khóa luận tốt nghiệp Từ quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về vai trò của quần chúng nhân dân đến tư tưởng “lấy dân làm gốc”của hồ chí minh - Pdf 40

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Không phải đến lúc chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, quần chúng nhân dân
mới có vai trò to lớn đối với lịch sử. Ngay từ xa xưa, thuở bình minh của nhân
loại, lúc con người mới liên kết lại với nhau tạo nên các “cộng đồng” người, họ
đã biết sức mạnh của “bầy đàn”, luôn lớn hơn sức mạnh của cá thể. Khi các
hình thức tổ chức Nhà nước với những biến chuyển về “chất” lần lượt ra đời
thay thế nhau, cho dù là ở hình thức tổ chức nào đi chăng nữa, dù ở đó luôn có
các cá nhân kiệt xuất, những người con ưu tú của thời đại, đứng đầu dẫn dắt,
lãnh đạo đưa ra các quyết định có tính chất bước ngoặt cho lịch sử, nhưng chỉ
có các cá nhân, lãnh tụ, các vĩ nhân kiệt xuất không thôi chưa đủ, lịch sử khó
có thể sang trang mới, xã hội loài người khó tiến bộ nếu thiếu mất một lực
lượng cơ bản, lực lượng chủ yếu tạo nên các cuộc cách mạng xã hội, quyết định
sự phồn vinh hay suy thoái, tồn tại hay suy vong của xã hội: Đó chính là quần
chúng nhân dân.
Chỉ đến lúc chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, vai trò to lớn đó của quần
chúng nhân mới được khẳng định một cách đúng đắn, khoa học. Chủ nghĩa
Mác-Lênin khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân không chỉ giới
hạn trong phạm vi một lãnh thổ, một quốc gia, một dân tộc hay một thời đại
nào, mà nó đúng ở mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới.
Vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử đã được khẳng định như là
một chân lý bất dịch, không chỉ là một quan điểm lý luận mà là một bộ phận
khăng khít của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử. Hồ Chí Minh là lãnh
tụ đầu tiên ở Việt Nam đã tiếp thu quan điểm đó, vận dụng sáng tạo vào hoàn
cảnh Việt Nam và phát triển nó trong điều kiện mới của lịch sử. Người đã
khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không
phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”[13; 7]. Hồ Chí Minh đã thấm
1



2


giáo dục và đào tạo biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành từ
năm 1992 đến nay.
 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng trong các trường Cao đẳng,
Đại học do Bộ giáo dục và đào tạo, biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2003 đến 2009.
 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy dân làm gốc”, của tác giả Phạm Bá
Lượng, Học Viện An Ninh, trên tạp chí Triết học, số 2 tháng 2/2005.
 Luận văn thạc sỹ “Quan điểm của triết học Mác-Lênin về vai trò quần
chúng nhân dân trong lịch sử và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam”,
của Trần Văn Đặng, Huế - 2006.
 “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quần chúng nhân dân và bài
học “Lấy dân làm gốc” trong giai đoạn hiện nay” của Dương Thị Thu Hương,
khóa luận tốt nghiệp, năm 2003.
 Bài học “Lấy dân làm gốc” trong lịch sử tư tưởng Việt Nam với công
tác vận động quần chúng giai đoạn hiện nay”, của Nguyễn Thanh Niềm, khóa
luận tốt nghiệp, năm 2009.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi kế thừa có chọn lọc những kết quả
nghiên cứu đó, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa tư tưởng “Lấy
dân làm gốc” của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân và tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh, từ đó vạch ra ý
nghĩa của quan điểm này đối với giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Nhiệm vụ:
 Khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần
chúng nhân dân.

Chương 2: Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.
2.1. Cơ sở hình thành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh
2.2. Nội dung tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và ý nghĩa
của nó trong giai đoạn hiện nay

4


NỘI DUNG
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ
VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
1.1. Quần chúng nhân dân, nhân tố quyết định lịch sư
1.1.1. Khái niệm quần chúng nhân dân
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định chủ thể chân chính sáng tạo ra và
quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử là quần chúng nhân dân. Quá
trình vận động, phát triển của lịch sử luôn diễn ra thông qua hoạt động của
đông đảo quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một cá nhân hay một tổ
chức, nhằm thực hiện những mục đích nhất định. Bởi vì, mọi lý tưởng giải
phóng xã hội, giải phóng con người tự nó không biến đổi được hiện thực, mà
phải thông qua sự tiếp thu (nhận thức) và hoạt động thực tiễn của quần chúng
nhân dân. C.Mác đã viết: Cố nhiên vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê
phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bằng lực lượng vật
chất. Nhưng mỗi khi lý luận thâm nhập vào quần chúng thì sẽ trở thành lực
lượng vật chất.
Tuy nhiên, trong lịch sử, vì lợi ích giai cấp mà người ta đã đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau, thậm chí là đối lập nhau về vai trò của quần chúng nhân
dân và cá nhân trong lịch sử. Tư tưởng tôn giáo, cho rằng mọi sự thay đổi trong
xã hội là do ý chí của đấng tối cao “thượng đế”, “chúa trời”, “mệnh trời”, được
cá nhân thực hiện. Triết học duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của

Thứ nhất: những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và của
cải tinh thần cho xã hội, đây là lực lượng hạt nhân cơ bản của quần chúng
nhân dân, do đó thường có tên gọi là quần chúng nhân dân lao động.
Quần chúng nhân dân không phải tất cả các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội, mà nó là bộ phận đông đảo của xã hội, trước hết là người lao động
sản xuất của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội, là nhân tố quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, lực lượng lao động cơ
bản của thời đại là giai cấp công nhân.
Chính nguời lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, đã
sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Với sức mạnh về vật lực và trí lực của
6


mình người lao động đã tác động vào giới tự nhiên, cải tạo các dạng vật chất
tự nhiên, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất, đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người và xã hội. Cũng chính quá
trình lao động sản xuất đó, người lao động đã không ngừng được phát triển cả
về số lượng lẫn chất lượng lao động cả về thể lực lẫn trí lực. Ngày nay, cùng
với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình
độ lao động của quần chúng nhân dân ngày càng được nâng cao một cách rõ
rệt.
Thứ hai: những bộ phận dân cư chống lại những lực lượng xã hội
lạc hậu, phản động, giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân
dân.
Quần chúng nhân dân không phải tất cả các bộ phận dân cư trong xã
hội, mà chỉ bao gồm các giai cấp, các tầng lớp xã hội bị thống trị áp bức bóc
lột, đó chính là lực lượng xã hội đối kháng với giai cấp thống trị áp bức, bóc
lột. Chính lực lượng xã hội này đã thực hiện những cuộc đấu tranh giai cấp
chống lại giai cấp thống trị áp bức bóc lột, làm nên những cuộc cách mạng xã
hội đưa lịch sử xã hội loài người phát triển từ thấp đến cao. Đây chính là lực

Con người sáng tạo ra lịch sử, song vai trò quyết định đối với sự phát
triển xã hội là ở một cá nhân đặc biệt hay quần chúng nhân dân đông đảo?.
Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các trường phái triết học trước
Mác đều chưa nhận thức được vai trò của quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn
giáo và chủ nghĩa duy tâm cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do
ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên và trao quyền cho các cá nhân
thực hiện, lịch sử chỉ còn là lịch sử của cá nhân lãnh đạo, nắm quyền lực cùng
với tư tưởng của họ, quần chúng nhân dân chỉ là vật mang công cụ thực hiện
tư tưởng của các “đấng bề trên” mà thôi. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẩn
chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm về xã hội, khi cho rằng nhân tố quyết định
sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới
sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu. Khi đề cao vai trò quần chúng nhân
dân, thì lại phủ nhận vai trò vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoa
học vai trò quần chúng nhân dân.
Với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh một cách
khoa học vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn
8


mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân kiệt xuất trong sự phát
triển của xã hội. Chính quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra
lịch sử, xã hội, và cá nhân kiệt xuất là sản phẩm của thời đại là người lãnh đạo
quần chúng nhân dân đấu tranh, làm cách mạng thắng lợi. Bởi vì, mọi lý
tưởng giải phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và
hoạt động của quần chúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự do không làm biến
đổi xã hội mà phải thông qua hoạt động cách mạnh, hoạt động thực tiễn của
quần chúng nhân dân (để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời
sống xã hội).
Chính lý luận sắc bén mang tính khoa học và cách mạng chủ nghĩa
Mác-Lênin đã bác bỏ luận điểm của các nhà triết học duy tâm và duy vật

cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm lao động chân
tay và lao động trí óc. Người ta chỉ có thể sản xuất được bằng cách hợp
tác với nhau theo một cách nào đó và trao đổi hoạt động với nhau.
Thực tiễn sản xuất của loài người, của quần chúng nhân dân là cơ sở và
là động lực, phát triển của khoa học-kỹ thuật. Khoa học không có lý do tồn tại
nếu không có hoạt động sản xuất. C.Mác, Ph.Ăngghen đã từng nói: “Chính
con người khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình
đã làm biến đổi cùng với sự tồn tại của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy
của mình”[12; 277].
Đến lượt nó khoa học lại thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất
lao động. Khoa học-kỹ thuật cũng không hoạt động riêng lẻ của một số cá
nhân nào. Ngày nay, nhân dân lao động trước hết là giai cấp công nhân và đội
ngũ trí thức là lực lượng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, trí tuệ cao. Nền sản
xuất xã hội sẽ sa sút, kém hiệu quả nếu tài năng trí tuệ, năng suất lao động của
đông đảo những người lao động không được phát huy, không được nâng cao.
Trong trường hợp đó khoa học cũng khó phát triển. Đó là cơ sở để khẳng định
hoạt động sản xuất của quần chúng là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn
tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai: quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội.
Quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng quyết định sự phát triển
của sản xuất, mà còn là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
10


Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp
thống trị và giai cấp lao động bị trị. Khi quan hệ sản xuất đã trở thành xiềng
xích kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến mâu thuẫn giai
cấp đối kháng không thể dung hòa, điều hòa được, tất yếu dẫn đến đấu tranh

Ngay cả trong thời kỳ hòa bình, tức khi cuộc đấu tranh giai cấp của
quần chúng nhân dân chống lại bọn thống trị áp bức, bóc lột chưa chuyển
thành cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân cũng có tác dụng thúc đẩy mọi
lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ
thuật,.. phát triển. Không những thế nó còn có tác dụng cải tạo ngay chính cả
bản thân giai cấp cách mạng.
Chính vì vậy, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân là ngày
hội của quần chúng nhân dân, là động lực của những biến cố lịch sử.
Thứ ba: quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra những giá
trị văn hóa, tinh thần.
Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất, trong cách mạng xã hội, mà còn đóng vai trò vô cùng to lớn
trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học,.. đồng thời áp dụng
những thành tựu đó trong hoạt động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học,
nghệ thuật, xã hội, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức... của nhân dân
vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh
thần của các dân tộc trong mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân
từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong
đời sống xã hội. Mặt khác, các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn
khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở
thành giá trị phổ biến.
Nói về vai trò quần chúng nhân dân trong sáng tạo nghệ thuật,
Hồ Chí Minh nhận định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là
những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những
của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa... Những
sáng tác ấy là những hòn ngọc quý”[8; 623-624].
Quần chúng nhân dân còn là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ nền văn hóa
dân gian trong lịch sử. Họ là chủ thể của những câu chuyện thần thoại, chuyện
12


nhân tố đóng vai trò quyết định đảm bảo cho quần chúng nhân dân trở
13


thành người làm chủ xã hội nói chung và chủ thể sáng tạo, hưởng thụ
những của cải tinh thần nói riêng, đời sống của quần chúng nhân dân
không ngừng được cải thiện và nâng cao nói chung, đặc biệt là trình độ
văn hóa, khoa học-kỹ thuật. Mặt khác chủ nghĩa xã hội còn đòi hỏi quần
chúng nhân dân phải thực sự là chủ thể của những của cải tinh thần, phải
đem hết khả năng, lòng nhiệt tình, tính tự giác của mình để sáng tạo và
hưởng thụ những của cải tinh thần đó.
Tóm lại, xét từ góc độ kinh tế-chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư
tưởng thì quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.
Từ khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch
sử, thì một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin vê
vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản là “Liên minh
công-nông”.
Khi tổng kết thực tiễn phong trào công nhân ở Châu Âu, nhất là Anh,
Pháp cuối thế kỷ XIX, C.Mác và Ăngghen đã khái quát thành lý luận về liên
minh công-nông và các tầng lớp lao động khác. Các ông đã chỉ ra nguyên
nhân chủ yếu của thất bại trong các cuộc đấu tranh là do giai cấp công nhân
không tổ chức được mối liên minh với “người bạn đồng minh tự nhiên” của
mình là giai cấp nông dân. Do vậy, trong các cuộc đấu tranh này giai cấp công
nhân luôn đơn độc và cuộc cách mạng vô sản này đã trở thành “bài ca ai
điếu”.
Để thực hiện khẳ năng đưa cách mạng tư sản vượt qua mục tiêu ban
đầu của nó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì giai cấp công nhân phải
thực hiện được sự liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp tiểu tư sản
thành thị để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
C.Mác kết luận về cách mạng Pháp (1848-1850) như sau: “Công nhân

xã hội, vì lợi ích của toàn thể dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo. Đây là
điều kiện để giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo. Đó chính là tính tất yếu
về mặt chính trị-xã hội, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng vô sản.
Vậy, để giai cấp công nhân - là đội tiên phong, là người lãnh đạo
quần chúng nhân dân - hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải liên minh công-nông.

15


Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, đương nhiên sự liên minh
giữa các giai cấp về chính trị cũng rất cần thiết, nhằm cũng cố và xây dựng
chính quyền cách mạng. Nhưng sự liên minh về kinh tế mới là chủ yếu, ngay
liên minh chính trị cũng cần được cũng cố trên cơ sở kinh tế, Lênin đã nói:
“lúc này chính trị ngay trong kinh tế”.
Lênin còn chỉ ra cách mạng chủ nghĩa xã hội ở một nước mà số đông
nhân dân là nông dân thì chỉ có thể giành thắng lợi với điều kiện có sự thỏa
thuận về kinh tế giữa giai cấp công nhân và nông dân lao động. Theo Lênin,
liên minh công - nông - trí cần được bảo đảm vững chắc về kinh tế, không
phải chỉ trên cơ sở tôn trọng quyền sử dụng ruộng đất của nông dân, mà phải
trên cơ sở mới. Đó là tạo điều kiện cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
phát triển, thực hiện giao lưu sản phẩm hàng hóa giữa thành thị và nông thôn,
đảm bảo đời sống của quần chúng công - nông - trí thức. Do đó vai trò của thị
trường, thương nghiệp, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, giao thông vận tải trở nên
cực kỳ quan trọng.
Liên minh công - nông - trí hợp thành đội quân chủ lực hùng mạnh làm
hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, không những đảm bảo vai trò lãnh
đạo của các giai cấp công nhân và giữ vững chính quyền cách mạng mà xét
đến cùng còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của một nước.
Trong khối liên minh ấy, giai cấp nông dân là người bạn đồng hành chiến

của hoạt động khoa học và thực tiễn.
Đó là những cá nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
khoa học, văn hóa nghệ thuật... Sự xuất hiện của những cá nhân, lãnh tụ là
một điều tất nhiên do đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng của quần
chúng nhân dân. Ăngghen chỉ rõ: “Thật là điều ngẫu nhiên thuần túy, mà một
vĩ nhân nào đó xuất hiện ở một thời nhất định nào đó, điều ấy là hoàn toàn
ngẫu nhiên. Nhưng nếu chúng ta phế bỏ người ấy đi, thì lại xuất hiện sự đòi
hỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện thích
hợp ít hay nhiều nhưng cuối cùng thì cũng xuất hiện”[8; 626].
Nhận định trên đây nói lên rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch
sử không hề coi nhẹ mà ngược lại các ông đã đánh giá rất cao vai trò của cá
nhân kiệt xuất, lãnh tụ sáng suốt.
 Khái niệm lãnh tụ

17


Lãnh tụ là vĩ nhân, nhưng đồng thời là người dẫn dắt, định hướng cho
hoạt động của dân tộc, của quần chúng nhân dân. Phẩm chất cơ bản của lãnh
tụ là: Có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu hướng vận động của
dân tộc, quốc tế và thời đại; Có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, thống
nhất ý chí và hành động của họ hướng vào nhiệm vụ cụ thể của dân tộc hoặc
của thời đại; Hy sinh quên mình cho lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại.
Các phẩm chất cơ bản của lãnh tụ gồm có:
Một là: có tri thức khoa học uyên bác nắm bắt được xu thế vận động
của dân tộc, quốc tế và thời đại.
Hai là: có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí
và hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế
và thời đại.
Ba là: gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, nguyện hy sinh quên

chúng. Vì họ là những người có tác dụng thúc đẩy phong trào cách mạng của
quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ, đúng hướng đạt tới những thành quả
to lớn nhất. Họ có tác dụng động viên, cổ vũ và tổ chức đông đảo quần chúng
nhân dân làm nên những sự nghiệp vĩ đại. Lịch sử vận động và phát triển theo
xu hướng tất yếu của nó, vẫn mang dấu ấn sự lãnh đạo của các vĩ nhân anh
hùng xét về mặt tốc độ, bước đi, hình thức của phong trào. Nếu một nhân vật
lãnh đạo phạm sai lầm sẽ làm tổn thất cho phong trào, còn một nhân vật lãnh
đạo có lập trường không kiên định, thiếu quả quyết sẽ làm cho phong trào có
lúc ngã nghiêng. Nhưng vô luận tốc độ, bước đi, hình thức như thế nào đi nữa
thì phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân vẫn phát triển theo chiều
hướng khánh quan của nó.
Vai trò của cá nhân anh hùng, lãnh tụ được thể hiện nổi bật trong những
thời điểm cấp bách của lịch sử, khi lịch sử đặt ra cho một giai cấp, một dân tộc
phải giải quyết những tình huống khó khăn và phức tạp để tiếp tục tiến lên, nhất
là trong thời kỳ cách mạng. Lúc này sự sáng suốt, tỉnh táo của lãnh tụ có một tác
dụng hết sức quan trọng đối với diễn biến của tình hình. Đặc biệt với phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân và các tầng lớp bị áp bức bóc lột khác, nhằm
thủ tiêu các chế độ tư hữu xây dựng nên một xã hội mới, dựa trên nền tảng chế
độ công hữu thì vai trò tổ chức, lãnh đạo của vĩ nhân-lãnh tụ lại càng quan trọng.
Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lênin và lãnh tụ xuất sắc nhất của
19


Đảng có nhiều kinh nghiệm và nhận thức đúng đắn quy luật khách quan, thì nhất
định sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản không thể thắng lợi. V.I.Lênin
viết: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu như
nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình, những lãnh tụ chính trị, những đại
diện tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[8; 626].
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, vĩ nhân-lãnh tụ có nhiệm
vụ chủ yếu sau:

* Tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ được
quy định bởi không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân,
không có các quá trình kinh tế-xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân thì
không thể xuất hiện vĩ nhân-lãnh tụ.
* Quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ thống nhất trong mục đích
và lợi ích của mình.
* Sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân-lãnh tụ biểu hiện
trong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử. Tuy cũng đóng vai trò
quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng
nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người định
hướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Nếu những vĩ nhân-lãnh tụ, anh hùng đó vì động cơ cá nhân, vì lợi ích
riêng mà tách ra khỏi quần chúng nhân dân thì nhất định họ bị mất tác dụng
và bị quần chúng nhân dân vượt qua. Không được quần chúng nhân dân kính
yêu và ủng hộ thì cá nhân đó cho dù có tài năng đến đâu cũng không còn gây
được ảnh hưởng, mà làm cản trở tiến trình lịch sử.
Sở dĩ, những vĩ nhân-lãnh tụ, anh hùng phát huy được tác dụng tích
cực đối với lịch sử, là nhờ hoạt động của họ gắn với tiến trình xã hội, phù hợp
với nguyện vọng và lợi ích của quần chúng. Nhờ đó, họ tập hợp được quần
chúng, động viên được quần chúng. Hết sức hết lòng vì lợi ích của quần
chúng nhân dân, dám hy sinh bản thân mình vì tập thể, vì nhân dân mà vĩ
nhân-lãnh tụ được quần chúng nhân dân ra sức ủng hộ. Như vậy, sức mạnh
của vĩ nhân-lãnh tụ không nằm ở đâu ngoài sức mạnh của quần chúng nhân
dân.
Giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động các dân tộc bị áp
bức trên thế giới vô cùng tự hào về những vị lãnh tụ thiên tài có đầy đủ năng
21


lực và phẩm chất lãnh đạo giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao



trong Đảng, trong nhân dân, tạo ra tình trạng mất lòng tin của cán bộ và quần
chúng.
Vì thế, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn coi sùng
bái cá nhân, vĩ nhân-lãnh tụ là một hiện tượng hoàn toàn xa lạ với bản chất,
mục đích, lý tưởng của giai cấp vô sản. Những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô
sản như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều hết sức khiêm tốn,
gần gũi với nhân dân, đề cao vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân,
xứng đáng là những vĩ nhân kiệt xuất mà toàn thể loài người tôn kính và
ngưỡng mộ.
Triết học Mác-Lênin phê phán tệ sùng bái cá nhân, vĩ nhân-lãnh tụ,
điều đó không có nghĩa là coi thường cá nhân, vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ. Trái
lại, luôn luôn giáo dục quần chúng nhân dân luôn tôn trọng và kính yêu vĩ
nhân-lãnh tụ, kiên quyết chống lại mọi luận điệu của bọn phản động, bọn cơ
hội chủ nghĩa nhằm hạ thấp đi đến đã kích vào các lãnh tụ của giai cấp vô sản.
Mặt khác, triết học Mác-Lênin cũng luôn luôn đặt vai trò lãnh tụ trong mối
quan hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân.
Như vậy, triết học Mác-Lênin đã đưa ra một quan điểm khoa học
và cách mạng về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân
trong lịch sử. Quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, nó được thay đổi
theo từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng quần chúng nhân
dân luôn là người quyết định làm nên lịch sử. Trong bất kỳ thời đại nào quần
chúng nhân dân cũng là người sáng tạo chân chính ra lịch sử. Vĩ nhân, lãnh
tụ, anh hùng có vai trò to lớn quan trọng đối với phong trào quần chúng, đối
với sự phát triển của lịch sử, vì họ là người giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức quần
chúng sáng tạo ra lịch sử. Vai trò của vĩ nhân, anh hùng, lãnh tụ luôn được đặt
trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân.
Tóm lại: Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, các nhà triết học duy
tâm và duy vật đều không hiểu đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân và

quy luật. Vĩ nhân-lãnh tụ là người sáng lập các tổ chức chính trị-xã hội, tập
hợp nhân tài và là linh hồn của các tổ chức đó. Không có vĩ nhân-lãnh tụ cho
mọi thời đại, vĩ nhân-lãnh tụ của mỗi thời đại chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ
đặt ra trong thời đại đó, vượt qua giới hạn của thời đại vĩ nhân-lãnh tụ có thể
mất đi vai trò tiên phong của họ”.
24


Vĩ nhân-lãnh tụ có vai trò đó bởi lẽ, từ những phẩm chất cơ bản của họ
đã quy định họ có các chức năng: Nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời
đại dựa trên cơ sở những hiểu biết quy luật khách quan của các quá trình kinh
tế - chính trị - xã hội; Định hướng chiến lược, hoạch định chương trình hành
động cách mạng; Tổ chức lực lượng, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhân
dân và thống nhất hành động của họ vào những vấn đề then chốt nhất.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao vai trò vĩ nhân-lãnh tụ, nhưng kiên
quyết chống tệ sùng bái cá nhân. Tệ sùng bái cá nhân thường dẫn đến bè phái,
mất đoàn kết, tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực như xu nịnh, quan liêu, gia
trưởng ... Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi sùng bái cá nhân là hiện tượng hoàn
toàn xa lạ với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản.
Hồ Chí Minh, vĩ nhân-lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam và phong
trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế và của nhân loại tiến bộ, suốt đời
luôn gắn bó với quần chúng nhân dân, yêu thương và hết mực tôn trọng quần
chúng nhân dân. Người luôn căn dặn cán bộ, Đảng viên phải học hỏi ở dân,
phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân.
Hồ Chí Minh là người đầu tiên từ cuối giữa đầu thế kỷ XX, đã xác định
đúng vai trò của trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc tuân thủ con
đường cách mạng vô sản, lấy liên minh công-nông-trí thức làm nguyên tắc
cao nhất
Liên minh công-nông-trí thức là nhu cầu giữ vững vai trò lãnh đạo của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status