vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến trong việc đánh giá sự tác động của ô nhiễm môi trường đến sự phát triển bền vững ở tỉnh hoà bình - Pdf 40

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ đã tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng.
Loài ngời đã đạt đợc sự tăng trởng kinh tế không ngừng, đời sống vật chất và
tinh thần của con ngời ngày càng đợc nâng cao. Song, bên cạnh những thành
tựu to lớn mà con ngời đã đạt đợc thì hiện nay con ngời đang phải đối mặt với
những vấn đề hết sức nghiêm trọng có tính toàn cầu. Một trong những vấn đề
đó là vấn đề ô nhiễm môi trờng. Đây là một vấn đề cấp thiết, đang đe doạ trực
tiếp đến chính sự tồn tại của con ngời. Việc con ngời khai thác các tài nguyên
thiên nhiên một cách bừa bãi, sự phát triển của sản xuất không gắn liền với
những giá trị đạo đức và nhân văn đã khiến môi trờng bị huỷ hoại một cách
trầm trọng. Hàng loạt các hiện tợng biến đổi môi trờng sinh thái nh: hiệu ứng
nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn, ma axit, sa mạc hoá... xuất hiện. Tất cả các điều
này đặt con ngời trớc những hiểm hoạ môi trờng do chính con ngời gây ra.
Nh Ăngghen trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên đã cảnh báo: Tuy
vậy, chúng ta không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với
tự nhiên. Giới tự nhiên sẽ trả thù chúng ta về mỗi thắng lợi đó [4,tr.72]. Nh
vậy, nếu con ngời không có những hành động phù hợp, không coi môi trờng
nh cơ thể sống của mình, thống trị giới tự nhiên nh một kẻ xâm lợc thống trị
một dân tộc khác thì con ngời sẽ phải gánh chịu những hậu quả do việc làm
của mình vì con ngời và giới tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với nhau. Điều
này đã đợc triết học Mác - Lênin khẳng định và chứng minh. Theo triết học
Mác - Lênin, con ngời và tự nhiên thống nhất với nhau. Chính tính thống nhất
vật chất của thế giới là cơ sở cho mối liên hệ này. Trong mối quan hệ với môi
trờng tự nhiên, con ngời vừa là chủ thể, vừa là một bộ phận của giới tự nhiên.
Chính vì vậy tất cả những hoạt động của con ngời đều có sự tác động mạnh
mẽ đến môi trờng.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của môi trờng đối với hoạt động sống
của con ngời, các quốc gia đặc biệt là các nớc đang phát triển trên thế giới nơi phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trờng gây ra - đều
nhận định: phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trờng vừa là mục tiêu,

Môi trờng và con ngời của giáo s Mai Đình Yên (1995), Môi trờng sinh
thái vấn đề và giải pháp của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm (1997), Sinh thái
học môi trờng của tác giả Trần Kiên và Phan Nguyên Hồng (2000), Môi trờng và phát triển bền vững của tác giả Hà Thị Thành và Hà Thị Minh Thu
(2008).
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều trình bày một cách rõ nét mối
liên hệ giữa con ngời và môi trờng, đều đề cập đến những vấn đề cấp thiết của
môi trờng, chỉ ra thực trạng của tình hình ô nhiễm môi trờng cũng nh nguyên
nhân và giải pháp về vấn đề môi trờng ở Việt Nam nói chung, còn vấn đề ô
nhiễm môi trờng cũng nh sự tác động của nó đến sự phát triển bền vững của
tỉnh Hoà Bình thì cha có một đề tài nào đề cập đến.
2


3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Thông qua việc vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến của triết học
Mác Lênin, giúp chúng ta thấy đợc mối liên hệ mật thiết, sự tác động qua
lại biện chứng giữa môi trờng và con ngời. Từ đó đánh giá đợc một cách
khách quan tình hình thực tế của vấn đề ô nhiễm môi trờng cũng nh sự tác
động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình và đa ra một số giải
pháp cơ bản để khắc phục tình trạng này, đảm bảo sự phát triển bền vững của
tỉnh Hoà Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đợc những mục tiêu đã nêu thì khoá luận phải đi sâu
nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là: nghiên cứu một cách sâu sắc nguyên lý mối liên hệ phổ biến
của triết học macxit. Từ đó thấy đợc cơ sở của mối liên hệ biện chứng giữa
con ngời và môi trờng.
Hai là: phân tích và đánh giá đợc thực trạng, nguyên nhân ô nhiễm môi
trờng và sự tác động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình.

6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài khoá luận có những đóng góp mới nhất định: bớc đầu đề tài đã
đánh giá vấn đề ô nhiễm môi trờng dới góc độ triết học. Vận dụng nguyên lý
mối liên hệ phổ biến để làm rõ mối quan hệ giữa con ngời và tự nhiên từ đó
tìm ra nguyên nhân cũng nh giải pháp của thực trạng này.
Đề tài cung cấp thêm những số liệu cụ thể, mới nhất về vấn đề môi trờng và tình hình phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình.
7. Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận thì đợc chia làm ba chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận về nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Chơng 2: Tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự phát triển bền vững ở
tỉnh Hoà Bình
Chơng 3: Phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ môi trờng ở tỉnh Hoà Bình

4


Nội Dung
Chơng 1
Cơ sở lý luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1. Khái quát sự ra đời phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại. Ngời đầu tiên sử dụng thuật
ngữ phép biện chứng là Xôcrát với nghĩa là nghệ thuật tranh luận, đàm thoại
để tìm ra chân lý. Cho đến nay, trong lịch sử triết học đã xuất hiện ba hình
thức của phép biện chứng đó là: phép biện chứng tự phát thời cổ đại, phép biện
chứng duy tâm thời cận đại và phép biện chứng duy vật macxit.
Thời kỳ cổ đại đã bắt đầu xuất hiện những t tởng biện chứng. Điển hình
là những t tởng của Hêraclit, ông đợc coi là ông tổ của phép biện chứng. Ông
đã đa ra t tởng về vận động, về các mặt đối lập cũng nh sự chuyển hoá giữa
chúng. Theo ông vật chất luôn vận động, biến đổi và thế giới nh vậy không
ngừng phát triển Không ai bớc xuống cùng một dòng chảy hai lần đợc, bởi

Phép biện chứng duy vật, nh Ph.Ăngghen đã chỉ ra "là môn khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã
hội loài ngời và của t duy" [4, tr.201].
Phép biện chứng duy vật đợc tạo thành từ một loạt những phạm trù,
những nguyên lý và những quy luật đợc khái quát từ hiện thực, phù hợp với
hiện thực. Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng đắn những liên hệ, sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy. Tùy theo nhu cầu thực tiễn và
trình độ nhận thức của con ngời mà phạm vi các vấn đề đợc bao quát trong
phép biện chứng duy vật ngày càng đợc phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu.
Nhng ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của nó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
vẫn đợc xem là nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất.
1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.2.1. Các khái niệm
Liên hệ - trong bách khoa triết học Liên Xô định nghĩa: Liên hệ là một
quan hệ đặc biệt, trong đó sự xuất hiện, tồn tại, vận động, phát triển và mất đi
của của khách thể này là điều kiện cho sự xuất hiện, tồn tại, vận động, phát
triển và mất đi của khách thể khác.
Nh vậy, trong vô vàn những quan hệ phong phú của thế giới chỉ những
quan hệ mà các khách thể nơng tựa vào nhau, ràng buộc nhau, là điều kiện,
tiền đề tồn tại cho nhau thì đợc coi là liên hệ. Với ý nghĩa đó liên hệ chính là
sự tác động qua lại, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tợng hoặc giữa các mặt của sự vật, hiện tợng.
Liên hệ phổ biến: là liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng của toàn bộ thế
giới khách quan bao gồm cả tự nhiên, xã hội và t duy. Đó là liên hệ của những
mặt đối lập biện chứng, nó tạo ra một cấu trúc tuyệt đối cho sự ra đời, tồn tại,
vận động và phát triển của mọi sự vật và hiện tợng trong thế giới. Nh Lênin đã
từng khẳng định: tất cả liên hệ với tất cả.
1.2.2. Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan đã
có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số nhà triết học theo


Tuy nhiên, các sự vật, hiện tợng mặc dù có mối liên hệ với nhau, nhng
nó không đơn thuần là các mối liên hệ đồng nhất, giản đơn mà các mối liên hệ
rất đa dạng và phong phú do vậy mối liên hệ có những tính chất khác nhau. Cụ
thể, mối liên hệ có ba tính chất chủ yếu:
Thứ nhất: mối liên hệ mang tính khách quan. Các sự vật, hiện tợng
trong thế giới đều là các dạng khác nhau của thế giới vật chất, chúng đều tồn
tại khách quan do vậy mối liên hệ giữa chúng cung mang tính khách quan,
không phụ thuộc vào suy nghĩ, ý muốn của con ngời.

7


Thứ hai: mối liên hệ mang tính phổ biến. Mối liên hệ diễn ra cả trong tự
nhiên, xã hội và t duy.
Thứ ba: mối liên hệ mang tính đa dạng. Bao gồm mối liên hệ bên trong,
mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệ
bản chất và mối liên hệ không bản chất... Tính đa dạng của sự liên hệ do tính
đa dạng trong sự tồn tại, vận động và phát triển của chính sự vật và hiện tợng
quy định. Các loại liên hệ khác nhau thì cũng có vai trò khác nhau đối với sự
vận động, phát triển của sự vật và hiện tợng trong đó mối liên hệ bên trong,
mối liên hệ bản chất bao giừ cũng giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, sự phân
loại các mối liên hệ chỉ mang tính chất tơng đối, chúng có thể chuyển hoá cho
nhau.
Nh vậy, sự liên hệ tác động qua lại của sự vật, hiện tợng trên thế giới
không những là vô cùng, vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức tạp.
Chính vì vậy nhận thức và phân loại đúng đắn các mối liên hệ trong xã hội vô
cùng khó khăn và có ý nghĩa cự kỳ to lớn
1.2.3. ý nghĩa phơng pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những cơ sở, nền tảng
của phép biện chứng duy vật. Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của quan

xã hội, sự sống của con ngời không chỉ gắn với môi trờng tự nhiên mà còn gắn
bó rất chặt chẽ với môi trờng xã hội, chỉ trong môi trờng xã hội con ngời mới
mang bản chất ngời. các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của con ngời.
Luật bảo vệ môi trờng Việt Nam sửa đổi (2006) định nghĩa về môi trờng: Môi trờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao
quanh con ngời, có ảnh hởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển
của con ngời và sinh vật [17].
Nh vậy, có rất nhiều định nghĩa về môi trờng nhng theo một cách chung
nhất môi trờng chính là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội xung quanh con
ngời, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự tồn tại, phát triển của con ngời. Do vậy, môi trờng và con ngời có mối liên hệ rất gắn bó, chặt chẽ với nhau
trong đó môi trờng giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con ngời, ảnh hởng đến sự tồn tại của con ngời.
2.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trờng
11


Ô nhiễm môi trờng là một khái niệm rất rộng, cũng giống nh thuật ngữ
môi trờng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trờng:
Về mặt sinh học, ô nhiễm môi trờng là tình trạng của môi trờng trong
đó những chỉ tiêu sinh lý, hoá sinh của nó bị thay đổi theo hớng xấu đi nh làm
suy thoái, và huỷ hoại môi trờng. Suy thoái môi trờng chính là sự suy giảm về
chất lợng và số lợng của thành phần môi trờng, gây ảnh hởng xấu đến con ngời và sinh vật. Nh vậy, ô nhiễm môi trờng đợc hiểu đó chính là sự có mặt của
một số chất ngoại lai trong môi trờng tự nhiên, khi vợt quá giới hạn cho phép
thì chất đó trở nên có hại cho con ngời và sinh vật.
Về mặt pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trờng đã đợc đề cập ở trong đạo
luật của rất nhiều nớc. Cụ thể: Đạo luật bảo vệ môi trờng năm 1986 của bang
Western - Australia định nghĩa: Ô nhiễm môi trờng là bất cứ sự thay đổi trực
tiếp hay gián tiếp của môi trờng theo chiều hớng xấu đi hay sự suy thoái của
nó [6, tr.184].
Luật môi trờng sửa đổi (2006) của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam định nghĩa: Ô nhiễm môi trờng là sự làm biến đổi tính chất của môi trờng, vi phạm các tiêu chuẩn môi trờng gây ảnh hởng xấu đối với con ngời và

đơn giản: sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển
kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động
đến môi trờng sinh thái học.
Khái niệm này chính thức đợc sử dụng và trở nên rộng rãi trên toàn thế
giới thông qua báo cáo của Uỷ ban quốc tế về môi trờng và phát triển của Liên
Hiệp Quốc (WCED) vào năm 1987. Báo cáo đã chỉ rõ: Phát triển bền vững là
sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhng không làm tổn hại khả
năng của các thế hệ tơng lai trong đáp ứng nhu cầu của họ [6, 9]. Nói cách
khác, phát triển bền vững đó chính là phải đảm bảo sự phát triển kinh tế có
hiệu quả, xã hội công bằng và môi trờng đợc bảo vệ, gìn giữ.
Đến năm 1992, tại Rio de Janeiro - Brazin, các đại biểu tham dự Hội
nghị về Môi trờng và phát triển của Liên Hiệp Quốc đã xác định: Phát triển
bền vững là sự phát triển kết hợp cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trờng ,
nhằm sung túc hoá nhu cầu của đời sống con ngời trong hiện tại mà tổn hại
đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tơng lai [6, 9].
Tiếp tục thực hiện chiến lợc phát triển bền vững, năm 2002, Hội nghị
thợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp tại Nam Phi với sự tham gia
của các nhà lãnh đạo cũng nh các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trờng
của gần 200 quốc gia đã đa ra hai văn kiện quan trọng đó là: Tuyên bố chính
trị và Kế hoạch thực hiện với tên gọi là ba trụ cột để phát triển bền vững:
Phát triển kinh tế phải đi kèm với bảo vệ môi trờng và công bằng xã hội ở các
cấp độ địa phơng, quốc gia, khu vực và toàn cầu [6, 10]
ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành quan điểm của Đảng và
đợc thể hiện trong nghị quyết Đại hội lần thứ IX (2001) và đợc cụ thể hoá
trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 là: Phát triển
bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội nghĩa là phải gắn kết sự phát
triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện
13



sống trở nên khó khăn, chất lợng cuộc sống thấp cùng với sự thiếu hiểu biết,
họ đã tàn phá rừng, khai thác một cách bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên
nhiên khác vì mục đích trớc mắt.

14


Theo nghiên cứu, mất rừng là thủ phạm chiếm 30% trong tổng số các
nguyên nhân làm ô nhiễm suy thoái đất, khai thác rừng quá mức là nguyên
nhân chiếm 7%, còn ô nhiễm đất do công nghiệp hoá chỉ chiếm 1%. Mất rừng
dẫn đến đất không đợc bảo vệ và tái tạo, là nguyên nhân làm cho đất bị rửa
trôi, bạc màu, xói mòn... Sự suy giảm tài nguyên rừng đã khiến cho đất ở
nhiều địa phơng trong tỉnh trở nên khô cằn, hàm lợng chất dinh dỡng trong đất
giảm, đất mất khả năng trao đổi, tự phục hồi...
Bên cạnh đó, cũng do việc khai thác rừng một cách không hợp lý, đã
dẫn đến diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kéo theo đó ngời nông dân phải tăng
cờng việc sử dụng các phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng
trởng...để tăng năng suất, đáp ứng đủ nguồn lơng thực, điều này tất yếu sẽ dẫn
đến tình trạng đất bị ô nhiễm. Đây là nguồn ô nhiễm chiếm 28% trong tổng số
các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng đất. Do sự thiếu hiểu biết của ngời
dân địa phơng về tác hại lâu dài của các loại phân, thuốc hoá học cùng với
việc muốn thu đợc lợi nhuận cao, nên đa số nông dân ở đây đều sử dụng các
loại thuốc trừ sâu nh: clo hữu cơ, DDT, aldrin, photpho hữu cơ...; phân bón: N,
P... với số lợng quá lớn làm cho đất bị thoái hoá, bạc màu, mất khả năng canh
tác. Điển hình nh ở Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc sơn đã có rất nhiều đất trớc kia là
sản xuất nông nghiệp bây giờ phải bỏ trống, hoặc sản xuất nhng không đem
lại hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài ra, việc sử dụng các phân hữu cơ cha qua ngâm ủ, xử lý cũng là
một tình trạng diễn ra phổ biến ở đây, gần 90% hộ nông dân trong tỉnh sử
dụng loại phân này trong hoạt động nông nghiệp của mình. Việc bón trực tiếp

biệt có Sông Đà lớn nhất bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua các huyện Mai
Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn, thành phố Hoà Bình với tổng chiều dài là 151
km, tổng lu vực là 51.800km2. Ngoài ra, còn có các con sông lớn khác nh:
Sông Bôi dài 60km, Sông Bởi dài 55 km, Sông Bùi dài 32 km... Nh vậy, Hoà
Bình nằm trong khu vực của ba hệ thống sông chính: Sông Đà, Sông Mã và
Sông Đáy với khoảng 400 con sông, suối lớn nhỏ chảy trên địa bàn toàn tỉnh.
Trong đó có khoảng 5 sông có lu lợng dòng chảy trên 31m3/s. Tổng lu lợng
dòng chảy trung bình hàng năm trên toàn tỉnh khoảng 5 tỷ m 3, trong đó hệ
thống sông đà chiếm tỷ trọng chủ yếu. Ngoài nớc mặt, Hoà Bình còn có nguồn
nớc ngầm rất phong phú. Tài nguyên nớc khoáng dồi dào nh mỏ nớc khoáng ở
Kim Bôi, Lạc Sơn và hiện nay ngoài mỏ nớc khoáng Mớ đá đang đợc khai
thác thì trong tỉnh còn phát hiện trên 4 điểm nớc khoáng, nớc nóng đang đợc
nghiên cứu.
Lợng nớc dồi dào của tỉnh đủ để phục vụ hoạt động công nghiệp và
nông nghiệp cho toàn tỉnh. Mặc dù là nớc đầu nguồn nhng cùng với quá trình
công nghiệp hoá, phần lớn các sông, suối ở Hoà Bình đều rơi vào tình trạng bị
ô nhiễm, nồng độ các chất ô nhiễm vợt quá giới hạn cho phép ngày càng tăng,
nghiêm trọng có rất nhiều mẫu nớc ở quanh khu công nghiệp Lơng Sơn và
thành phố Hoà Bình đã phát hiện có các chất độc hại nh phenol, asen, xyanua,
chì, các hợp chất của nitơ...cực kỳ độc hại cho sức khoẻ con ngời, ảnh hởng
đến chất lợng phát triển. Phần lớn các khu, cụm công nghiệp tập trung và các
nhà máy công nghiệp ở trên địa bàn tỉnh không có hệ thống xử lý nớc thải
16


đúng tiêu chuẩn hoặc có những không sử dụng. Điển hình nh công ty sản xuất
giấy Hapaco Đông Bắc ở Huyện Mai Châu, xả nớc thải với lu lợng 200 m3/
ngày vào môi trờng, chỉ tiêu BOD (lợng oxy cần thiết cho quá trình phân huỷ
hiếu khí chất hữu cơ trong nớc trong khoảng thời gian nhất định) vợt 1,8 lần
mức cho phép, COD (lợng oxy cần thiết để oxy hoá hoá học các chất hữu cơ

ngời và hệ sinh thái. Các chất gây ô nhiễm không khí thờng tồn tại ở 2 dạng
17


phổ biến là: dạng hơi khí và phân tử rắn (thuỷ ngân, chì, bụi...), trong đó dạng
hơi khí chiếm trên 90% tổng lợng chất gây ô nhiễm.
Hiện nay, ô nhiễm không khí ngày càng trở nên nghiêm trọng ở Việt
Nam, tập chung chủ yếu ở các khu đô thị, các thành phố lớn và các khu công
nghiệp. Ô nhiễm không khí ở Việt nam đã vợt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần,
các khu dân c gần khu công nghiệp và đờng giao thông lớn đều có nồng độ
bụi vợt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 - 3 lần. Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí tại
các nút giao thông trọng điểm nh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ngày
càng trở nên trầm trọng, nồng độ các khí NOx, CO, SO4 vợt quá giới hạn cho
phép từ 2,5 - 5 lần gây ảnh hởng lớn tới sức khoẻ ngời dân [6, tr.193].
Tại tỉnh Hoà Bình, mặc dù hiện tợng ô nhiễm môi trờng không khí cha
trở nên nghiêm trọng và phổ biến nhng nó đã bắt đầu xuất hiện và có xu hớng
ngày càng lan rộng, tập trung chủ yếu ở các khu công ngiệp mới đợc xây
dựng. Bên cạnh đó, Hoà Bình có rất nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản nh:
amiăng, đá vôi, than, than đá, quăng đa kim (đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân),
khoáng sản phi kim loại nh Phirit, cao lanh, photphorit... phân bố rải rác ở Lạc
Sơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Kỳ Sơn. Đáng lu ý là đá, đất sét có trữ lợng lớn,
trong đó đá gabrodiaba trữ lợng 2,2 triệu m3, đá granít trữ lợng 8,1 triệu m3, và
đá vôi có trữ lợng rất lớn trên 700 triệu tấn. Do đặc thù về tài nguyên khoáng
sản nên các khu công nghiệp tập trung ở đây chủ yếu là các nhà máy sản xuất
vật liệu xây dựng nh xi măng, gạch; các nhà máy sản xuất giấy, phân lân; các
khu khai thác đá vôi...; đây chính là những ngành công nghiệp gây ô nhiễm
môi trờng không khí một cách nặng nề nhất. Điển hình nh các nhà máy sản
xuất xi măng, xi măng là ngành công nghiệp có mức độ ô nhiễm môi trờng
cao. Để sản xuất ra xi măng cần có một số lợng lớn nguyên liệu tự nhiên nh:
đá vôi, đất sét, than, dầu..., đây là những nguồn tài nguyên không tái tạo đợc ,

Thứ nhất: Do ma, nớc bốc hơi từ các khu công nghiệp, đất liền, sông
trên địa bàn tỉnh mang theo nhiều chất độc hại nh: Cl, CO, CO2, CH4,
NH3...làm ô nhiễm môi trờng không khí. Khi ma, các chất độc hại này tồn tại
trong không khí sẽ rơi xuống đất làm ô nhiễm môi trờng đất và nớc. Chu trình
này cứ tiếp diễn nh vậy tạo nên vòng tuần hoàn liên hồi làm cho môi trờng
ngày càng bị ô nhiễm một cách nặng nề.
Thứ hai: Do hậu quả của các trận bão, lũ lụt và các chất phóng xạ có
sẵn trong tự nhiên đã tác động trực tiếp đến môi trờng. Các hiện tợng lũ lụt,
bão, hạn hán thờng xuyên xảy ra ở tỉnh Hoà Bình một phần do địa thế của tỉnh
nằm ở vùng núi cao, độ dốc và phân giải của địa hình lớn nhng nguyên nhân
chính đó là do việc chặt phá, đốt rừng một cách bừa bãi. Lũ lụt đã làm ô
nhiễm nguồn nớc sinh hoạt của ngời dân và nguồn nớc ngầm, đất bị xói mòn.
Thứ ba: Do sinh vật bài tiết, xác chết của động vật và vi sinh vật. Tất cả
đã ngấm vào mạch nớc ngầm mang theo nhiều vi trùng nh E.Coli gây bệnh về
đờng tiêu hoá, Trichomas gây bệnh về đờng sinh dục và nhiều vi trùng nguy
hiểm khác gây bệnh cho con ngời, làm đảo lộn chu trình tuần hoàn vật chất
trong tự nhiên, mất cân bằng sinh thái.

19


Nguyên nhân tự nhiên gây ô nhiễm môi trờng mặc dù xét về lý thuyết
nó là nguyên nhân khách quan, không tuân theo ý muốn chủ quan của con ngời nhng thực tế, những nguyên nhân này đều có sự tác động ít hoặc nhiều của
con ngời. Chính con ngời là nguyên nhân làm cho ô nhiễm tự nhiên trở nên
nghiêm trọng hơn.
2.3.2.Ô nhiễm nhân tạo
Nếu nh ô nhiễm tự nhiên là nguôn ô nhiễm do thiên nhiên gây ra thì ô
nhiễm nhân tạo là nguồn ô nhiễm do hoạt động của con ngời gây ra. Con ngời
và môi trờng có mối liên hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau, Nhng chính
sự khai thác một cách quá mức và không hợp lý của con ngời là nguyên nhân

Hoà Bình, do ngời dân sử dụng quá mức các thuốc trừ sâu và bảo vệ thực vật
nên có hàm lợng asen cao hơn giới hạn cho phép, chiếm từ 15 - 20%, số mẫu
rau có hàm lợng NO3 cao ở mức báo động. Ngoài ra, số mẫu rau, quả tơi có
chứa chất bảo vệ thực vật chiếm tỉ lệ khá cao từ 20 - 50% [16, tr.10].
Bên cạnh việc sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp gây
ô nhiễm môi trờng thì việc sử dụng phân hữu cơ (do động vật và con ngời thải
ra) cha qua ngâm ủ, xử lý cũng là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trờng
đất. Nguồn phân này khi vào môi trờng đất đã mang theo rất nhiều vi trùng có
giới hạn sinh thái rộng, chúng có thể tồn tại ngoài môi trờng với thời gian dài
khiến đất bị nhiễm bẩn, mất khả năng tái sử dụng hoặc sử dụng không đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Điển hình nh rất nhiều đất nông nghiệp ở Huyện Lạc Sơn
đã phải bỏ trống, không có khả năng canh tác sau một thời gian sử dụng.
Nguy hiểm hơn, hoạt động này còn gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho con ngời
nh: các bệnh về đờng tiêu hoá, đờng sinh dục, viêm gan, viêm não, thờng hàn
và lâu dài có thể gây đột biến gen và ung th. Tình trạng này diễn ra phổ biến ở
tỉnh Hoà Bình do ngời dân cha có kiến thức đầy đủ, khoa học về sản xuất nông
nghiệp, 90% số hộ nông dân sử dụng phân hữu cơ cha qua xử lý, bón trực tiếp
vào môi trờng đất. Mặc dù hiện nay các cơ quan chức năng của tỉnh đã đẩy
mạnh việc phổ biến kiến thức khoa học nông nghiệp cho nông dân, cử cán bộ
chuyên nghành về từng địa phơng hớng dẫn cách sản xuất, sử dụng đúng cách
các loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật... nhng hiện tợng này
vẫn cha có cải thiện rõ rệt.
Thứ hai: Hoạt động công nghiệp
Đối với cả nớc nói chung và tỉnh Hoà Bình nói riêng thì hoạt động công
nghiệp là hoạt động gây ô nhiễm môi trờng một cách nặng nề, trong đó ngành
sản xuất và tiêu thụ năng lợng là ngành gây ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng
nhất trong các nguồn gây ô nhiễm do hoạt động công nghiệp gây ra. Bởi vì
mọi hoạt động của ngành này đều có quan hệ trực tiếp đến việc sử dụng năng
lợng từ các nguồn nh: than đá, khí đốt... Khi đốt những nhiên liệu này đã thải
ra một số lợng lớn khí CO2, CO, NOx và SO4..., đây là những khí gây ảnh hởng

Việt Nam là một nớc có tốc độ gia tăng dân số nhanh, so với thế giới tốc độ
gia tăng dân số của Việt nam cao gấp 2 lần; mỗi năm trung bình tăng khoảng
1,3 triệu ngời; tính đến năm 2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 ngời [6,
tr.69]. Dân số tăng nhanh, mức tiêu dùng tăng, quy mô sản xuất tăng...đã làm
cho tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, làm suy giảm độ đa dạng sinh
học, rối loạn chức năng hoạt động của hệ sinh thái, làm mất cân bằng hệ sinh
thái, gây ô nhiễm môi trờng.
Tỉnh Hoà Bình cũng là một địa phơng có tỉ lệ gia tăng dân số nhanh so
với các địa phơng khác ở trong nớc, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1%. Tính
đến tháng 4 năm 2009, dân số toàn tỉnh là 786.964 ngời thì đến tháng 7 năm
2009 dân số đã tăng lên đến 832.543 ngời [17. tr.6]. Nguyên nhân của thực
trạng này đó là do ngời dân, chủ yếu là ngời dân tộc thiểu số sống ở những
vùng đặc biệt khó khăn thiếu hiểu biết về kế hoạch hoá gia đình, đồng thời
22


chính quyền địa phơng cha có những biện pháp xử lý nghiêm do vậy tỉ lệ sinh
con thứ 3 ở những vùng này thờng rất cao. Sự gia tăng dân số một cách nhanh
chóng mặt trong khi diện tích đất không tăng đã dẫn đến hiện tợng chặt phá
rừng, đốt rừng làm nơng, khai thác một cách bừa bãi các tài nguyên thiên
nhiên nh: than, đá, quặng sắt...làm rối loạn chức năng của toàn bộ hệ sinh thái,
ô nhiễm môi trờng. Điển hình, nếu trớc kia Hoà Bình có khí hậu trong lành,
mát mẻ, thì hiện nay, khí hậu ở Hoà Bình đang ngày một trở nên nóng hơn,
hạn hán, lũ lụt, lũ quét thờng xuyên xảy ra gây ảnh hởng nghiêm trọng đến
cuộc sống của ngời dân và môi trờng sinh thái.
Bên cạnh đó, dân số đông dẫn đến số lợng rác thải do sinh hoạt của con
ngời ngày càng gia tăng đặc biệt là rác thải bệnh viện cha qua xử lý. Mỗi ngày
bênh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình đã thải ra môi trờng một số lợng lớn rác
thải, tuy nhiên số rác thải này đã không đợc xử lý đúng nh quy định mà phần
lớn đợc chôn, đốt ngay ngoài trời hoặc vận chuyển đến chỗ xử lý nhng không

tỉnh Hoà Bình
Phát triển bền vững là sự phát triển không ngừng nền kinh tế, đáp ứng
đợc yêu cầu tăng trởng, phát triển xã hội hiện đại nhng vẫn bảo vệ đợc môi trờng nhằm duy trì mối quan hệ cân bằng, hài hoà giữa con ngời và giới tự
nhiên, duy trì nền tảng của sự phát triển lâu dài. Nh vậy, Phát triển bền vững là
sự phát triển phải đảm bảo đợc 3 yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trờng. Hiện
nay, môi trờng cả nớc nói chung và tỉnh Hoà Bình nói riêng đang bị ô nhiễm
nghiêm trọng. Sự ô nhiễm của môi trờng có tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực
khác của đời sống đặc biệt là sự phát triển kinh tế và xã hội. Vì nh nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến đã chỉ rõ mọi sự vật, hiện tợng trong thế giới đều có
mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, chính vì vậy, mọi hoạt động gây ô
nhiễm môi trờng của con ngời sẽ có mối liên hệ với mọi lĩnh vực khác. Theo
trên, sự tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà
Bình sẽ đợc đánh giá trên 3 mục tiêu chủ yếu là kinh tế, xã hội và môi trờng
sinh thái.
2.4.1. Tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự phát triển kinh tế
Sự phát triển kinh tế của mỗi vùng miền đợc đánh giá bằng sự tăng trởng kinh tế, đó là sự gia tăng về quy mô sản lợng của nền kinh tế trong một
thời gian dài và tơng đối ổn định; bằng sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, thể
hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế thay đổi; bằng các
chỉ số GDP (bình quân thu nhập tính theo đầu ngời), GNP (tổng thu nhập quốc
dân kể cả tiền dòng từ nớc ngoài)... và một số chỉ tiêu cơ bản khác.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây bắc của tổ quốc. Đây là
vùng có tỉ lệ đói nghèo cao nhất Việt Nam, năm 1995, tổng số hộ nghèo
chiếm 86,1%, năm 2002 là 68,7% trong khi vùng Đông Nam Bộ tỉ lệ chỉ là
10,8% [6, tr.76]. Trong những năm qua, mặc dù tình hình kinh tế của tỉnh đã
có những bớc phát triển đáng kể do sự phát triển của các khu công nghiệp
đang ngày càng gia tăng ở tỉnh nhng so với các địa phơng khác trong nớc thì
Hoà Bình vẫn là một tỉnh có nền kinh tế chậm phát triển. Có rất nhiều nguyên
nhân dẫn đến sự phát triển không mạnh của nền kinh tế nh: đặc điểm địa hình
24


không thu hút đợc vốn đầu t từ bên ngoài vào Hoà Bình. Điều này đã gây ảnh
hởng lớn đến sự phát triển kinh tế, làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách của
tỉnh vì đây là nguồn mang lại lợi nhuận kinh tế chủ yếu.
Ô nhiễm môi trờng đã tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế trong
toàn tỉnh, khiến tình trạng đói nghèo, thiếu lơng thực, thực phẩm vẫn xảy ra ở
đây, mức thu nhập bình quân đầu ngời thấp, ngời dân không đảm bảo đợc
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status