MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi ra đời, DNNN đã giữ vai trò vô cùng quan trọng và
không thể thiếu đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Tuy nhiên, do cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu,
bao cấp thời kỳ trước đổi mới mà DNNN không phát huy được vai trò
quan trọng của mình. Các biện pháp đổi mới giai đoạn này chủ yếu tập
trung vào việc tháo gỡ những vướng mắc, rào cản của cơ chế cũ, góp
phần cởi trói, và giải phóng một phần năng lực sản xuất của các DNNN.
Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế
nước ta trong thời kỳ quá độ tất yếu tồn tại ba hình thức sở hữu (sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân) và năm thành phần kinh tế (kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài), trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền
kinh tế. Và DNNN là bộ phận đặc biệt quan trọng của thành phần kinh tế
nhà nước. DNNN đóng vai trò như người “anh cả”, đi đầu trong những lĩnh
vực cần phải có sự can thiệp của Nhà nước, những lĩnh vực, những ngành,
nghề mà khu vực tư nhân không thể làm, không làm được hoặc không
muốn làm.
Đại hội VI năm 1986 của Đảng đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong
quá trình đổi mới kinh tế nói chung và DNNN nói riêng. Đại hội đã chỉ rõ:
“Phải đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh
có quyền tự chủ, thực sự chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế…”.
Từ đó đến nay, đã qua nhiều kỳ Đại hội và vấn đề đổi mới doanh
nghiệp nhà nước luôn được đề cập, coi trọng:
1
2
năm nay, và đã đạt được những thành tựu nhất định. Quá trình sắp xếp, đổi
mới DNNN về thực chất là tái cấu trúc hệ thống DNNN nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc
này chưa đạt được như mong muốn, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn,
các tổng công ty, các công ty nhà nước chưa thật sự tương xứng với nguồn
lực đã đầu tư cho DNNN.
Điều đó đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc DNNN ở thủ đô Hà Nội theo
quan điểm mới và phù hợp với điều kiện hiện nay về kinh tế - xã hội ở
nước ta. Với đề tái “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
thành phồ Hà Nội hiện nay”, tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé vào
việc đáp ứng yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách nói trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sắp xếp, đổi mới quản lý và
nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Có thể kể ra một số công trình
tiêu biểu sau:
ThS. Phạm Văn Chiến, Đề tài nghiên cứu cấp trường: Quá trình đổi
mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010.
Đỗ Bình Trọng, Hoàn thiện tổ chức quản lý DNNN theo mô hình
công ty mẹ - công ty con, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Bách
Khoa Hà Nội, Hà Nội, 1995.
Ngô Đức Trung, Hiệu quả kinh doanh của các DNNN tỉnh Quảng
Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
Lê Minh Hiếu, Sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN
ở tỉnh Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
bài học kinh nghiệm với Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số (399)
tháng 8/2011.
4
Nguyễn Lê Quý Hiển, Sự chuyển biến quan hệ sở hữu trong doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hóa ở Việt Nam,Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số
(403) tháng 12/2011.
Phạm Hoài Thanh, Tiến trình cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước
còn quá chậm, Thời báo kinh tế Việt Nam, Số tháng 5/2001.
Tô Huy Rứa, Cổ phần hóa DNNN dưới góc nhìn phát triển kinh tế xã hội bền vững, Tạp chí cộng sản, Số 5, 2006.
Đinh Công Hùng, Đánh giá thực trạng DNNN và thực trạng đổi mới,
Thông tin lý luận, Số 12, 1993.
Hồ Xuân Hùng, Đổi mới và phát triển DNNN, Báo Quân đội nhân
dân, 05/04/2006...
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu vào nghiên cứu lý luận về
DNNN nói chung, thực trạng hoạt động của DNNN, thực trạng quá trình
sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam, cũng như ở một số tỉnh, thành, đồng
thời đưa ra nhiều giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém, nâng cao hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, và các giải pháp đẩy mạnh tiến trình
sắp xếp, đổi mới, tiến trình cổ phần hóa DNNN. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu về tái cấu trúc DNNN trên địa bàn Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Khái quát những vấn đề lý luận về tái cấu trúc DNNN, từ đó khảo sát
thực trạng và đề xuất giải pháp tái cấu trúc DNNN trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- Nhiệm vụ:
+ Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về DNNN và tái cấu trúc
DNNN.
luận được chia thành 3 chương lớn:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tái cấu trúc DNNN.
Chương 2: Thực trạng sắp xếp, đổi mới quản lý DNNN ở thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tái cấu trúc DNNN ở Hà Nội.
6
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CẤU
TRÚC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc doanh nghiệp
nhà nước
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước và các hình thức tồn tại của
doanh nghiệp nhà nước
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), DNNN là tổ chức kinh
tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh
doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội do nhà nước giao. Cũng theo luật này, DNNN tồn tại dưới các hình
thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của
tổng công ty.
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), DNNN là tổ chức kinh tế
do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phấn góp vốn chi
phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn.
Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định “DNNN là
doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”.
Luật Doanh nghiệp cũng quy định các hình thức pháp lý của DNNN
như sau:
Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, là công
để thực hiện những mục tiêu đề ra.
Từ đó, tái cấu trúc DNNN là quá trình tổ chức, sắp xếp lại và đổi
mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN.
Một chương trình tái cấu trúc DNNN toàn diện sẽ bao gồm các lĩnh
vực như cơ cấu tổ chức, nguồn lực, cơ chế quản lý, điều hành,.. Tái cấu
trúc cũng có thể được triển khai “cục bộ” tại một hay nhiều mảng hoạt
động của DN (về tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất, tiêu thụ…) nhằm
tăng chất lượng của các hoạt động đó.
8
Trên thực tế, tái cấu trúc DNNN đã được bắt đầu từ sau Nghị quyết
Trung ương 6 (Khóa IV, năm 1979), đặc biệt là sang đầu những năm 90
của thế kỷ XX, với tên gọi đổi mới và sắp xếp lại DNNN, thông qua các
biện pháp giải thể, cho thuê, sáp nhập, cổ phần hóa, xây dựng thành các
tổng công ty, tập đoàn, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên v.v...
1.2. Kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
Đã có nhiều cuộc Hội thảo, nhiều bài viết trình bày kế hoạch tái cấu
trúc nền kinh tế nói chung và tái cấu trúc DNNN nói riêng, trong đó còn có
sự không thống nhất về một số nội dung của kế hoạch này. Trong phạm vi
đề tài này, chúng tôi trình bày kế hoạch tái cấu trúc DNNN ở nước ta theo
các nội dung chủ yếu sau đây:
1.2.1. Về mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của tái cấu trúc là nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh, đầu tư và xã hội;. tăng cường năng lực cạnh tranh, qua
đó phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong đó
DNNN có vị trí quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững,
ổn định.
1.2.2. Quan điểm tái cấu trúc
Kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều
ngành nghề phụ trợ.
- Xóa bỏ các Ngân hàng, công ty tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm
trong các TĐKT; thoái vốn nhà nước do các DNNN đầu tư ở các định chế
tái chính. Vấn đề này cần được sớm giải quyết để khắc phục, ngắn chặn
luồng tín dụng “bừa bãi” gây tình trạng nợ xấu cho các TĐKT.
- Chính phủ trao quyền đại diện sở hữu cho một cơ quan duy nhất.
Thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ. Tách quyền sở hữu với quyền điều
hành sản xuất kinh doanh; trao quyền quản lý, giám sát DNNN mạnh hơn
nữa cho các Bộ, Ngành.
- Tăng quy mô, năng lực điều hành, nguồn vốn cho các DNNN cần
thiết phải duy trì phát triển.
10
- Thiết lập mô hình quản trị DNNN tuân thủ các quy tắc quản trị
công ty. Quản trị DN quyết định sự sống còn và năng lực cạnh tranh của
DN trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp vững vàng hơn, tự tin và chủ
động hơn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tồn tại và phát triển
bền vững trong thời gian tới.
- Khẩn trương thiết lập hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh, hiệu
quả việc quản lý sử dụng vốn để cung cấp thông tin thường xuyên cho cơ
quan quản lý giám sát.
- Hoàn thiện cơ chế và ban hanh quy chế người đại diện và kiểm soát
viên trong DNNN trên cơ sở quy định rõ ràng, chặt chẽ về quyền hạn,
nghĩa vụ, và lợi ích để tăng cường hiệu quả giám sát. Trao những chế tài đủ
mạnh cho các cơ quản lý, cơ quan giám sát, cơ quan đại diện chủ sở hữu.
- Rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc diện tái cấu
trúc, đặc biệt là vấn đề đầu tư ngoài ngành, hướng các DNNN vào thực
hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chính.
- Thay đổi chính sách đầu tư. Nhà nước thực hiện thay đổi, điều
Nền kinh tế ở nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, hay chính là nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật
của hệ thống kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ
nghĩa. Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương
tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử
dụng kinh tế thị trường, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn
nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có
thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
12
Thực tiễn phát triển kinh tế của đất nước đã chứng minh những ưu
điểm của cơ chế thị trường như tạo ra tính năng động, tự do kinh doanh,
khuyến khích cạnh tranh, thông qua thị trường mà phân bổ các nguồn lực
một cách hiệu quả nhất, phát huy đến mức cao nhất các tài năng sáng tạo...
Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật nhất định như là
cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, phân hóa giàu nghèo, bất bình
đẳng xã hội, hủy hoại môi trường…
Trong khi đó, mục tiêu của chúng ta là xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa, xây dựng một quốc gia có dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh. Vậy thì những khuyết tật đó của cơ chế thị trường
phải được giải quyết như thế nào? Làm thế nào để đảm bảo cạnh tranh bình
đẳng? Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo?...Điều này đòi hỏi
nhiều ưu đãi hơn so với các DN ngoài quốc doanh.
Mặc dù vậy, những năm trở lại đây, khi nền kinh tế Việt Nam hội
nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế toàn cầu thì các DNNN Việt Nam lại
bộc lộ ngày càng nhiều hạn chế, yếu kém, kết quả mà DNNN đem lại chưa
tương xứng với nguồn lực do Nhà nước đầu tư, được thể hiện ở các khía
cạnh sau:
Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh của DNNN còn thấp:
Các số liệu thống kê cho thấy, khả năng sinh lời của DNNN không
cao, thậm chí thua lỗ. Theo báo cáo của Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung
ương mới đây, nhiều TĐKT, TCT nhà nước đang có những con số lỗ giật
mình, như Tập đoàn Điện lực tính đến đầu năm 2011 lỗ gần 8.000 tỉ đồng;
Tổng công ty Xăng dầu lỗ khoảng 1.500 tỉ đồng… đằng sau những con số
lỗ lớn của nhiều TĐKT, TCT là câu chuyện về nợ xấu ngân hàng và chiếm
dụng vốn lẫn nhau.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, hiện các DNNN chiếm tới
60% tín dụng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Đặc biệt mức nợ của
các DNNN đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng. Tính đến hết
tháng 8/2011, nợ xấu toàn ngành ngân hàng ở mức trên 76.000 tỉ đồng và
đang có xu hướng tăng. Trong đó, các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất
14
trắng khoảng 37.000 tỉ đồng. Trong khi 1 đồng vốn của DNNN chỉ làm ra
0,095 đồng lợi nhuận trước thuế thì cùng 1 đồng vốn của công ty cổ phần
(được chuyển đổi từ DNNN) lại làm ra 0,19 đồng lợi nhuận.
Mặc dù các DNNN đang chiếm giữ một nguồn lực rất lớn của xã hội,
nhưng sự đóng góp cho nền kinh tế không tương xứng, xét về tỷ trọng đóng
góp cho GDP giải quyết việc làm, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất (đất
đai, tiền vốn, nguyên vật liệu…) kém hơn các loại hình DN khác… Cơ chế
quản lý vẫn còn nhiều bất cập, như quyền quản lý nhà nước đối với DNNN,
Năng lực cạnh tranh của DNNN còn thấp là do mấy nguyên nhân
chủ yếu sau:
- Cơ cấu mô hình tổ chức tập đoàn, tổng công ty không phù hợp.
Với mục tiêu tạo nên những TĐKT, TCT nhà nước có quy mô lớn,
nhằm tận dụng lợi thế quy mô, phát triển thương hiệu cũng như khai thác
các lợi thế khác, nhưng mô hình các DNNN lớn lại rất gần gũi với hệ thống
kế hoạch hóa tập trung, trong đó các DN hầu như không có quyền tự chủ
trong sản xuất, kinh doanh làm mất đi điều kiện tiên quyết để tạo nên một
tập đoàn kinh tế thực thụ. Ngoài những ưu đãi độc quyền, những ưu đãi về
vốn, đất đai, nhân lực đã trở thành nguyên nhân quan trọng, làm mất đi tính
cạnh tranh của các DNNN. Để chuẩn bị cho Viêt Nam gia nhập WTO;
Chính phủ đã thành lập nhiều TĐKT nhà nước với kỳ vọng cạnh tranh với
các DN lớn của nước ngoài.
Theo đó, 12 TĐKT nhà nước đã ra đời, nắm giữ vị thế gần như độc
quyền ở nhiều ngành sản xuất trọng yếu. Tuy nhiên, thực tế, sự ra đời của
các tập đoàn chỉ như “góp gạo thổi cơm chung” nhưng cũng “cơm chẳng
lành, canh không ngọt” bởi cấu trúc thiếu hợp lý của các tập đoàn này. Sự
hiện diện của các TĐKT có thể thấy ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương,
tạo nên sự độc quyền và ưu ái riêng, chưa nói tới cách thức tổ chức, quản lý
không thống nhất. Sự quản lý theo cách trên đây dẫn đến tình trạng phân
16
tán nguồn lực, lãng phí đầu tư; thiếu sự liên kết giữa các tập đoàn, tổng
công ty tạo sức cạnh tranh trên thị trường.
- Đầu tư tràn lan, chệch hướng.
Tính đến giữa năm 2011, các TĐKT, TCT nhà nước đã đầu tư
19.500 tỷ đồng ra ngoài ngành. Đáng lo ngại là số tiền này đã được đổ vào
nhiều lĩnh vực có độ rủi ro cao như: chứng khoán, ngân hàng, bất động sản,
bảo hiểm… làm phân tán nguồn lực cả về vốn và nhân lực, gây rủi ro lớn.
của công ty con nắm giữ một lượng cổ phiếu đáng kể của công ty con mới.
Một phần tài sản của tập đoàn (nhà xưởng, tài nguyên, đất đai) được
chuyển cho công ty con dưới hình thức đầu tư hay góp vốn ban đầu. Về bản
chất, quá trình này không khác nhiều so với quá trình bòn rút tài sản công
thông qua tư nhân hóa đại trà ở Nga vào đầu những năm 1990, mặc dù ở
Việt Nam, quá trình này xảy ra với tốc độ chậm hơn và mức tập trung của
cải vào trong tay một bộ phận thiểu số.
Trước thực tế đó, tái cấu trúc các DNNN là tất yếu và là nhiệm vụ
cấp bách nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh hiệu quả, tăng sức cạnh tranh
của DNNN nói riêng, của cả nền kinh tế quốc dân nói chung trong bối cảnh
hội nhập quốc tế ngày càng diễn ra sâu, rộng như hiện nay.
1.3.3. Sắp xếp, đổi mới và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước là
quan điểm nhất quán và thể hiện quyết tâm cao của Đảng ta
Trong giai đoạn 2001 - 2011, cùng với những chuyển biến và đổi
mới nền kinh tế, thì đổi mới DNNN vẫn tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của DNNN, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được
giao và củng cố, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đổi mới
DNNN được Đảng ta khẳng định và nhấn mạnh qua các kỳ Đại hội IX
(2001), Đại hội X (2006) và mới đây là Đại hội XI (2011).
Đại hội IX (năm 2001) đã đề ra mục tiêu trong 5 năm (2001 - 2005)
phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới
và nâng cao hiệu quả các DNNN hiện có, đồng thời phát triển thêm DN mà
Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh
18
vực then chốt và địa bàn quan trọng. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương CPH
và đa dạng hóa sở hữu đối với những DN mà Nhà nước không cần nắm
100% vốn. Việc bán cổ phần cho các tổ chức và cá nhân ngoài DN được
mở rộng. Thực hiện sáp nhập, giải thể hoặc phá sản các DNNN hoạt động
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để doanh
nghiệp nhà nước góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ
công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an
ninh, là lực lượng nòng cố đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền
tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa''.
Để đạt được mục tiêu và những nhiệm vụ trên, Hội nghị đề ra 5 giải
pháp lớn là:
Thứ nhất, định hướng sắp xếp, phát triển doanh nghiệp nhà nước
hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách.
Thứ ba, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công
ty nhà nước, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Thứ tư, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Thứ năm, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập,
giải thể, phá sản DNNN.
Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (tháng 1 năm 2004) quyết định
"Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực doanh
nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa mạnh hơn nữa". Về chỉ đạo,
Trung ương đã quyết định "Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng
diện các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa, kể cả một số công ty và
doanh nghiệp lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hóa
chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đường bộ, đường sông, hàng
không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm... Giá trị tài sản doanh
nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, trong đó có giá trị quyền sử dụng
đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định. Việc mua bán cổ phiếu
20
phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín
Như vậy, tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là
một tất yếu khách quan, là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn phát triển kinh tế
của đất nước, chứ không phải là ý muốn chủ quan của bất kỳ ai.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SẮP XẾP, ĐỔI MỚI QUẢN LÝ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội
Quán triệt chủ trương của Đảng và Chính phủ về cải cách, đổi mới
DNNN, Thành uỷ và UBND Thành phố Hà Nội đã có kế hoạch thực hiện
ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Từ tháng 1/1993 đến tháng 12/1996 Thành uỷ xây dựng và lãnh đạo
thực hiện tốt chương trình số 18/Ctr-TW ngày 12/1/1993 về sắp xếp lại sản
xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Kết quả là 344 DNNN đã đăng ký
hoạt động theo Nghị định 388/NĐ-HĐBT, sát nhập 37 DN và 19 DN khác
và giải thể 13 DN.
Thực hiện Nghị định số 28/NĐ-TTg ngày 07/5/1996 của Thủ tướng
Chính phủ về chuyển một số DNNN thành Công ty cổ phần, Thành uỷ ra
Chỉ thị số 10/CT-TW này 10/1/1997 yêu cầu các cấp, các ngành có kế
hoạch, biện pháp chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện CPH ở ngành mình. Song
vì nhiều lý do, đến cuối năm 1996, Thành phố mới chỉ có một DN được
CPH là Xí nghiệp sản xuất đồ mộc thuộc Sở Thương mại, và 4 Công ty cổ
phần từ các DNNN được tách ra là Công ty điện tử Hà Nội, Công ty xốp
nhựa - Hanel, Công ty Taxi và Công ty chiếu sáng đô thị.
Ngày 2/10/1996 Chính phủ có Nghị định 56/CP về DNNN hoạt động
công ích và ngày 4/4/1997 Bộ Chính trị có thông báo số 63/TB-TW về tiếp
23
24
Năm 1999, kết quả có phần khả quan hơn với 41 công ty cổ phần
được hình thành từ CPH DNNN, sát nhập 5 DN, giải thể một DN, thành lập
và đưa vào hoạt động Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà. Thế nhưng
tiến trình cải cách DNNN đã thực sự bị chững lại từ năm 2000, khi chỉ có 9
DN được chuyển đổi thành công ty cổ phần trong cả năm và tốc độ chậm
chạp này vẫn tiếp tục diễn ra cho đến hết năm 2001, cả năm 2001 chỉ cổ
phần hoá được 8 DNNN và không có DN nào chuyển đổi sở hữu theo Nghị
định 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN.
Đến năm 2004, tiến trình sắp xếp, đổi mới DNNN được tiếp tục triển
khai với Nghị định của Chính phủ Số 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2004 Về việc chuyển công ty nhà nớc thành công ty cổ phần.
Theo QĐ số 94/2005/QĐ-TTg về phê duyệt phương án sắp xếp, đổi
mới công ty nhà nước thuộc UBND thành phố Hà Nội, trong tổng số 116
DN, năm 2005, có 73 DN được sắp xếp lại. Để thực hiện, thành phố Hà
Nội đã ban hành Quyết định 2320/QĐ-UB về quy trình CPH DNNN; chủ
động tranh thủ sự phối hợp giúp đỡ của Bộ tài chính, Ban chỉ đạo đổi mới
và phát triển DN trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc áp
dụng Nghị định 187/2004/NĐ-CP.
Đến hết năm 2005, thành phố Hà Nội đã hoàn thành sắp xếp, đổi mới
73 DN. Cụ thể: 30 DN được CPH toàn bộ DN; 28 DN chuyển DNNN sang
công ty TNHH một thành viên; 2 DNNN chuyển sang công ty mẹ – công ty
con; 10 DN được sáp nhập; 1 DN chuyển về trung ương quản lý; 1 DN giao
cho tập thể người lao động; 1 tổng công ty đầu tư và phát triển nhà sang
hoạt động theo mô hình tổng công ty mẹ - công ty con.
Đến nay, UBND thành phố Hà Nội cũng đã có văn bản gửi các bộ,
ngành liên quan kiến nghị một số giải pháp cụ thể để giai đoạn 2011 2015, công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN
trên địa bàn bảo đảm đúng lộ trình và phát huy hiệu quả.