MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo nhiều nghiên cứu có uy tín, thế kỷ XXI sẽ là kỷ nguyên của toàn
cầu hóa, trong đó thông tin đóng vai trò chiến lược, tác động đến hầu hết các
lĩnh vực chủ yếu trong xã hội, từ kinh tế cho đến chính trị, văn hóa…Yếu tố
cạnh tranh về mặt thông tin sẽ ngày càng gay gắt và trở thành một trong
những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của thế giới. Những thành tựu
công nghệ mới như điện toán đám mây, vệ tinh liên lạc viễn thông, trí tuệ
nhân tạo, mạng xã hội, điện thoại di động kết nối internet…tất cả đang tạo
nên những bước đột phá mạnh mẽ trong lĩnh vực truyền thông. Tuy nhiên,
việc các luồng thông tin tràn ngập khắp nơi với số lượng khổng lồ và khó
kiểm chứng dễ gây ra tình trạng nhiễu loạn thông tin, từ đó gây ra những xáo
trộn xã hội; các công ty có thể bị mất uy tín, lòng tin của nhà đầu tư, khách
hàng có thể bị lung lay và các quyết định kinh doanh không còn chính xác.
Ngoài ra, không phải tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp nào cũng có bộ phận
thông tin chuyên nghiệp có khả năng truyền đạt chính xác, đúng nơi, đúng
chỗ, đúng liều lượng thông tin đến đúng đối tượng mục tiêu của mình để đạt
được hiệu quả tâm lý hoặc hành động như mong đợi. Chính vì thế, các tổ
chức, cơ quan, chính phủ và doanh nghiệp rất cần có sự can thiệp của hoạt
động quản lý thông tin chuyên nghiệp. Đó cũng chính là cơ sở dẫn đến sự ra
đời và phát triển của ngành Quan hệ công chúng, hay còn gọi là PR (Public
Relations).
Tại Việt Nam, ngành PR mới du nhập vào khoảng những năm 90 của
thế kỷ XX đáp ứng nhu cầu thiết yếu của thị trường, song hành cùng với sự
phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta trong thời kỳ hội nhập. Bước vào
thiên niên kỉ mới, tiến trình mở cửa được đẩy mạnh với việc Việt Nam trở
thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO. Sự kiện
này dẫn đến những thay đổi cơ bản trong xã hội và nền kinh tế Việt Nam. Đây
1
Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao dịch vụ của các công ty PR
chuyên nghiệp tại Việt Nam” nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến thực
trạng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty PR chuyên
nghiệp tại Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành PR
Việt Nam.
2. Lịch sử và tình hình nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, PR vẫn là một ngành khá mới mẻ tại Việt Nam,
những nghiên cứu về PR và đặc biệt là chất lượng dịch vụ của các công ty PR
chuyên nghiệp nói riêng hay của ngành PR nói chung vẫn còn rất hạn chế.
Một trong số ít những nghiên cứu về ngành PR nói chung dưới góc nhìn của
PR phải kể đến 2 cuốn sách “PR Lý luận và ứng dụng” và cuốn “ngành PR
tại Việt Nam” của PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng chủ biên.
Trong chương 1 của cuốn sách “PR lý luận và ứng dụng” của PGS TS.
Đinh Thị Thúy Hằng (chủ biên), 2008, NXB Lao động và Xã hội đã đưa ra
những lý luận chung về PR, so sánh PR với quảng cáo, marketing, dân vận và
tuyên truyền. các lý thuyết về PR trong doanh nghiệp, vai trò của PR trong
doanh nghiệp. Trong chương 6 “ Ngành PR và những vấn đề pháp luật ” đã
đi sâu vào phân tích các hoạt động, dịch vụ PR cần phải tuân thủ pháp luật và
đạo đức ra sao. Đây là những cơ sở lý luận quan trọng được sử dụng trong
khóa luận này.
Trong phần I của cuốn sách “ Ngành PR tại Việt Nam ” của PGS
TS.Đinh Thị Thúy Hằng (chủ biên),2010,NXB Lao động và Xã hội đã đưa ra
một bức tranh toàn cảnh về ngành PR tại Việt Nam. Chương 1, 2, 3 lần lượt
đưa ra những phân tích, đánh giá về sự hình thành, phát triển và xu hướng của
ngành PR tại Việt Nam. Đặc biệt, trong chương 2 “ Khái quát diện mạo PR
chuyên nghiệp tại Việt Nam” tác giả đã có riêng một phần giới thiệu về “ Các
công ty PR chuyên nghiệp” với danh sách các công ty PR được nhiều người
biết đến và đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các công ty PR Việt Nam
3
4
và quảng cáo trong suốt năm đó. Tuy nhiên, đây là khảo sát về ngành truyền
thông nói chung nên với riêng lĩnh vực PR, nghiên cứu này chỉ cung cấp được
những đánh giá cơ bản về sự nhận biết thương hiệu, công ty PR chuyên
nghiệp được nhiều tổ chức biết đến nhất và một số tiêu chí mà các doanh
nghiệp sử dụng dịch vụ đánh giá về các công ty PR như: Sự sáng tạo, tính linh
hoạt, khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng, hiệu quả của các giải pháp
truyền thông...
Khi nghiên cứu về chất lượng dịch vụ nói chung, có một số những
nghiên cứu quan trọng không thể bỏ qua đó là nghiên cứu của Parasuraman &
ctg ( 1988,1991). Parasuraman & ctg ( 1988, trang 17 ) đã đưa ra định nghĩa
chất lượng dịch vụ cũng như đưa ra những nghiên cứu định tính và định
lượng để xây dựng và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ ( gọi là thang đo
SERVQUAL ). Sau đó là thang đo SERVPERF được các tác giả Cronin &
Taylor (1992) đưa ra dựa trên việc khắc phục những khó khăn khi sử dụng
thang đo SERVQUAL cũng với 5 nhân tố của chất lượng dịch vụ: độ tin cậy,
độ phản hồi, sự bảo đảm, sự cảm thông và tính hữu hình với 22 biến quan sát
được sử dụng để đo lường 5 nhân tố kể trên. Tuy nhiên, với mỗi loại hình
dịch vụ khác nhau, đặc biệt là dịch vụ PR có những đăc thù riêng của mình,
tác giả đã tổng hợp và đối chiếu lý thuyết trên để sử dụng hợp lý trong khóa
luận của mình.
Ngoài những nghiên cứu trên, thì còn có một số bài viết và nghiên cứu
khác về hoạt động của các công ty PR chuyên nghiệp mà tác giả có tham khảo
như:
Cuốn sách “ Bắt đầu hoạt động kinh doanh một công ty PR chuyên
nghiệp” ( Start up your own Public Relations Bussiness – Your step by step
guide to success ) của Entrepreneur Press và Jacquelyn Lynn, xuất bản năm
chỉ dừng lại ở bài viết tham khảo, chỉ đưa ra các luận điểm có ví dụ minh họa,
chưa đi sâu vào nghiên cứu và phân tích trường hợp điển hình.
Từ lịch sử nghiên cứu có thể thấy vấn đề hoạt động của các công ty PR
chuyên nghiệp đã nhận được sự quan tâm và là đề tài nghiên cứu của nhiều
6
tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên những nghiên cứu về dịch vụ của các
công ty PR chuyên nghiệp tại Việt Nam dưới góc nhìn của một nhà hoạt động
truyền thông thì vẫn chưa có. Chính vì thế, tác giả của khóa luận đã tiến hành
hơn 10 cuộc phỏng vấn sâu với một số giám đốc của các công ty PR chuyên
nghiệp và những người có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực truyền
thông tại Việt Nam, để từ đó có được cái nhìn khái quát hơn và là tư liệu sơ
cấp quan trọng về đề tài khi bắt đầu thực hiện khóa luận này. ( Chi tiết xem
thêm tại phần phụ lục đính kèm )
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng dịch vụ của một số công
ty PR chuyên nghiệp hiện nay, từ đó đưa ra những định hướng giải pháp giúp
hoàn thiện chất lượng dịch vụ của các công ty PR chuyên nghiệp góp phần
vào sự phát triển bền vững của ngành PR tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu là:
Hệ thống hóa những khái niệm và quan điểm về dịch vụ của các
công ty PR chuyên nghiệp
Tổng hợp, đánh giá thực trạng dịch vụ của các công ty PR chuyên
nghiệp tại Việt Nam nói chung
Phân tích, tổng hợp, đánh giá dịch vụ của 3 công ty PR chuyên
nghiệp tiêu biểu tại Việt Nam: Công ty TNHH Lê và Anh Em; Công ty
TNHH liên doanh T&A Ogilvy; Công ty TNHH VOInteractive (từ tháng 03
doanh 50% hợp tác với nước ngoài 50 % trong nước; Công ty TNHH
VOInteractive là công ty 100% nước ngoài. Với việc khảo sát tại 3 công ty
này, đại diện tiêu biểu cho 3 hình thức cơ bản của các công ty PR chuyên
nghiệp tại Việt Nam hiện nay, điều này đảm bảo tính bao quát cho các nghiên
cứu của khóa luận.
5.
1
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường FTA năm 2004 và năm 2008.
8
Phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm phương pháp phân tích
nội dung tài liệu, phương pháp thống kê, phân loại các tài liệu, phương pháp
quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu thực trạng họat động kinh
doanh, chất lượng dịch vụ cung cấp của các công ty PR chuyên nghiệp tại
Việt Nam.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu là một trong những tài liệu nghiên cứu học thuật về đề
tài ngành PR tại Việt Nam.
Nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn khá toàn diện về dịch vụ của
các công ty PR chuyên nghiệp tại Việt Nam và đưa ra những định hướng, giải
pháp nâng cao chất lượng dịch vụ PR nhìn từ nhiều khía cạnh.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu bổ ích cho giảng
lâu năm trong lĩnh vực này.
Lý giải điều này cũng dễ hiểu bởi ngay như ở các nước có ngành PR
phát triển lâu năm thì các định nghĩa về PR cũng rất khác nhau. Trong bài báo
“ Xây dựng một định nghĩa về PR” đăng trên tạp chí Public Relations Review
của Mỹ, Rex Harlow, một trong những học giả hàng đầu về PR cho hay, có
đến 472 định nghĩa khác nhau về PR được đưa ra trong khoảng thời gian từ
năm 1900 - 1976.3 Có lẽ vì PR được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác
nhau nên các nhà thực hành PR hay những học giả nghiên cứu PR có rất
nhiều cách giới hạn vai trò và chức năng của PR trong đời sống hiện đại:
Theo viện PR của Anh (IPR) định nghĩa: “PR là những nỗ lực được
đặt kế hoạch, duy trì để hình thành và củng cố sự thiện chí và hiểu biết lẫn
2
PGS.TS Đinh Thúy Hằng, PR Lý luận và Ứng dụng, Alpha Books, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội, 2008,
trang 64 - 67
3
Tench, R.& Yeomans, L., 2006, Exploring Public Relations ( Khám phá PR), NXB Prentice Hall, tr.4
10
nhau giữ một tổ chức và công chúng của họ”4. Theo đó PR bao gồm những
thành tố cơ bản như chương trình lập kế hoạch, mục tiêu dài hạn và mối quan
hệ giữa tổ chức và công chúng.
Tại đại hội đầu tiên của các hiệp hội PR thế giới năm 1978 tại Mexico
đã đưa ra định nghĩa PR là “nghệ thuật và khoa học xã hội của sự phân tích
các xu thế, dự đoán những diễn biến tiếp theo, cố vấn các nhà lãnh đạo của
các tổ chức, thực hiện các kế hoạch hành động nhằm phục vụ lợi ích của tổ
chức đó lẫn công chúng”.5
Trong khi đó, cũng giống như các nhà hoạt động PR quốc tế, các nhà
“Một công ty PR chuyên nghiệp là một tổ chức chuyên nghiệp, thường
được thuê để lên ý tưởng, thực hiện và quản lý những thông điệp không cần
trả tiền đại diện cho khách hàng để gửi đến các nhóm công chúng thông qua
các phương tiện truyền thông, với mong muốn thay đổi hành vi của công
chúng dựa vào việc ảnh hưởng đến ý nghĩ của họ. Các phương tiện truyền
thông thường được sử dụng như: báo ngày, tạp chí, radio, tivi, internet hoặc
những phương tiện khác mà khách hàng không phải mất phí.”8
Cũng theo tổ chức này, thì công ty PR chuyên nghiệp có những đặc
điểm chính như sau:
Một công ty PR chuyên nghiệp thường độc lập với khách hàng và cung
cấp một góc nhìn của bên thứ ba về hoạt động kinh doanh , hàng hóa, sản
phẩm, dịch vụ của khách hàng. Khách hàng điển hình của các công ty PR
chuyên nghiệp bao gồm các doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, hợp doanh,
LLC) và các tập đoàn, tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan chính phủ.
Sự phát triển liên tục của các công ty PR chuyên nghiệp thể hiện rằng
các công ty này có thể cung cấp nhiều hơn các hoạt động quan hệ công chúng
truyền thống. Một công ty PR chuyên nghiệp có thể cung cấp một hệ thống
các dịch vụ hoàn thiện bao gồm phân tích các mối quan hệ chiến lược, quản
lý khủng hoàng, chiến lược kinh doanh điện tử, quan hệ nhà đầu tư, quan hệ
với nhân viên, quan hệ báo chí, vấn đề cộng đồng, quan hệ công chúng, giao
thông, xây dựng thương hiệu, vị trí sản phẩm, lập kể hoạch tổ chức sự kiện, tiếp
thị thể thao, hỗ trợ thương mại và một danh sách góp phần phát triển các thuộc
tính của việc tiếp thị và bán hàng hóa hay dịch vụ cho khách hàng của họ.
Phân biệt PR Agency và PR Inhouse
Theo như cơ quan chủ quản, PR có thể được chia thành PR Agency và
PR In house.9
8
hoạt động
vực khác nhau như: chính của công ty, tổ chức
trị, kinh tế, giải trí, văn hóa,
Mối
hệ
xã hội
quan - Có mối quan hệ rộng với - Có mối quan hệ gần gũi với tổ
rất nhiều các ban ngành, chức nên có thể hiểu rõ bản chất
đoàn thể, tổ chức
và các hoạt động của công ty, tổ
chức, từ đó hoạch định được
những chiến lược phù hợp cho sự
phát triển của công ty, tổ chức
Cơ cấu tổ - Có các bộ phận hoạt động -Các nhân viên được phân chia
chức
chuyên biệt về một công phụ trách các công việc khác
việc, dịch vụ PR cụ thể sẽ nhau của PR như: nhân viên đối
cung cấp như: Phòng event, nội, nhân viên đối ngoại, nhân
phòng
media,
phòng viên phụ trách truyền thông…
Dịch vụ của các công ty PR chuyên nghiệp
10
11
Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256
Philip Kotler, Quản trị Marketing, Nhà xuất bản : Lao động - Xã Hội Quý II/2009, trang 258
14
Như vậy, hiểu theo khái niệm trên, các công ty PR cũng đang cung cấp
các dịch vụ nhưng theo những đặc thù riêng của mình. Theo Johanna Fawkes
lập ra những hoạt động chính của PR như sau12:
STT Hoạt Động
Giải thích
Ví dụ công việc phải làm
1
Truyền thông với nhân viên
Bản tin nội bộ, hộp thư lấy
PR nội bộ
(Internal PR)
2
(Business to business)
khác, ví dụ bên phân phối, mại, bản tin
nhà bán lẻ
5
Nhiệm vụ công
Tiếp xúc với những nhóm Thuyết trình, hướng dẫn,
(Public Affairs)
người tạo ra dự luận xã hội, gặp gỡ riêng, diễn văn học
ví dụ những chính khách địa trước công chúng
phương, quản lý môi trường
chính trị
6
Quan hệ cộng đồng – Tiếp xúc với cộng đồng địa Triển lãm, thuyến trình, thư
trách nhiệm xã hội của phương, những đại diện tín, hội họp hoạt động thể
doanh
nghiệp được bầu ra, hiệu trưởng, thao, và các hình thức tài
(Community relations – v.v...
trợ khác
tiêu của tổ chức
9
Quản lý vấn đề
Kiểm soát môi trường chính Ví dụ: cân nhắc tác động
(Issues Management)
trị, xã hội, kinh tế và kỹ thuật của kinh tế Mỹ và chiến
dịch tranh cử tổng thống
đối với các tổ chức của
Anh
10
Quản lý khủng hoảng
Đưa ra những thông điệp rõ Ví dụ: đại diện cho cảnh
(Crisis Management)
ràng trong những tình huống sát, bệnh viện hoặc chính
thay đổi nhanh chóng và quyền địa phương để tiếp
khẩn cấp
xúc báo chí sau khi xảy ra
vụ đâm tàu hỏa
(Events triển lãm.
bố với báo chí, triển lãm
Management,
thương mại.
Exhibitions)
1.1.1.4 Khái niệm chất lượng dịch vụ PR
Chất lượng dịch vụ
Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa
và đo lường chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, phải đến đóng góp của
16
Parasuraman & ctg (1988, 1991) chúng ta mới có một định nghĩa chất lượng
dịch vụ nhận được sự đồng thuận lớn.
Định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong
đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch
vụ”13.
Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định
lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng
dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL được điều
chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cuối cùng thang đo
SERVQUAL bao gồm 22 biến để đo lường năm thành phần của chất lượng
dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp ứng (responsiveness), tính
đảm bảo(assurance), phương tiện hữu hình (tangibles) và sự đồng cảm
Phương tiện
hữu hình
đảm bảo
Tính đáp
ứng
ty PR. Trong nghành PR hiện
Chất
Chất lượng
lượng
dịch
dịch vụ
vụ của
của
các
các công
công ty
ty
PR
PR
đại, các công ty PR luôn được
đánh giá về chất là yếu tố quan
trọng hơn cả. Chất ở đây có thể
Độ tin cậy
Sự đồng cảm
các thương hiệu này? Nhiều phân tích, nghiên cứu đã chỉ ra rằng đó là nhờ có
PR. Trong cuốn sách “ Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi ”, tác giả Al Ries, một
chuyên gia thương hiệu hàng đầu thế giới đã viết: “ Một thương hiệu tung ra
mà không có hy vọng chiến thắng trên trận địa PR thì thất bại đã có thể nhìn
thấy ”. Điều này cho thấy tầm quan trọng mang tính chiến lược của hoạt động
PR trong xây dựng và phát triển thương hiệu nhưng vẫn chưa được các doanh
nghiệp, tổ chức tại Việt Nam nhìn nhận đúng mức. Một chiến lược PR sẽ thực
sự phát huy hiệu quả tốt nhất khi được phối hợp chặt chẽ với các chiến lược
kinh doanh, marketing của công ty và tổ chức.
Năm 2007 đã mở ra nhiều hướng đi cho lĩnh vực PR tại Việt Nam. Gia
nhập WTO, Việt Nam sẽ đẩy mạnh hoạt động PR hơn nữa trong sự cạnh tranh
quyết liệt của thị trường PR thế giới. Khi mọi điều kiện của doanh nghiệp đều
thua kém, vốn đầu tư ít, nhân lực thấp, thì việc tạo dựng hình ảnh của thương
hiệu càng quan trọng hơn và trở thành vấn đề sống còn. Vì thế, PR càng được
chú trọng và ưu tiên khai thác.
Theo nhận định của bà Từ Lê Tâm – Giảng viên Bộ môn Báo chí, Khoa
Ngữ văn và Báo chí – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: “Sau khi Việt Nam ra nhập WTO vào ngày
7 tháng 1 năm 2007, trong 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới, chỉ mới có
106 doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, số còn lại tất yếu sẽ vào Việt Nam
khi có cơ hội mở rộng. Những tập đoàn nước ngoài đều có những PR Agency
riêng trên toàn cầu. Khi những tập đoàn lớn này vào Việt Nam sẽ kéo theo các
PR Agency đang làm dịch vụ PR cho họ. Thị trường PR sẽ có sự chuyển biến
khi các tập đoàn PR nước ngoài vào Việt Nam”16
Thực tế là nhìn lại 5 năm vừa qua, đúng là thị trường ngành PR Việt
Nam đã có những thay đổi đột biến. Tuy nhiên, không như nhiều người đã dự
16
Quan hệ công chúng, Lý luận và thực tiễn - Học viện Báo chí tuyên truyền- Nhà xuất bản. Chính trị Quốc
gia, 2007, trang 230
Theo ông Lê Quốc Vinh - Tổng giám đốc tập đoàn Le Group - thông tin từ
PR cơ bản khác với quảng cáo ở một số điểm chính sau: “ Thông tin PR hoàn
17
Quan hệ công chúng, Lý luận và thực tiễn - Học viện Báo chí tuyên truyền- Nhà xuất bản. Chính trị Quốc
gia.2007, trang 209
20
toàn là những thông tin có thật và sẽ được chuyển tải đến công chúng đúng
nơi, đúng lúc. Họ hoàn toàn chủ động tiếp nhận những thông tin này. Vì thế
chúng thực sự hiệu quả.”18
PR Việt Nam đang ngày càng trở nên chuyên nghiệp. Phí PR được trả
theo giờ làm việc một cách chuyên nghiệp như tại thị trường PR nước ngoài.
Việc kê khai chi phí PR được tính chi tiết đến từng con số cụ thể nhất như
xăng dầu, đi lại, tiếp khách…Các công ty PR được thuê làm đơn vị tư vấn
chuyên nghiệp cho những khách hàng lớn trong và ngoài nước với mức phí
khoảng 2000 – 5000 đô la / tháng19. Các công ty PR không ngần ngại đầu tư
nâng cao cơ sở hạ tầng thường xuyên, đặc biệt là đối với lĩnh vực điện tử
( digital ) được xem là một trong những xu hướng mới của ngành PR trên thế
giới cũng như tại Việt Nam trong thời gian tới đây. Nếu như trước đây, các
doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ PR đi kèm tại các công ty quảng cáo, thì
bây giờ họ có xu hướng tìm đến những công ty PR chuyên nghiệp và sử dụng
riêng 2 loại hình dịch vụ này. Điều này thể hiện sự quan tâm, nhận thức rõ
ràng về tầm quan trọng cũng như tính chuyên nghiệp của ngành PR đang ngày
càng được khẳng định.
1.1.2.3 Vai trò cầu nối thông tin giữa các tổ chức với công chúng
PR là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự sôi động
của thị trường truyền thông Việt Nam trong thời gian vừa qua. Dấu ấn PR để
danh sách (chiếm 50% - 58%), bỏ xa công ty thứ nhì là Venus (32%- 40%),
Max (29%), Golden (35%) và Vietcom (25%). Tiếp theo mới đến các công ty
khác như AVC, AwarenessI.D, Starlit, LeMedia, Mio, T&A…
Mức độ nhận biết về các công ty PR, BTL chuyên nghiệp
Tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu với hơn 10 nhà nghiên cứu truyền
thông và cũng nhận được kết quả tương tự với 5 công ty PR được đánh giá
cao nhất đó là:
20
Theo thời báo Kinh Tế Việt Nam, số ra ngày 3 tháng 2 năm 2005
22
1. Galaxy
2. Venus Communication
3. Max Communication
4. T & A
5. Masso Group
1.1.2.4 Vai trò góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của các tổ chức
Một trong những định hướng quan trọng của các công ty PR chuyên
nghiệp dành cho các tổ chức trong quá trình xây dựng thương hiệu là tiến đến
sự phát triển bền vững, gây dựng một hình ảnh thiện cảm trong mắt công
chúng bằng những hành động thiết thực mang lại lợi ích cho xã hội. Đây là
một trong những mục tiêu hướng đến của nghề PR.
Các công ty PR chuyên nghiệp cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác
nhau. Trong đó hoạt động quan hệ cộng đồng chính là việc tạo dựng mối quan
hệ tốt đẹp với xã hội, thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tổ chức.
Có thể thấy quan hệ tốt với cộng đồng, với xã hội là một trong những nhiệm
07/09/2009” có nhấn mạnh sự kết hợp giữa PR và CSR trong khủng hoảng
của thương hiệu như sau: “Trong khi CSR được xác định là yếu tố quan trọng
trong chiến lược phát triển bền vững thì PR là công cụ hữu hiệu để doanh
nghiệp thể hiện cam kết CSR khi xảy ra khủng hoảng. Ngoài việc vừa phải
đảm bảo cho thương hiệu ít bị ảnh hưởng nhất, PR còn phải hành xử sao để
biểu hiện được tính trách nhiệm của thương hiệu như đã từng cam kết. Lúc
đó, yếu tố con người (tức quyền lợi người tiêu dùng) phải được đặt lên hàng
đầu, sau đó mới truy lùng đến nguyên nhân và kiểm tra mức độ thiệt hại. Cùng
với CSR, PR sẽ đóng vai trò là bệ đỡ cho thương hiệu trách nhiệm khi nó bị ảnh
hưởng bởi khủng hoảng. Một thương hiệu, nếu tự bản thân không thực hiện CSR
tốt thì dù làm PR hoành tráng như thế nào cũng không thể che giấu hay lấp đầy
những lỗ hổng vô trách nhiệm mà doanh nghiệp, tổ chức gây ra”.21
1.2 Những yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ của các công ty PR
chuyên nghiệp.
21
CSR, PR và thương hiệu – Nhịp cầu đầu tư – số ra ngày 07/09/2009
24
1.2.1 Các tiêu chí đánh giá dịch vụ có chất lượng của các công ty PR
chuyên nghiệp
Những nghiên cứu tổng quan tại các công ty PR chuyên nghiệp cho
thấy nhiều công ty đã đánh giá dịch vụ của mình dựa trên các tiêu chí biến tấu
của thang đo SERVQUAL:
Phương tiện hữu hình (tangiblity)
Tính đảm bảo (assurance)
Độ tin cậy (reliability)