúc sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của
cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn, tôn
trọng nó”. Đặc biệt trong công tác giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non, chúng ta lại
càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp
phần đào tạo các cháu trở thành những con người phát triển một cách toàn diện.
Thế giới của trẻ thơ là thế giới của hàng ngàn câu hỏi về sự vật, hiện
tượng xung quanh trẻ mà trẻ muốn khám phá. Ngôn ngữ là một phương tiện
hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ
giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua
cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong
môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các

Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại
được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của
người lớn. Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở
thành một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu
để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người
lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ
tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ.
Trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật, nhờ
đồ vật này mà trẻ khám phá ra các thuộc tính, nắm được những chức năng và
phương thức sử dụng đồ vật “theo kiểu người lớn” có ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển tâm lý của trẻ. Trong quá trình giao tiếp với người lớn, những tiền đề đầu
tiên của ngôn ngữ xuất hiện và trẻ bắt đầu hiểu được lời nói của người lớn và
phát âm được những từ đầu tiên. Trẻ tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách
độc lập và tự do hơn, thay đổi cả hình thức giao tiếp với người lớn. Thế giới đồ
vật đã trở thành đối tượng nhận thức của trẻ, nhu cầu nhận thức tò mò, ham hiểu
biết được phát triển hết sức mạnh mẽ. Hứng thú hoạt động với đồ vật ngày một
tăng lên, kích thích trẻ hướng đến người lớn để nhờ giúp đỡ. Từ đó nảy sinh nhu
cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ, đây là thời kỳ chuyển từ tiền phát triển ngôn ngữ
sang phát triển ngôn ngữ và là thời kỳ phát triển ngôn ngữ nhanh nhất. Trẻ học
nói nhanh, vốn từ tăng nhanh, trẻ nắm được ngôn ngữ của mẹ đẻ. Trẻ đã biết bắt
chước người lớn những âm thanh chưa chuẩn. Nhiều chức năng ngôn ngữ như
thông báo, khuyến khích, xin phép… được trẻ tập và sử dụng chính xác, hay đặt
câu hỏi với người lớn. Một điều quan trọng phải chú ý luyện và rèn phát âm
đúng, chuẩn các phụ âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm và các dấu thanh để giúp
trẻ nói chuẩn ngay từ khi trẻ biết nói.
Nói tóm lại, việc rèn luyện cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi phát âm, phát triển
vốn từ, nghe hiểu lời nói, nhắc lại các âm, các tiếng và các câu. Biết sử dụng
ngôn ngữ giao tiếp. Đó là nhiệm vụ rất quan trọng, cấp thiết của cô giáo Mầm
3


trong giao tiếp, một số trẻ chưa qua nhóm bé 18-24 tháng, nên chưa quen với
môi trường có nhiều người, tâm lý trẻ có cảm giác bỡ ngỡ. Đặc điểm của trẻ ở
độ tuổi này hay bắt chước, trẻ dễ nhớ nhưng lại chóng quên. Trẻ được tiếp xúc
với các cô ở trường, với cha mẹ và mọi người xung quanh khi ở nhà, xong một

4


số người khi dạy trẻ chưa chú ý đến phát triển ngôn ngữ chuẩn cho trẻ. Do vậy
việc phát triển ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế.
4. Kết quả của thực trạng
Từ thực trạng trên tôi đã khảo sát đầu năm học: (tháng 9 năm 2014)
Số
trẻ

28

Nội dung khảo sát

Khả năng nghe hiểu lời
nói
Nghe, nhắc lại các âm,
các tiếng và các câu.
Khả năng sử dụng ngôn
ngữ giao tiếp.
Làm quen với sách.

Số cháu đạt
Tốt


5

18

12

43

7

25

4

14

6

22

10

36

8

28

4


ban hành. “Qua sách báo trên mạng intenet” kinh nghiệm của các đồng nghiệp
qua các giờ dạy mẫu, qua các lớp chuyên đề do nhà trường và Phòng giáo dục tổ

5


chức hàng năm. Từ đó tôi đã rút được kinh nghiệm và vận dụng một cách phù
hợp, sáng tạo ở lứa tuổi mình đang dạy. Khi tổ chức các hoạt động học cho trẻ
tôi phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, xem trẻ có khả năng như thế nào, loại
đề tài nào. Từ đó đưa ra các hình thức tổ chức sao cho phù hợp và có thể thu hút
trẻ tập trung chú ý. Đồng thời tôi chuyển bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phong phú
hấp dẫn để trẻ tham gia hoạt động tích cực hơn. Từ đó kích thích sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ tốt hơn.
2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động chơi tập có chủ định.
2.1. Thông qua các hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.
* Thông qua hoạt động kể chuyện.
Kể chuyện cho trẻ nghe có tác dụng làm giàu vốn từ, bồi dưỡng năng lực
cảm thụ tác phẩm nghệ thuật và diễn đạt bằng ngôn ngữ văn học. Khi kể chuyện
cho trẻ nghe để khích thích trẻ phát triển ngôn ngữ thì tôi chuyển bị đồ dùng
minh họa (bộ tranh chuyện, sa bàn, tranh chữ to..) giọng kể phải diễn cảm, có
kết hợp động tác của cô.
Ví dụ: Kể chuyện “Quả thị”

Cô kể chuyện theo tranh xong cô hỏi:
Cô vừa kể câu chuyệ gì? (Thưa cô, chuyện Quả thị)
Trong chuyện có những con gì? (Thưa cô, con vịt, con mèo). Nếu trẻ
không trả lời được thì tôi đưa tranh ra chỉ vào con vị, con mèo để trẻ nói “con

6


mượt vươn cổ gáy ò ó o o để gọi em bé thức dạy. Em bé rất xinh và ngoan. Ai
cũng yêu em bé”
* Thông qua hoạt động dạy trẻ đọc thơ.
Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” cô muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp vòng quanh ”
7


Cô có thể cho trẻ quan sát vật thật. cho trẻ được xem , được sờ, ... các lá bắp cải
sắp vòng quanh như thế nào? Cô vừa giải thích vừa chỉ cho trẻ xem và cho trẻ
cùng làm động tác mô phỏng các lá cải được xếp vòng quanh với nhau tạo thành
cây bắp cải xanh. Bên cạnh đó cô cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi :
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì ? (Cây bắp cải)
+ Cây bắp cải được tác giả miêu tả đẹp như thế nào ? (Xanh man mát, ..)
+ Lá bắp cải đựơc tác giả miêu tả như thế nào ? (Sắp vòng quanh)
Như vậy thơ, truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của
trẻ mà còn dạy trẻ thể hiện và mô phỏng những động tác tương ứng với nhân vật
trong bài thơ, câu truyện. Khi trẻ đã biết kể lại truyện cùng với cô điều đó chứng
tỏ trẻ đã biết ghi nhớ cốt truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện,
lĩnh hội kinh nghiệm tiếp thu kiến thức, biết sử dụng nhiều từ mới thể hiên sự
tương ứng với nội dung câu truyện đó.
2.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động chơi tập có chủ
định khác.
* Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói.
Trong khi dạy trẻ nhận biết tập nói không nhất thiết cứ phải sử dụng tranh
hoặc vật thật hoặc cho trẻ dạo chơi thăm quan mà tùy vào từng nội dung của đề
tài để tôi chọn giáo cụ trực quan cho phù hợp.
Ví dụ: Khi dạy nhận biết “Quả cam” tôi đã suy nghĩ nêu câu hỏi và chọn
giáo cụ trực quan nào để cháu học có kết quả tốt hơn.
Nếu tôi sử dụng tranh minh họa thì trẻ sẽ không có cơ hội để sử dụng các
giác quan của mình, giờ học sẽ không sinh động, trẻ sẽ chán chóng quên. Vì vậy

Qua đó có thể thấy rằng, việc sử dụng đồ dùng trực quan, cách đặt câu hỏi
cho trẻ trong mỗi giờ học là rất quan trọng. Bởi vì khi sử dụng đồ dùng phù hợp
trẻ có hứng thú, câu hỏi phù hợp trẻ sẽ trả lời tích cực, giờ học sẽ rất sôi nổi, thu
hút lôi cuốn trẻ, cháu tập trung học tập tốt hơn. Từ đó giúp trẻ phát triển ngôn
ngữ một cách chính xác hơn.
9


* Thông qua hoạt động nhận biết phân biệt.
Ví dụ: Khi trẻ nhận biết phân biệt màu đỏ- màu vàng.
Cô chỉ vào hình khối hỏi trẻ;
+ “Đây là gì?- Đây là hình khối.”
+ “Đây là hình khối mầu gì? – Màu đỏ.”
+” Đây là màu gì? – Màu vàng”
+ Con đang xếp gì đấy? – Con xếp ngôi nhà.”
+ “Con xép như thế nào? - Con xếp chồng lên”
Qua câu hỏi của cô giúp trẻ hiểu được lời nói và hình thành được ngô ngữ
tích cực từ đó giúp trẻ phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ.
* Thông qua hoạt động âm nhạc.
Các tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều với nhiều đồ vật (Trống, lắc,
phách tre, và nhiều chất liệu) trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với
các loại hoạt động (vận động) theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm được
như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức, vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp
bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp
trẻ yêu âm nhạc .
Qua những giờ âm nhạc học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng
ngôn ngữ có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những
hình ảnh đẹp của bài hát.
Ví dụ : Hát và vận động bài “Con voi”
Trẻ biết sử dụng động tác minh hoạ đơn giản như :

Để kích thích trẻ trả lời các câu hỏi tôi thường chú ý phát hiện những cái
mới lạ của trẻ, hay phụ huynh đưa trẻ đến lớp để trò chuyện với trẻ.
Ví dụ: Tôi thấy cháu Bảo Ngọc có đôi dép mới, tôi hỏi cháu:
Hôm nay con có gì mới kể cho cô nghe nào? (Thưa cô con có đôi dép mới)
Đôi dép này màu gì? Trẻ nói: (màu vàng) tôi sủa lại (thưa cô, mầu vàng)
Đôi dép dùng để làm gì? Trẻ nói: (Đi vào chân), Tôi sửa lại (thưa cô, để đi
vào chân cho sạch)
Ai mua dép này cho con? (Thưa cô, mẹ con mua)
Tôi tranh thủ mọi lúc, mọi nơi như giờ đón, trả trẻ để trò chuyện với trẻ,
đặc biệt chú ý những trẻ yếu về ngôn ngữ. Khi trò chuyện với trẻ phải dựa vào
kinh nghiệm có sẵn của cô và sự hiểu biết của trẻ để sử dụng câu hỏi cho phù
hợp và khuyến khích trẻ được nói. Khi tiến hành trò chuyện với trẻ phải tạo điều
kiện và bầu không khí tự do, thoải mái, nói chuyện tự nhiên, cô thật sự thu hút
hấp dẫn trẻ thông qua giọng nói, nét mặt, cử chỉ, hành động.
Đối với trẻ nhà trẻ, trẻ mới đến trường còn lạ cô, lạ bạn nên hay sợ sệt,
hoảng sợ nên tôi luôn phải âu yếm, vuốt ve để biểu hiện cảm xúc yêu thương,
gần gũi, khi trò chuyện với trẻ tôi thường bế và nựng trẻ.
11


Ví dụ: “Hôm nay ai đưa con tới trường?”, trẻ thường chỉ trả lời “Bố”
hoặc “Mẹ” tôi phải sửa ngay cách nói “Bố con ạ” hoặc “Mẹ con ạ”.
Hay: Cô hỏi: “Trường con tên gì?, Cô giáo con là ai?”,… Khi chơi với trẻ
tôi gọi tên trẻ, tên bạn để trẻ nhận biết được tên các bạn trong lớp.
* Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động dạo chơi thăm quan.
Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi, vốn từ của trẻ còn rất ít, nhiều khi trẻ muốn
nói ra một sự việc nào đấy nhưng trẻ lại không biết dùng từ ngữ gì để diễn đạt
nên cháu thường ê..a hay đang nói giữa chừng lại không nói nữa vì không có từ
để diễn đạt. Vì vậy giáo viên cần bổ sung và làm giàu thêm vốn từ cho trẻ.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát cây nhãn, tôi sử dụng các câu hỏi đàm thoại

+Thông qua hoạt động với đồ vật
Ví dụ: Xâu vòng hoa tặng bạn

13


(Hình ảnh bé đang xâu vòng ỏ góc hoạt động với đồ vật)
+ “Hoa này con để làm gì? - Con xâu vòng”
+ “Con xâu như thế nào? – Con xâu dây chui qua lỗ”
+ “Xâu xong con làm gì? – Con buộc hai đầu dây lại”
Nếu trẻ chưa nói được tên các đồ chơi cô cần nhắc lại cho trẻ vài ba lần và
sau đó tổ chức trò chơi cho trẻ ghi nhớ biểu tượng hơn và sau đó trẻ thể hiện
bằng ngôn ngữ tương ứng.
+Thông qua góc “Thao tác vai”
Trẻ được thao tác với đồ vật và còn được giao lưu với đồ vật.
Ví dụ: Trẻ chơi trò chơi “Bế em” trẻ bế búp bê, trẻ biết ru em ngủ, cho
em ăn… khi ru ngủ trẻ vỗ về “Em ngủ nào”, ru em à ơi. Khi cho trẻ ăn trẻ nói
“Chị cho em ăn nhé”, “Em ăn ngoan nào”.
Trẻ chơi trò chơi “Bán hàng” trẻ được giao lưu với bạn.
Trẻ có thể hỏi : “Bác mua gì ạ?” - “Tôi mua rau bắp cải”.
“Rau bắp cải của bác đây ạ”

Hình

14


(Hình ảnh: Bé chơi thao tác vai)
Muốn trẻ chơi thành thạo, biết giao tiếp với bạn, tôi luôn phải hòa nhập,
đóng vai chơi cùng với trẻ để hướng dẫn trẻ chơi, gợi ý để trẻ trả lời, tạo điều

Ví dụ: Khi cho trẻ ăn cam tráng miệng tôi đưa ra các câu hỏi:
+ Con đang ăn quả gì? (Thưa cô quả cam)
+ Ăn cam con thấy thế nào? (Thưa cô, con thấy ngọt)
+ Khi ăn cam phải làm gì? (Thưa cô, bóc vỏ, bỏ hạt ạ)
Vì tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động, nói đến quả cam trẻ cần
được nhìn, sờ, ngửi hoặc nếm quả cam thì những ấn tượng, biểu tượng của quả
cam sẽ khắc sâu và gắn liền với trẻ.
Thông qua trò chuyện và đàm thoại không chỉ giúp trẻ phát triển khả năng
nghe hiểu lời nói, sử dụng câu đúng ngữ pháp mà còn góp thêm phần rèn luyện
cho trẻ thói quen mạnh dạn trong giao tiếp.
* Phát triển ngôn ngữ thông qua giờ ngủ.
Khi đến giờ ngủ tôi nói: “Đến giờ ngủ rồi, các con nằm vào sạp nào”. Trẻ
hiểu lời nói của cô và lên sạp nằm. “Cô hỏi: Đến giờ ngủ con như thế nào?” Trẻ
nói; “con không nói chuyện, nằm thẳng, hai tay để lên bụng.” Hàng ngày tôi hỏi
trẻ như vậy và trẻ chưa trả lời được tôi nhắc trẻ, sau một thời gian trẻ đã trả lời
16


câu hỏi của cô giáo rõ ràng. Không chỉ trò chuyện với trẻ như vậy, mà khi trẻ
nằm ổn định tôi còn mở đĩa bài hát ru với âm lượng nhỏ đủ nghe, giúp trẻ cảm
thấy ấm áp và dễ ngủ hơn.
Thông qua trò chuyện và lời hát ru ở giờ ngủ trẻ được cung cấp thêm vốn
từ, rèn luyện kỹ năng nghe. Từ đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn.
Kết quả: Qua trò chuyện và đàm thoại với trẻ qua các hoạt động khác
trong ngày thì trẻ ở lớp tôi đã mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Một số cháu
từ việc đến lớp không chào cô, chào bố mẹ nay đã chủ động chào. Một số cháu
mới đầu nói câu 1-2 từ nay đã nói câu 4-5 từ (cháu chào cô ạ)
4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Để giúp cháu nói được tốt hơn tôi còn dùng các hình thức trò chuyện với
trẻ trong tất cả các hoạt động từ khi đón trẻ cho đến lúc trả trẻ. Cô có thể trò

ăn gì?” “Cơm với cá hoặc con ăn cơm với thịt gà,”… để từ đó phụ huynh cùng
với cô giáo rèn kuyện cho trẻ ở nhà cũng như ở trường.
Khi ở gia đình bố mẹ có mua sắm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ nhưng chơi
như thế nào? thì phương pháp thực sự còn chưa quan tâm, chơi cùng trẻ và
hướng dẫn trẻ chơi. Do đó sự trao đổi giữa cô và phụ huynh là rất cần thiết.
Ví dụ: Mua búp bê chỉ đưa cho trẻ thì trẻ chỉ chơi một lúc là chán. Nhưng
ở lớp trẻ chơi với búp bê thì cô phải hướng dẫn trẻ bế em, cho em ăn, lau miệng,
uống nước rồi cho em ngủ, thông qua lời nói kết hợp với động tác, qua đó trẻ bắt
chước những thao tác đó với những lời nói mang tính biểu cảm như “Chị yêu
em”, “Chị cho em ăn nhé”, “Em của chị ngoan lắm”…
Một số trẻ còn nói ngọng, nói lắp chưa được cha mẹ quan tâm, cần chú ý
sửa sai cho trẻ, có khi còn cho nghe lại thấy hay hay nên tạo thành thói quen
không tốt cho trẻ. Do đó phải có sự trao đổi, phối hợp giữa cô với phụ huynh là
rất cần thiết.
Ví dụ: Cháu Phương là cháu nói rất ngọng, hàng ngày tôi gần gũi hỏi
“Cháu con mẹ gì?” - “Con mẹ Sùy” tôi bảo Phương phải nói là “Con mẹ Thùy”
trẻ nói“quả khế” là “quả hế” tôi cho trẻ nói lại là “quả khế” . Tôi đã luyện cho
trẻ phát âm nhiều lần và trao đổi với phụ huynh về nhà cũng sửa lỗi sai cho trẻ.
Qua sự phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, trẻ đã dần dần tiến bộ và không còn
nói ngọng, nói lắp nữa.
IV. KIỂM NGHIỆM.

Sau một năm học, tôi thực hiện áp dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, thông qua trò chuyện và đàm thoại, thông qua hoạt
động có chủ đích, thông qua hoạt động vui chơi và phối hợp với các bậc phụ
huynh giúp trẻ phát triển ngôn ngữ đã đạt được kết quả thể hiện qua bảng khảo
sát cuối năm như sau:

18


5

18

1

4

Nghe, nhắc lại các âm,
các tiếng và các câu.

10

36

11

39

6

21

1

4

Khả năng sử dụng
ngôn ngữ giao tiếp.


2

8

Khả năng nghe hiểu lời
nói.
28

Chưa
đạt

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN

Vậy muốn có được kết quả trong việc phát triển vốn từ cho trẻ qua quá trình
thực hiện tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và
phát triển nhân cách trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, tự rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn tiếng việt.
- Để phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện thì cô giáo cần phải thực
hiện ba nhiệm vụ :
+ Làm giầu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, đàm thoại,
hướng dẫn trẻ vui chơi, kể chuyện và đọc chuyện cho trẻ nghe.
+ Củng cố vốn từ cho trẻ
+ Tích cực hóa vốn từ cho trẻ.
- Giáo viên phải biết phối hợp chặt chẽ ba nội dung trên để góp phần tạo
điều kiện cho trẻ lĩnh hội những điều mới lạ về thế giới xung quanh
- Giáo viên luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, động viên trẻ đi
học đều, tạo điều kiện quan tâm đến những trẻ nhút nhát, giành thời gian gần


của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để SKKN của tôi được hoàn chỉnh
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng tuổi nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2015

20


CAM KẾT KHÔNG COPY
Tác giả

Nguyễn Thị Hoài

Ngô Thị Hải

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status