khang sinh du phong trong noi soi tieu hoa - Pdf 40

Hiện tượng du khuẩn huyết xảy ra ở bệnh nhân có bệnh lý tổn thương ở tim có
thể dẫn đến viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, một bệnh có khả năng gây tử vong
cao. Nội soi tiêu hóa hiếm khi là nguyên nhân gây du khuẩn huyết và có rất ít
bằng chứng cho thấy rằng nội soi có gây ra viêm nội tâm mạc. Một số nghiên
cứu tiến cứu có kiểm soát đã chỉ ra rằng dự phòng kháng sinh có thể làm giảm
tỷ lệ du khuẩn huyết nhưng nó không chứng minh rằng kháng sinh dự phòng sẽ
ngăn ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Ngoài việc còn có một số biến chứng nhiễm trùng do các thủ thuật nội soi gây
ra, bao gồm nhiễm trùng đường mật sau nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP),
nhiễm trùng sau đặt stent và nhiễm trùng vết mổ sau mở thông dạ dày ra da,
không có chỉ định kháng sinh dự phòng trong các trường hợp khác vì tăng chi
phí điều trị cũng như có thể có các tác dụng phụ của kháng sinh như phản ứng
dị ứng thuốc, sốc phản vệ, viêm đại tràng do kháng sinh.
Kháng sinh dự phòng với mục đích dự phòng:
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn huyết
Nhiễm khuẩn sau đặt stent
Nhiễm trùng đường mật sau ERCP
Nhiễm trùng vết thương sau mở thông dạ dảy ra da.
CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Nguy cơ biến chứng nhiễm trùng sau nội soi
1.1. Tỷ lệ du khuẩn huyết
Du khuẩn huyết thoáng qua có thể xảy ra sau các hoạt động bình thường hàng
ngày như đánh răng và có thể cao đến 25%. Nó cũng xảy ra sau khi các thủ
thuật không phải nội soi như khám trực tràng.
Nội soi dạ dày đại tràng chẩn đoán: tỷ lệ du khuẩn huyết thấp, có thể xấp xỉ
4%. Nguy cơ du khuẩn huyết không tăng khi sinh thiết hoặc cắt polyp. Vi khuẩn
thường nuôi cấy được sau khi nội soi trên GI là Staphylococcus gram (-), Bacillus
spp., Propionibacterium spp. và các sinh vật ít có khả năng gây bệnh Serratia
marcescens hoặc Streptococcus. Đối với nội soi đại tràng: Escherichia coli và
Bacteroides là các vi sinh vật phổ biến nhất.

không có triệu chứng. Vì du khuẩn huyết thoáng qua dường như không gây biến
chứng nguy hiểm nào do vậy dự phòng kháng sinh thông thường là không cần
thiết trừ khi bệnh nhân có nguy cơ đối với viêm nội tâm mạc. Chỉ có một vài thủ
thuật nội soi có nguy cơ gây biến chứng nhiễm trùng.
Các thủ thuật nội soi có nguy cơ có biến chứng nhiễm trùng cao:
Nong hẹp thực quản
Tiêm xơ dãn tĩnh mạch thực quản
Điều trị bằng laser ở đường tiêu hóa trên
Mở thông dạ dày ra da
Nội soi chụp mật tụy ngược dòng
Nội soi tiêu hóa trên và nội soi đại tràng rất hiếm khi gây nhiễm khuẩn máu và
viêm nội tâm mạc. Hầu hết các biến chứng sau nội soi thường gặp ở những bệnh
nhân suy giảm miễn dịch như xơ gan, lọc thận hoặc viêm loét đại tràng.
Tỷ lệ du khuẩn huyết sau nong hẹp thực quản cao nhưng tỷ lệ biến chứng nhiễm
trùng rất hiếm. Các trường hợp báo cáo thường gặp trong những bệnh nhân có
bệnh lý van 2 lá. Do vậy việc sử dụng kháng sinh dự phòng trước nong chỉ được
áp dụng với những bệnh nhân có bệnh lý van tim.
Tỷ lệ du khuẩn huyết sau tiêm xơ dãn tĩnh mạch thực quản qua đã được ghi
nhận nhưng một lần nữa biến chứng nhiễm trùng là hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên,
một số biến chứng như nhiễm trùng huyết, áp xe não, áp xe quanh thận và viêm
nội tâm mạc đã được báo cáo. Cefotaxime tĩnh mạch giảm đáng kể tần số du
khuẩn huyết sau khi nội soi tiêm xơ. Kháng sinh dự phòng nên được chỉ định cho
các bệnh nhân có nguy cơ cao của viêm nội tâm mạc.
Biến chứng nhiễm trùng sau khi cắt polyp, kể cả trường hợp có chích dưới niêm
là hiếm. Tăng bạch cầu sau cắt polyp và sốt kết hợp với đau thường được gây ra
bởi hội chứng bỏng sau cắt (đặc biệt là với hot forceps), hoặc là phản ứng viêm.
Vì vậy kháng sinh dự phòng không được chỉ định.


Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ sau mở thông dạ dày ra da là khá cao, nhưng thường

+ Ghép tim
+ Giảm bạch cầu mức độ trung bình (1-5G/l)
- Không có nguy cơ:
+ Sa van hai là không có hở van
+ Thông liên nhĩ không biến chứng
+ Đặt máy tạo nhịp tim
+ Cầu nối mạch vành
+ Cấy máy khử rung
+ Tất cả bệnh nhân khác
Nguy cơ viêm nội tâm mạc cũng phụ thuộc vào loại vi khuẩn. Mặc dù du khuẩn
huyết xảy ra phổ biến sau nhiều thủ thuật nội soi có xâm lấn, nhưng chỉ có một


số vi khuẩn thường gây viêm nội tâm mạc trong đó Streptococcus tán huyết
nhóm A và Staphylococcus là thường gặp nhất.
2.2. Những yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh nhân
Nhiễm trùng ở những bệnh nhân có ghép mạch máu nhân tạo thường rất nặng
nề, nguy cơ tử vong cao. Quá trình nội mô hóa (endothelialisation) hoàn toàn
thường sau một năm sau cấy ghép do vậy kháng sinh dự phòng được khuyến
cáo trong thời gian này.
Có ít dữ liệu đề cập đến khả năng nhiễm trùng các bộ phận giả chỉnh hình, phẫu
thuật thần kinh sau nội soi tiêu hóa. Hiện không đủ chứng cứ để khuyến cáo dự
phòng kháng sinh. Có ít dữ liệu để đánh giá sự ảnh hưởng của các thuốc ức chế
miễn dịch trên khả năng biến chứng nhiễm trùng sau các thủ thuật nội soi. Vì
vậy dự phòng kháng sinh cho những người ghép tạng hay những bệnh nhân bị
nhiễm HIV không được khuyến cáo. Tuy nhiên tình trạng giảm bạch cầu làm
tăng nguy cơ nhiễm trùng sau nội soi, trong đó Escherichia coli là tác nhân gây
bệnh phổ biến nhất. Do vậy nên cân nhắc kháng sinh dự phòng cho những bệnh
nhân này.
3. Khuyến cáo sử dụng kháng sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status