TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn TRIẾT học TRONG tác PHẨM KINH điển SAU đại học - Pdf 40

MÔN TRIẾT HỌC TRONG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN
1. Tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử qua một số tác
phẩm tiêu biểu giai đoạn 1844-1848? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
- Giai đoạn 1841-1844: Chuyển lập trường từ CNDT sang CNDV, từ DCCM sang CNCS
- Giai đoạn 1844-1848: Đề xuất những nguyên lý triết học DVBC và duy vật lịch sử.
- Giai đoạn 1848-1895: Bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết triết học mácxít và
đưa học thuyết này vào thực tiễn PTCN, trở thành hạt nhân lý luận trong hệ tư tưởng của
phong trào công nhân.
*Điều kiện lịch sử giai đoạn 1844 - 1848
- Về kinh tế: CNTB phát triển mạnh ở Anh, Pháp và một số nước Tây Âu. Cách mạng
công nghiệp lần thứ nhất đã cơ bản hoàn thành ở Anh, Pháp và lan ra các nước Châu Âu,
làm thay đổi công cụ sản xuất từ thủ công thành cơ khí máy móc. Năng suất lao động tăng
cao, công xưởng, nhà máy ra đời, kéo theo một loạt ngành nghề mới xuất hiện. Làm gia
tăng mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Về xã hội: Phong trào công nhân ở Châu Âu phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân
trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.
- Về chính trị: Nước Đức lúc này vẫn là nước phong kiến lạc hậu, trong khi ở Anh,
Pháp...CNTB đã phát triển. Vì vậy, nước Đức trở thành trung tâm của phong trào cách
mạng thế giới. GCVS Đức làm cuộc cách mạng chống lại GCTS và chế độ phong kiến song
đều thất bại (tự phát).
- Hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen: tích cực hoạt động trong phong trào công
nhân. Bằng thiên tài, trí tuệ, thông qua thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân, uy
tín của hai ông đã lan rộng, có ảnh hưởng lớn đến phong trào công nhân và những người
hoạt động chính trị nổi tiếng ở Châu Âu. Từ đó, đồng minh những người chính nghĩa đã
mời hai ông tham gia và cải tổ tổ chức này.
+ Mác, Ăngghen vừa chỉ đạo phong trào công nhân vừa tổng kết khái quát lý luận để
viết nhiều tác phẩm mới.
+ Mác, Ăngghen hoàn toàn đứng trên lập trường DVBC để sáng tạo lý luận khoa học
(từ 1844).
Nhu cầu thực tiễn đặt ra: Phải có một lý luận mới, cách mạng, khoa học soi đường cho
PTCN chuyển từ đấu tranh tự phát lên tự giác mà triết học là hạt nhân thế giới quan. Hai

- Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho con
người mà còn tái tạo ra đời sống của bản thân mình, “con người bắt đầu tạo ra những người
khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
2. Về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, đã giải thích sự biện chứng của
mối quan hệ tác động qua lại và phát triển giữa lực lượng sản xuất với hình thức giao tiếp
(quan hệ sản xuất).
- Các ông không những chỉ rõ tính khách quan của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất; sự phụ thuộc của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất, mà còn chỉ rõ mối quan hệ
biện chứng giữa chúng. Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ra
tuân theo quy luật - quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Các ông viết: “Trong toàn bộ sự tiến triển của lịch sử, một chuỗi chặt chẽ những hình
thức giao tiếp mà mối liên hệ là ở chỗ người ta thay thế hình thức giao tiếp cũ đã trở thành
một trở ngại bằng một hình thức mới phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển
hơn, và do đó phù hợp với phương thức hoạt động tiên tiến hơn của các cá nhân; hình thức
mới này lại trở thành trở ngại và lại được thay thế bằng một hình thức khác…” cứ như thế xã
hội phát triển không ngừng, đi từ sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất xã hội.
3. Về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác dùng thuật ngữ
kiến trúc thượng tầng, còn cơ sở hạ tầng vẫn được gọi là cơ sở hoặc cơ sở kinh tế, xã hội
công dân. Các ông chỉ rõ, kiến trúc thượng tầng nhà nước là sản phẩm của cơ sở sản xuất,
xã hội công dân là cơ sở của nhà nước. “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật
chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Nó
bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt
ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc… Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷ
XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng cổ đại và trung cổ… tuy nhiên,
tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành
cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn luôn được gọi bằng

sản: “Giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai
cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
- Vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản: Là sản phẩm của nền đại công
nghiệp, Giai cấp vô sản có sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản và xây dựng thành công chủ
nghĩa cộng sản.
- Chỉ rừ tính chất nhiệm vụ, mục đích và biện pháp cách mạng cho giai cấp vô sản.
5. Lý luận về cách mạng xã hội
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán phái Hê ghen trẻ cho rằng: động lực thúc đẩy lịch sử
phát triển là sự suy diễn lý luận, là sự phê phán coi quần chúng chỉ là những chất liệu thiếu
sức sống, yếu đuối và bất lực, thậm chí là vật cản trở quá trình phát triển của lịch sử; cho
rằng công việc của công nhân bao giờ cũng vẫn là một cái đơn chất nào đó họ chẳng tạo ra
cái gì hết ngoài việc nhằm thoả mãn nhu cầu của chính họ và vì thế, họ có đấu tranh cũng
chẳng để làm gì.
- C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng: Cách mạng là kết quả của sự vận động biến đổi
khách quan, là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, chứ không phải là sự suy diễn lý luận,
không phải sự phê phán. C.Mác, Ph.Ăng ghen nhấn mạnh "không phải sự phê phán mà cách
mạng mới là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển".
- Nguyên nhân của cách mạng xã hội là từ kinh tế (mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX);
kết luận về tính tất yếu của CMVS; xác định nhiệm vụ của GCVS trong cuộc cách mạng đó:
phải cải tạo xã hội để cải tạo mình, xây dựng chế độ xó hội cộng sản chủ nghĩa; phải xóa bỏ


tư hữu xác lập công hữu; tính chất quốc tế của CMVS và xây dựng CNCS do LLSX đó
quốc tế hóa.
C.Mác, Ph.Ăng ghen cho rằng: quần chúng là người sáng tạo, công nhân là người sáng
tạo ra tất cả. Phong trào quần chúng là phong trào hoạt động vật chất sinh động và có sức
mạnh to lớn trong cải tạo xã hội. Công nhân và quần chúng không chỉ sáng tạo ra vật chất,
tinh thần mà còn sáng tạo ra con người, chủ thể của mọi sự sáng tạo. Sức sáng tạo của công
nhân ở chỗ có tổ chức, nghĩa là khi giai cấp công nhân giác ngộ được nguồn gốc bóc lột và

nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị"
*Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- Mác và Ăngghen khẳng định TTXH quyết định YTXH, đồng thời chứng minh sâu
sắc quan điểm đó bằng hiện thực lịch sử: "Liệu có cần phải sáng suốt lắm mới hiểu được
rằng những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của người ta, tóm lại là ý thức
của người ta, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong
quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của người ta chăng?".
- Mác và Ăngghen đề cập về sự phản ánh vượt trước của những tư tưởng khoa học,
cách mạng: "khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội tìh
như thế là người ta chỉ nêu ra sựt hật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã


hội mới đã hình thành và sự tan rã của những tư tưởng cũ là đi đôi với sự tan rã của những
điều kiện sinh hoạt cũ".
- Về tính giai cấp và các hình thái chung của ý thức xã hội qua các thời đại: "lịch sử
của toàn bộ, từ trước đến nay, đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối kháng
mang hình thức khác nhau tuỳ từng thời đại. Nhưng dù những đối kháng ấy mang hình thức
nào đi nữa thì hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn là
một hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia. Vậy không có gì đáng lấy làm lạ, khi
thấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ, mặc dầu có muôn màu muôn vẻ và hết sức khác
nhau, vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thức ý thức chỉ
hoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa".
7. Quan niệm về con người
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
- C.Mác đã đánh giá cao cách tiếp cận giá trị về con người ở Phoiơbắc, thừa nhận
nguyên tắc “con người là một bộ phận của giới tự nhiên”, nhưng vì cách tiếp cận đó chỉ đề
cập đến con người nói chung, con người như kết quả của sự tiến hoá tự nhiên, nên theo
C.Mác nó cần được phân tích sâu sắc hơn, cần được đặt trong hoạt động, mà trước hết là
hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất vật chất.
- C.Mác đã nêu lên nhiều quan điểm mới, khác hẳn về chất so với các quan điểm triết


toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”. Đây
chính là điểm khác nhau căn bản giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác với tất cả quan điểm
trước đó về con người.
- Chỉ ra hạn chế cơ bản của Phoiơbắc nằm trong quan niệm về con người. Phoiơbắc
dựa vào khái niệm "con người cộng đồng" để tự tuyên bố mình là người cộng sản. Con
người, theo Phoiơbắc, chỉ là "con người trừu tượng" mà không phải là con người hiện thực
của lịch sử. Đối với những người cộng sản, con người là sản phẩm của tự nhiên và vấn đề
cần xem xét ở con người hiện thực của lịch sử là hành động thực tiễn của con người nhằm
thay đổi thế giới hiện có.
- Khẳng định, muốn nhận thức đúng đắn bản chất con người phải xuất phát từ quan
điểm thực tiễn, theo Mác “con người là sản phẩm của tự nhiên, vì thế để hiểu con người cần
nghiên cứu quan hệ của nó với bộ phận tự nhiên còn lại”.
Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Với quan niệm duy vật về lịch sử, Mác - Ănghen đã vạch ra quy luật phát triển của xã
hội, đem lại “chìa khóa" để nhận thức một cách khoa học tòan bộ tiến trình lịch sử và phân
chia một cách thật sự khoa học các thời kỳ trong lịch sử; chấm dứt sự thống cũng như
những giải thích sai lầm về các hiện tượng lịch sử và xã hội của quan điểm duy tâm, tôn
gíao về vai trò sáng tạo thế giới của Chúa trời, Thượng đế.
- Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác
và thành tựu vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại.
+ Đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xỉã hội và lịch sử,
khẳng định: TTXH quyết định YTXH, YTXH là sự phán ánh TTXH.
+ Khẳng định sản xuất vật chất - cơ sở quyết định sự tổn tại và phái triển của xã hội.
+ Chi ra quy luật vận động, phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là
quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; quy luật về mối quan hệ biện
chứng giữa CSHT và KTTT; quy luật về đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối
kháng - quy luật về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
- Đối với triết học: Đánh dấu sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển tư tưởng
nhân loại, làm cho triết học trở thành khoa học, là sự thống nhất không tách rời giữa chủ

ông đã viết một loạt tác phẩm để bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác và triết học mácxít.
Tiêu biểu là các tác phẩm: Đấu tranh giai cấp ở Pháp, 1848-1850; Cách mạng và phản cách
mạng ở Đức, 1851-1852; Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bô na pác, 1851-1852; Tư bản
(Tập 1, xuất bản 1867, tập 2-1885, tập 3-1894); Nội chiến ở Pháp, 1871; Phê phán cương
lĩnh Gôta, 1875; Biện chứng của tự nhiên, 1873-1883; Chống Đuy rinh, 1876-1878; Nguồn
gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, 1884; Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáo
chung của triết học cổ điển Đức, 1884.
Giai đoạn 1848-1895 là quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận
triết học. Nghiên cứu dưới khía cạnh chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
1. Tác phẩm: Tư bản, tập một (1867)
*C.Mác đã phê phán phương pháp siêu hình của kinh tế học tư bản, qua đó đưa ra
phương pháp biện chứng. C.Mác cũng đó chứng minh sự khác nhau căn bản giữa phương
pháp biện chứng của mình với phương pháp của Hêghen “Phương pháp biện chứng của tôi
không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lặp hẳn với phương
pháp ấy nữa”. Theo Mác “Ở Hê ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần
dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí”.
*C.Mác đã trình bày các quy luật của phép biện chứng duy vật thông qua việc phân
tích hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
- C.Mác C.Mác đã trình bày quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại. Mác xem xét phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự vận
động, phát triển của chúng. Sự phát triển của xã hội tư bản chuẩn bị những tiền đề vật chất
cho một chế độ mới về chất, đó là chủ nghĩa xã hội.
- C.Mác đã trình bày những tư tưởng rất phong phú về vấn đề mâu thuẫn. Theo Mác,
Trong “Tư bản” mâu thuẫn bên trong của sự thống nhất hiểu như là sự xung đột “chính đề”
và “phản đề” và được dành cho sự nghiên cứu như nhau, bởi lẽ chúng thể hiện một cơ thể


đang hoạt động. Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa như những tương phản về
chất. Không nên hiểu những đối cực cô lập, mà là tính chất hai mặt của một quá trình.

- Ăngghen đã chỉ ra những thành tựu vĩ đại, vạch thời đại mà khoa học tự nhiên lúc
bấy giờ đã đạt được. Thông qua đó, Ph. ăngghen đã chỉ ra ý nghĩa to lớn của những thành
tựu đó đối với sự ra đời của phép biện chứng duy vật. Ph. Ăngghen viết: “Giới tự nhiên là
hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại
đã cung cấp cho cuộc thử nghiệm đấy những vật liệu hết sức phong phú và mỗi ngày một
tăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một
cách biện chứng chứ không phải siêu hình”.
- Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng và khẳng định phép biện chứng duy
vật là khoa học. Ph.Ăngghen cho rằng, phép biện chứng không chỉ là khoa học về tư duy,
mà là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động về sự phát triển của tự nhiên,
của xã hội loài người và của tư duy”.
- Ăngghen vạch ra bản chất của phép biện chứng duy vật. Theo ông, “điều căn bản”
của phép biện chứng duy vật đó là: “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng
trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận
động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”. Ăngghen cho rằng, tư duy biện chứng thừa


nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái
“vừa là…vừa là…” nữa.
- Ăngghen cũng chỉ ra nhiệm vụ của phép biện chứng, đó là phải theo dõi quá trình
vận động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông qua cái ngẫu nhiên, bên ngoài, xem xét nó
không phải chỉ ở trong tự nhiên mà chủ yếu là ở trong xã hội để chứng minh tính tất yếu
diệt vong của chủ nghĩa tư bản.
- Lần đầu tiên, trình bày khá toàn diện và đầy đủ ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn);
quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại;
quy luật phủ định của phủ định. Là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong
giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ trong lịch sử của tự nhiên và lịch sử của xã hội loài
người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biện
chứng là những quy luật thực sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”

về chất; quy luật lượng chất trong lĩnh vực hóa học “hoá học là khoa học của sự biến đổi về
chất của vật thể sinh ra do sự thay đổi về thành phần số lượng”; sự chuyển hóa lượng - chất;



+ Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các đối lập: Toàn bộ giới tự nhiên vận động,
phát triển thông qua sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập; chỉ ra các
mặt đối lập (Sự hút và sự đẩy; điện tích trái dấu; tính di truyền và tính thích ứng trong quá
trỡnh tiến húa của sự sống…) và sự tác động và chuyển hóa giữa chúng; tính khách quan
của mâu thuẫn biện chứng; khẳng định nguồn gốc sự vận động, phát triển của lịch sử xó hội
là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập;…
+ Quy luật về sự phủ định của phủ định: Sự phát triển theo hình xoáy ốc; phủ định của
phủ định ớt nhất phải trải qua một chu kỳ và phủ định mang tớnh kế thừa.
- Các cặp phạm trù cơ bản của PBCDV:
+ Đồng nhất và khác nhau: Sự đồng nhất trừu tượng chỉ tồn tại trong đầu óc con người,
cũn sự đồng nhất trong hiện thực khách quan là sự đồng nhất cụ thể bao hàm cả sự khác
nhau, sự biến đổi; đồng nhất và khác nhau là hai mặt đối lập, thống nhất, đan xen vào nhau.
+ Ngẫu nhiên và tất nhiên: Chống lại quan điểm siêu hỡnh, tuyệt đối hóa cái tất nhiên
(thuyết định mệnh); khẳng định: Cái tất nhiên bao gồm vô số cái ngẫu nhiên và cái ngẫu
nhiên là hình thức che đậy cái tất nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên,
bản thân cái tất nhiên biểu hiện ra xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên.
+ Nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau;
nguyên nhân cú nhiều loại: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân
bên trong và nguyên nhân bên ngoài, quan trọng là phải làm thế nào để vạch ra được
nguyên nhân căn bản.
4. Tác phẩm “Lútvích Phoiobắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”
Ph.Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học - cách
nhìn nhận chung nhất về thế giới.
Ph.Ăngghen nói: “Do đó, phép biện chứng được qui thành khoa học về các qui luật
chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy bên ngoài”.

đội ngũ trí thức Nga đã xuất hiện trào lưu “tinh thần”, “tạo thần”, tuyên truyền chủ nghĩa
duy tâm phản động. Nhất là chủ nghĩa Makhơ xuất hiện giữ vai trò như là triết học duy nhất
khoa học, mà thực chất nó là chủ nghĩa duy tâm phản động.
Trong điều kiện đó, V.LLênin phải tuyên chiến với các tư tưởng đối lập, tiếp tục bảo
vệ và phát triển triết học mácxít, xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp
biện chứng duy vật cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp tư sản và chế độ Nga hoàng thong qua một loạt các tác phẩm: Chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, viết 1908, xuất bản 1909; Ba nguồn gốc và ba bộ
phận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913; Bút ký triết học, 1895-1916; Chủ nghĩa đế quốc giai
đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản viết 1916, xuất bản 1917; Nhà nước và cách mạng, viết
1917, xuất bản1918.
Nghiên cứu dưới góc độ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, V.I.Lênin đã bổ sung
và phát triển triết học Mác trên những vấn đề sau đây:
1. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, khẳng định tính đảng trong triết học
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- Lênin vạch trần bản chất duy tâm chủ quan của Makhơ khi ông này cho rằng cái tồn
tại đích thực thế giới không phải là sự vật hay vật thể mà là “các yếu tố của thế giới” như là
âm thanh, ánh sáng, màu sắc, mùi vị, sức ép… sự vật mà chúng ta thấy đó chỉ là “phức hợp
của các yếu tố” mà thôi. Song, Makhơ lại cho rằng: các “yếu tố” đó không phải là vật chất
và cũng không phải là tinh thần mà là “cái trung gian” của hai thứ đó.
- Đối lập với tư tưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng thế giới là “phức
hợp của các yếu tố”, Lênin nhắc lại một lần nữa quan điểm của Ăngghen đã từng nêu trong
tác phẩm “Chống đuyrinh” (1878) rằng: Chỉ có một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất,
thế giới thống nhất ở tính vật chất. Người viết: “tính thống nhất thực sự của thế giới là ở
tính vật chất của nó”. Và người phê phán cái khái niệm yếu tố của Makhơ “Cái danh từ yếu
tố mà nhiều người ngây thơ tưởng là cái gì mới lạ hay một phát minh, thực ra chỉ làm rối
loạn vấn đề bằng một thuật ngữ không có ý nghĩa gì”.
- V.I.Lênin đã phê phán chủ nghĩa Makhơ muốn xóa nhòa tính đảng trong triết học,
muốn đứng trên chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng thực chất chính họ là
những người duy tâm chủ quan với cái tham vọng ngu dại muốn “Vượt lên trên” chủ nghĩa

- Về quy luật phủ định của phủ định: Trong 16 yếu tố của phép biện chứng, V.I.Lênin
chỉ ra thực chất của quy luật phủ định của phủ định là ở “sự lặp lại, ở giai đoạn cao, của một
số đặc trưng, đặc tính của giai đoạn thấp và sự quay trở lại dường như với cái cũ (phủ định
của phủ định)”. Như vậy, quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng của sự phát
triển, tính kế thừa, tính lặp lại và tiến bộ của sự phát triển.
- Các phạm trù của phép biện chứng duy vật: Trong tác phẩm, V.I.Lênin không định
nghĩa nhưng nêu ra nhiều tư tưởng về phạm trù. Theo V.I.Lênin, phạm trù là một hình thức
phản ánh giới tự nhiên trong nhận thức của con người. Phạm trù là vòng khâu của nhận
thức. Phạm trù là những giai đoạn cao của nhận thức con người. Phạm trù là những điểm


nút của thế giới khách quan và nó thể hiện sự tách khỏi của con người đối với thế giới
khách quan.
Đi sâu phân tích cặp phạm trù cái chung và cái riêng (cái chung và cái riêng không
tách rời nhau, cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng lớn hơn cái chung, cái riêng
tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng).
Ngoài ra, Lênin còn đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên,
bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức, khả năng và hiện
thực.
*Tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản
- Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng đến những thay đổi về chất và
ngược lại
+ Để luận giải những đặc điểm, thuộc tính mới của chủ nghĩa đế quốc V.I.Lênin bắt
đầu phân tích sự biến đổi về lượng trong nền kinh tế xã hội của chủ nghĩa tư bản từ năm
1870: Tập trung sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp -> gắn kết giữa TB công nghiệp và TB
ngân hàng -> TB tài chính độc quyền -> liên minh giữa các tổ chức độc quyền với các nhân
viên chính phủ; hình thành liên minh giữa các tổ chức độc quyền trong phạm vi quốc tế.
+ Những biến đổi về lượng trên các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa
đã đưa xã hội tư bản chuyển sang một chất mới, mà biểu hiện tập trung căn bản nhất là sự ra

biện chứng. Vì vậy, ở đây lý luận nhận thức đã bao hàm phép biện chứng và lôgích học.
- Nghiên cứu con đường biện chứng của nhận thức chân lý khách quan: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường
biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
- Gắn lý luận với thực tiễn, coi thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là
con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.
Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, V.I.Lênin luôn nhấn mạnh đến vai trò
quyết định của thực tiễn; bởi lẽ “thực tiển cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm
không những của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp”. Chỉ có trên cơ sở xác định
đúng đắn vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của
chân lý chúng ta mới hiểu rõ được sự phát triển lịch sử của tri thức phản ánh hiện thực
khách quan và các hình thức lôgích của tư duy.
- V.I.Lênin coi những phạm trù lôgích là những giai đoạn lịch sử mà con người tự
mình tách ra khỏi giới tự nhiên bằng sự nhận thức và chinh phục giới tự nhiên. “Con người
bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới


tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó... chúng là những điểm nút
của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới”.
6. Về chủ nghĩa duy vật chiến đấu
*Tác phẩm “Bút ký triết học”
V.LLênin đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại các trường phái đối lập để bảo
vệ và phát triển triết học mácxít. Khi phê phán Cantơ và Hêghen, V.I.Lênin cho rằng:
“Cantơ hạ thấp tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin; Hêghen đề cao tri thức, quả quyết
rằng tri thức tức là tri thức về Thượng đế. Người duy vật đề cao tri thức về vật chất, giới tự
nhiên, tống Thượng đế và những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thượng đế vào hố rác”.
Khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, V.I.Lênin đã chỉ: “Theo quan điểm của một chủ
nghĩa duy vật thô lỗ, đơn giản, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu
xuẩn. Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng; thì chủ nghĩa duy tâm triết

phải tiếp tục phát triển và vận dụng dụng sáng tạo hơn nữa những nguyên lý mác xít trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay.
*Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Tiếp tục bảo vệ và phát triển triết học Mác trong giai đoạn 1907-1917. Những đóng
góp của Lênin không chỉ làm phong phú, giàu có thêm triết học Mác mà còn nâng nó lên


tầm cao mới; là mẫu mực và là tiền đề trực tiếp để các thế hệ kế tiếp học tập, bảo vệ và phát
triển triết học Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới.
- Là cơ sở để các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân đấu tranh giành chính
quyền và đề ra chủ trương, đường lối xây dựng đất nước.
- Trang bị thế giới quan, phương pháp luận cho các nhà khoa học tiếp tục đi sâu khám
phá tự nhiên và xã hội.
- Đấu tranh chống lại quan điểm phản động, xuyên tạc chủ nghĩa Mác, triết học Mác
lúc bấy giờ.
- Là cơ sở khoa học để các Đảng cộng sản kế thừa và vận dụng trong điều kiện mới
hiện nay
- Những quan điểm của V.I.Lênin là cơ sở khoa học và phương pháp kiểu mẫu cho
chúng ta trong bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay.
4. Đặc điểm cơ bản của hệ thống tác phẩm kinh điển triết học mác xít? Ý nghĩa
của việc nghiên cứu?
Tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin là tài sản vô giá trong kho tàng tư tưởng lý
luận của nhân loại nói chung và của những người cộng sản nói riêng, là nguồn tri thức vô
tận về những quy luật vận động, phát triển cùa tự nhiên, xã hội và tư duy, là lý luận khoa
học, cách mạng của giai cấp vô sản trong nhận thức và cải tạo thế giới. Từ các tác phẩm cho
chúng ta thấy quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác - Lênin, thấy được những
diễn biến của các thời kỳ mà Mác - Ăngghen - Lênin đã sống, nghiên cứu khoa học, lãnh
đạo phong trào công nhân quốc tế với mục tiêu cao cả là chống áp bức, bóc lột, bất công,
thực hiện giải phóng con người và vì hạnh phúc của nhân loại.
Tuy nhiên, hệ thống tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin rất đồ sộ vì vậy để có cơ

phương pháp nhận thức như Tư bản. Sự phát trỉên của triêt học Mác những năm 70 - 80 của
thế kỷ XIX qua các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen - chứA đựng những nội dung hêt
sức phong phú, bao gôm chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật, liên minh
triết học với khoa học tự nhiên, lịch sử triết học, quan niệm duy vật về lịch sử, lý luận nhận
thức, tức là tổng hợp nhiều vấn đề vào trong hệ thống triết học của chủ nghĩa Mác như:
“Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết
học cổ điển Đức”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước”...
Qua phân tích trên cho thấy ngay rằng, các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen không
dàn trải, mà tập trung, chỉnh thể chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ các phác thảo đầu tiên đến
sự chín muồi tư tưởng.
*Tính giai đoạn và tính liên tục
Các tác phẩm kinh điển phản ảnh quá trình trưởng thành của tác giả và sự phát triển
của triết học Mác - Lênin qua các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, cần hiểu đúng đắn rằng,
quá trình phát triển triết học Mác qua các giai đoạn nhưng không phải là đứt đoạn mà nó
luôn mang tính liên tục. Sự hình thành triết học Mác được chia thành ba giai đoạn trong đó,
Giai đoạn 1: Quá trình hình thành dần dần các quan điểm triết học, sự chuyển biến từ
chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và từ chù nghĩa dân chủ cách mạng
sang chủ nghĩa xã hội khoa học. Quá trình này hoàn thành vào năm 1844.
Giai đoạn 2: Khởi thảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quá trình này hoàn thành vào năm 1848 với sự xuất hiện tác
phẩm “Tuyên ngôn của Đàng cộng sản”.
Giai đoạn 3: C.Mác - Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển toàn diện thế giới quan mới
từ năm 1848 đến năm 1895. Trong giai đoạn này có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ đó là
từ 1848 đến Công xã Pari 1871 và từ 1871 cho đến 1895.
Năm 1843, C.Mác xuất bản tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen”. Trong tác phẩm, C.Mác khẳng định theo quan điểm duy vật, vai trò quyết định
của hoạt động vật chất nhằm chống lại quan điểm duy tâm về vai trò quyết định của yếu tố
tinh thần trong lịch sử.
Trên cơ sở đó, C.Mác tiến tới phát hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô
sản bằng cách phát hiện tư tưởng về “sự giải phóng nhân loại”. Tuy khái niệm này còn

một số đảng viên Đảng dân chủ - xã hội Đức. Ph.Ăngghen đã ngừng viết tác phẩm “Biện
chứng của tự nhiên” để tập trung phê phán quan điểm sai lầm của Đuyrinh và những người
theo ông ta.
V.I.Lênin viết tác phẩm “Những người bạn dân là như thế nào và họ đấu tranh chống
những người dân chủ xã hội ra sao?” nhằm phê phán kẻ thù của chủ nghĩa Mác - những
người dân túy tự do chủ nghĩa. Những người “tự xưng là đại biểu cho những tư tưởng và
sách lược của những người “bạn dân” chân chính, nhưng thật ra lợi ỉà kẻ thù của những
người dân chủ xã hội”. Trong khi đó tổ chức cộng sản chưa thành hệ thống, chủ nghĩa Mác
cũng mới chỉ xâm nhập vào nước Nga, nếu bị ngấm tư tưởng dân túy thì phong trào cách
mạng không thể tiến lên được. Vì vậy, Lênin đã viết tác phẩm này để thanh toán về mặt lý
luận nhằm vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của chủ nghĩa dân túy, khẳng định
tính chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác, sự cần thiết phải đưa chủ nghĩa Mác vào
Nga, trang bị lý luận khoa học cho những người mác xít, chuẩn bị lý luận cho việc thành lập
Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa.
*Luôn đề cao tính Đảng vô sản
Các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin luôn đề cao lập trường tính đẩng vô sản,
đấu tranh không khoan nhượng với tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm
“Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” Ph.Ăngghen cho rằng muốn
đánh giá đúng giá trị triết học Hêghen phải có quan điểm thực tiễn, phải có tính đảng và
tính giai cấp sâu sắc, mới có thể tìm thấy cái quý giá, những nhân tố hợp lý và do đó mới kế
thừa và phát triển. Trong đó phép biện chứng là cái quý giá nhất trong triết học Hêghen.
Ngay bản thân phép biện chứng duy tâm của Hêghen, mặc dù quý giá nhưng không phải
dùng được tất cả, nó chỉ là bàn đạp, là ngòi nổ cho phép biện chứng duy vật.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin cho
rằng C.Mác và Ph.Ăngghen là người luôn thể hiện triệt để nguyên tắc tính đảng, các ông đã
vạch ra một cách rõ ràng những mặt tích cực và hạn chế lịch sử của các nhà duy vật thế kỷ
trước, kể cả chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc. V.I.Lênin phê phán những toan tính chiết trung
triết học, sự hòa lẫn học thuyết Makhơ với chủ nghĩa Mác với một hình thức tôn giáo đặc



chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Cũng tương tự, Lênin bao giờ cũng đặt vấn đề phê phán các trào lưu triết học phi mác
xít trên cơ sở phân tích khoa học. Khi đặt vấn đề phê phán chủ nghĩa Cantơ, chủ nghĩa
Makhơ..., Lênin đã khiển trách những người dựa vào quan điểm duy vật tầm thường nhiều
hơn là quan điểm duy vật biện chứng để phê phán Cantơ và bất khả tri luận, vì rằng lối phê
phán như thế chỉ biết vứt bỏ những lý luận của phái đó mà không biết sửa sai cho những lập
luận ấy (nhu Hêghen đã sửa Cantơ), không đào sâu, khái quát, mở rộng, nêu rõ những mối
liên hệ và những chuyền tiếp của mọi thứ khái niệm.
Đồng thời, Lênin cũng phê phán những người theo chủ nghĩa siêu hình và tầm thường
không thấy rõ được nguồn gốc nhận thức luận của nó. Sự phân tích có phê phán mọi trường
phái duy tâm chủ nghĩa kể cả chủ nghĩa duy tâm triết học hiện đại đòi hỏi phải vạch ra một
cách cụ thể những giới hạn, những khía cạnh nhận thức mà sự tách rời chúng khỏi vật chất
và tuyệt đối hóa chúng một cách phiến diện đã dẫn đến sự xuất hiện một trào lưu duy tâm
chủ nghĩa nào đó. Chỉ có sự phân tích sâu sắc và thật sự khoa học như thế mới có thể thu
hẹp khả năng xuất hiện một quan điểm duy tâm chủ nghĩa nào đó, chứ không đơn giản gạt
bỏ chứng. Thái độ quay lưng với các học thuyết triết học không mác xít, phủ định nó một


cách đơn giản, thiếu sự phân tích khoa học, không muốn đối thoại với chúng và khăng
khăng đơn phương phủ định chúng sẽ dẫn đến những sai lầm.
Không chỉ nêu cao inh thần phê phán sâu sắc, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin còn luôn nêu cao tinh thần tự phê phán để phát triển và hoàn thiện triết học của minh.
Chính các ông đã nhiều lần nhắc nhở rằng, học thuyết của các ông không phải là một giáo
điều mà là một kim chi nam cho hành động. Như bất cứ lý luận nào khác, học thuyết của
các ông cũng phải trải qua sự thử thách, trải nghiệm của thực tiễn để được điều chinh, bổ
sung hoàn thiện và phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần tự điều chỉnh dự báo của
minh về khả năng nổ ra và thành công của cách mạng vô sản trong tiến trình của cách mạng
1848 ở Châu Âu. Sau khi Mác qua đời, vào cuối nhũng năm 80 và những năm đầu thập niên
90 của thế kỷ XIX Ph.Ăngghen đã bắt đầu cảm thấy một thời kỳ phát triển mới của chế độ
tư bản. Ông cũng dự báo về khả năng của giai cấp vô sản Đức thông qua giành đa số trong
cuộc bầu cử Nghị viện để giành thắng lợi bằng đấu tranh hợp pháp. Nhưng thực tế lịch sử

2. Ý nghĩa nghiên cửu các tác phẩm kinh điển triết hoc Mác - Lênin
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
-Lênin là một trong những phương pháp tốt nhất giúp chúng ta chiếm lĩnh kho tàng tri thức
khoa học cách mạng để làm giàu thêm vốn sống của mình


Các tác phẩm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và tác phẩm
kinh điển triết học nói riêng là tài sản vô giá trong kho tàng tri thức vô tận, kết tinh những
tinh hoa tư tưởng, văn hóa, trí tuệ của nhân loại, trong đó tư tưởng triết học phát triển đến
đỉnh cao.
Đối với quá trình giảng dạy và phổ biến triết học Mác - Lênin, việc phân tích các tác
phẩm kinh điển một cách trực tiếp có tác dụng kép: nó làm cho sâu sắc thêm nhận thức về
chủ nghĩa Mác qua những chất liệu sống động và trung thực, đồng thời rút ra những bài học
và nguyên tắc phương pháp luận vô giá cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trong điều
kiện hiện nay.
- Nghiên cứu tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin giúp chúng ta rèn luyện phương
pháp tư duy biện chứng duy vật - phương pháp tư duy khoa học - cách mạng để phòng tránh
và khắc phục phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, duy tâm, chủ quan, duy chí… trong
nhận thức và hành động thực tiễn
Nghiên cứu, khai thác tư tưởng triết học trong các tác phẩm kinh điển của các nhà sáng
lập chủ nghĩa Mác - Lênin, người học vừa kế thừa, tiếp thu các giá trị tư tưởng, lý luận khoa
học, cách mạng thể hiện thông qua các nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm với tư cách
là “công cụ nhận thức vĩ đại” để nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới, vừa được dẫn dắt,
soi đường bởi phương pháp duy vật biện chứng với các nguyên tắc khách quan, toàn điện,
cụ thể, lịch sử và phát triển trong xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhờ đó mà hình
thành, phát triển tư duy biện chứng duy vật, khắc phục phương pháp tư duy siêu hình và các
biểu hiện của nó như: phiến diện, máy móc, chủ quan, duy ý chí…
- Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển triết học Mác - Lênin giúp chúng ta hiểu rõ bản
chất khoa học, cách mạng của triết học Mác - Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chúng; có kiến thức lý luận khoa học để luận giải và bác bỏ các quan điểm sai trái, bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status