1
SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀO THỰC TIỄN CÁCH MẠNG
VIỆT NAM HIỆN NAY
Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội
dung cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhờ thống nhất được tính cách
mạng và khoa học, lý luận mác xít về giai cấp và đấu tranh giai cấp đã vượt
qua các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước đây để trở thành kim chỉ nam
cho phong trào cách mạng của giai cấp vô sản. Lý luận đó đã có ảnh hưởng
sâu rộng trong phong trào cách mạng từ thế kỷ XIX đến nay, tạo ra những
biến động to lớn trong đời sống chính trị – xã hội trên toàn thế giới.
Ngày nay, trong điều kiện thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó
lường như sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu,
sự đổi mới của các nước phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển
đổi của các nước xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường song hành với
sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản trên thế giới, làm cho nhiều
người lầm tưởng rằng, lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp không còn phù
hợp nữa và tìm cách lảng tránh nó. Thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng,
nếu hiểu rõ thực chất của lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp sẽ tránh được
những sai lầm tả khuynh hoặc hữu khuynh, sẽ nhận thức đúng đắn được vai
trò thực sự của các giai cấp trong xã hội trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Ở Việt Nam, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, vấn đề giai cấp và đấu
tranh giai cấp trở thành một vấn đề nhạy cảm, gây rất nhiều tranh luận. Về
mặt lý luận, chúng ta đã có nhiều chuyển biến trong nhận thức, tư duy lý luận.
Tuy nhiên, trong sự chuyển đổi đó vẫn còn có những vấn đề cần phải tiếp tục
làm sâu sắc và rõ ràng hơn. Thực chất quan điểm mác xít về giai cấp và đấu
tranh giai cấp cũng cần được nhận thức, liên hệ, vận dụng một cách linh hoạt
hơn, đặc biệt là thực tiễn đổi mới của nước ta hiện nay đã khẳng định kết quả
của công cuộc đổi mới, đã chứng minh rằng: Lý luận giai cấp và đấu tranh
kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1) Sự
3
tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất
định của sản xuất. 2) Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn tới chuyên chính vô sản.
3) Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi
giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp”1.
Lý luận mác xít đã khắc phục được những quan điểm duy tâm về giai
cấp trước kia, đưa ra sự luận giải khoa học về những vấn đề cơ bản như nguồn
gốc giai cấp, tiêu chí để phân biệt giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Xuất phát từ những con người cá nhân hiện thực và đứng trên lập
trường duy vật về lịch sử, C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã tìm ra quy luật phát sinh
và phát triển của xã hội có giai cấp và quy luật đấu tranh giai cấp. Nếu các
nhà tư tưởng trước Mác cho rằng: nguồn gốc của xã hội có giai cấp, của chế
độ tư hữu là do tư tưởng tư hữu của con người, thì ngược lại C.Mác chỉ rõ,
chính những tiền đề vật chất do xã hội tạo ra đã làm nảy sinh ra tư tưởng tư
hữu. Bởi vì, như các nhà kinh điển mác xít đã khẳng định: Do sự phát triển
của sản xuất đã đưa đến sự phân công lao động trong xã hội và sự phân công
lao động xã hội lại thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng
xuất lao động, đó là nguồn gốc cơ bản để sinh ra chế độ tư hữu và sự phân
chia giai cấp trong xã hội. Thực tiễn lịch sử phát triển và tiến hoá của nhân
loại đã chỉ ra rằng, nguyên nhân vật chất, nguyên nhân kinh tế là nguyên nhân
cơ bản, sâu xa sản sinh ra giai cấp và xã hội có giai cấp. Sự tồn tại, phát triển
và diệt vong của giai cấp và xã hội có giai cấp là do nguyên nhân kinh tế – vật
chất quyết định – suy cho đến cùng. Như vậy, tư tưởng biện chứng duy vật về
giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin hoàn toàn đối lập
với quan điểm duy tâm, tôn giáo đã tồn tại rất lâu trong lịch sử. Tính cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về sự
ra đời, tồn tại và diệt vong của nó đã góp phần vào cuộc đấu tranh, khắc phục
Hai là, xã hội có giai cấp là một giai đoạn tất yếu của lịch sử phát triển
của nhân loại, nó chính là nhân tố để thúc đẩy sản xuất phát triển ngày càng cao.
Ba là, trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều có vị trí, vai trò nhất
định, trước hết là vai trò trong phát triển kinh tế, đây cũng chính là lý do tồn
tại của mỗi giai cấp và quy định địa vị chính trị – xã hội của nó.
Như vậy, sự nẩy sinh, tồn tại, phát triển của các giai cấp là một tất yếu
lịch sử, nó được nẩy sinh từ sự phát triển của lịch sử xã hội và vì sự phát triển
5
của xã hội. Tất nhiên vai trò của mỗi giai cấp đều có giới hạn lịch sử của nó,
khi giai cấp đã lỗi thời, cản trở sự phát triển của xã hội, thì tất yếu nó sẽ bị lịch
sử gạt bỏ thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Đó là cách nhìn
nhận vấn đề giai cấp một cách khách quan, khoa học không có sự thù hận giai
cấp.
1.2. Những tiêu chí cơ bản để phân biệt các giai cấp trong xã hội.
Để phân biệt giai cấp này với giai cấp khác trong xã hội phải có một hệ
thống tiêu chí khách quan, khoa học. Dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử
chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa những tiêu chí cơ bản về giai cấp, đây là cơ sở
khoa học để chúng ta xem xét và phân biệt các giai cấp trong xã hội.
Từ sự kế thừa tư tưởng của các nhà kinh tế – chính trị học tư sản trước
đó, C.Mác đã cho rằng, trong xã hội tư sản tồn tại “những người chỉ sở hữu
có sức lao động, những kẻ sở hữu tư bản và những kẻ sở hữu ruộng đất, mà
nguồn thu nhập tương ứng là tiền công, lợi nhuận và địa tô, tức là công nhân
làm thuê, nhà tư bản và địa chủ, đó là ba giai cấp lớn của xã hội hiện đại dựa
trên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa” 2. Theo đó, tiêu chí của giai cấp
trước hết phải gắn liền với những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử,
gắn liền với phương thức sản xuất. Không có tiêu chí chung cho mọi giai cấp
trong mọi thời đại lịch sử, các tiêu chí đó luôn vận động biến đổi không
ngừng theo thực tiễn của sản xuất và đời sống xã hội. Theo C.Mác và
thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là
những tập đoàn người, mà tập đoàn người này thì có thể chiếm đoạt lao động
của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ
kinh tế xã hội nhất định”3. Như vậy, theo V.I.Lênin, để đánh giá đúng đắn,
khách quan về một giai cấp cần phải dựa trên những tiêu chí khoa học.
Thứ nhất, giai cấp trước hết phải là tập đoàn người to lớn, đông đảo
trong xã hội, gắn liền với một hệ thống sản xuất nhất định. Điều đó cho thấy
với một vài cá nhân đơn lẻ không thể là giai cấp, mặc dù họ có thể nắm giữ
những vị trí, vai trò quan trọng có ảnh hưởng to lớn trong đời sống tinh thần
xã hội. Cũng không phải mọi tập đoàn đông đảo, to lớn trong xã hội sẽ là giai
cấp, giai cấp không phải là sự cộng lại đơn thuần, là tổng số của các cá nhân,
mà đó phải là sự gắn bó, hợp lại với nhau trên cơ sở có chung một địa vị trong
3
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1979, tập 39, tr 17 – 18.
7
hệ thống sản xuất nhất định của xã hội. Mặt khác, không phải mọi hệ thống
sản xuất đều sinh ra giai cấp, mà chỉ hệ thống sản xuất nào tạo ra tiền đề để
những tập đoàn này có quan hệ và địa vị khác nhau trong quá trình sản xuất
mới tạo ra giai cấp khác nhau, chỉ có những xã hội dựa trên những quan hệ
sản xuất nhất định nào đó mới tạo ra giai cấp.
Thứ hai, sự khác nhau giữa các giai cấp được thể hiện trên những
phương diện cơ bản sau:
- Quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất (thường thì được pháp luật
quy định và thừa nhận). Vai trò đó được thể hiện ở các quyền cơ bản: quyền
sở hữu, quyền chiếm hữu… Nền kinh tế càng phát triển thì các quyền này
càng được mở rộng, biến đổi và hình thành các quyền mới, đáp ứng sự phát
triển của thực tiễn sản xuất.
những tiêu chí về kinh tế và vật chất. Nhưng chúng ta cũng cần thấy rằng, sự
khác biệt về vật chất giữa các giai cấp sẽ dẫn tới sự khác biệt về chính trị, tinh
thần. Thừa nhận sự khác biệt giữa các giai cấp về kinh tế thì không thể không
thừa nhận sự khác biệt về chính trị, tinh thần, bởi trong xã hội có giai cấp, giai
cấp nào thống trị về lực lượng vật chất thì sẽ thống trị về mặt tinh thần, chính
trị trong xã hội. Nói cách khác, tư tưởng thống trị đó chính là biểu hiện tinh
thần của những quan hệ vật chất dưới hình thức tư tưởng. Với cách xem xét
trên sẽ làm cho lý luận giai cấp có tính khoa học và có tính thực tiễn cao.
Định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin còn thể hiện thực chất của quan hệ
giai cấp là quan hệ giữa bóc lột và bị bóc lột, là sự chiếm đoạt sức lao động
của giai cấp thống trị, nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất đối với những người
có ít hoặc không có tư liệu sản xuất.
Ở Việt Nam hiện nay, có ý kiến cho rằng, cần phải thay đổi quan niệm
về bóc lột và phải coi lợi nhuận là một sự phân phối tất yếu trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường. Theo họ, nếu
không có sự thay đổi quan niệm về bóc lột sẽ gây ra tâm lý nặng nề trong xã
hội, không tạo ra được sự cổ vũ, khích lệ các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh phát triển tiềm năng của mình.
9
Chúng ta cần thấy rằng: Nếu thừa nhận lịch sử xã hội có giai cấp là lịch
sử các cuộc đấu tranh giai cấp và là một trong những động lực thúc đẩy xã hội
có giai cấp phát triển, thì phải thừa nhận một trong những nguyên nhân cơ
bản của đấu tranh giai cấp là mâu thuẫn giữa bóc lột và bị bóc lột. Nếu phủ
nhận thực chất quan hệ giai cấp là quan hệ bóc lột và bị bóc lột thì sẽ phủ
nhận vấn đề cần phải xoá bỏ giai cấp, xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất, phủ nhận lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa
Mác. Thực tiễn lịch sử và thực tiễn trong thế giới hiện đại đã chứng minh
rằng, hiện nay con người vẫn chưa thể xoá bỏ được áp bức, bóc lột, quan hệ
sáng con đường cách mạng tiến tới giải phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại và
con người.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, trong xã hội có giai cấp, đấu
tranh giai cấp là tất yếu khách quan, lịch sử loài người cũng đã chứng minh
rằng: lịch sử tất cả các xã hội có giai cấp tồn tại từ trước tới nay chỉ là lịch sử
đấu tranh giai cấp giữa những “Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình
dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại, những
kẻ áp bức và người bị áp bức luôn đối kháng với nhau đã tiến hành một cuộc
đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh
bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc cải tạo toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự
diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau”4.
Nguyên nhân của đấu tranh giai cấp là do mâu thuẫn giai cấp, song theo
V.I.Lênin, nguyên nhân trước hết là do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế.
V.I.Lênin cho rằng: đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân
này chống lại một bộ phận khác, là “Cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước
hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp
bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay
những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”5. Như
vậy, thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giữa những giai
cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hoà được.
4
5
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 4, tr 596 – 597.
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1979, tập 7, tr 237 – 238.
11
Theo quan điểm mác xít, lợi ích giai cấp là những giá trị khách quan nhằm
thoả mãn nhu cầu nhất định của một giai cấp, đảm bảo cho giai cấp đó tồn tại và
mới ra đời. Nói cách khác, thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là
cách mạng xã hội sẽ dẫn tới sự ra đời của một hình thái kinh tế – xã hội mới,
cao hơn. Toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người đã chứng
minh cho tính khoa học đúng đắn của chủ nghĩa Mác về vai trò của đấu tranh
giai cấp trong lịch sử phát triển của nhân loại.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát
triển của xã hội, nhưng đó không phải là động lực duy nhất, mà đó chỉ là động
lực cơ bản, ngoài ra trong xã hội còn có rất nhiều động lực khác. Bởi vì, trong
đời sống xã hội, con người có vô vàn các hoạt động khác nhau với những nhu
cầu, mục đích, động cơ khác nhau, trong đó những nhu cầu sống, nhu cầu về
vật chất, tinh thần, nhu cầu chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ… cũng là những động
lực quan trọng, trực tiếp thúc đẩy con người hoạt động và tạo ra sự phát triển của
xã hội. Mặt khác, trong xã hội có giai cấp do trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất còn hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ mọi nhu cầu vật chất của con
người, chính vì vậy, đấu tranh để đòi lợi ích kinh tế, đảm bảo điều kiện sống cho
con người trở thành những cuộc đấu tranh có quy mô lớn, quyết liệt nhất để dẫn
tới những sự chuyển biến lớn lao trong xã hội. Như vậy, đấu tranh giai cấp theo
quan điểm mác xít, vấn đề cơ bản của nó không phải là vấn đề chính trị thuần
tuý, đạo đức thuần tuý, mà thực chất và cơ bản là vấn đề kinh tế.
Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp và đấu tranh
giai cấp không chỉ cho ta thấy nguồn gốc của cách mạng, của sự phát triển xã
hội, mà nó còn là cơ sở lý luận quan trọng cho cuộc đấu tranh giai cấp của
giai cấp vô sản trong thời đại hiện nay.
1.4. Đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản.
- Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mang tính triệt để.
Nguyên nhân sâu xa của mọi cuộc đấu tranh giai cấp là do mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Theo đó, nguyên nhân sâu xa
của việc giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản là mâu thuẫn giữa tính chất xã
14
đề liên minh giai cấp với giai cấp nông dân. Nếu như trước đó, sự liên minh
giữa các giai cấp tiến hành cách mạng với giai cấp nông dân chỉ mang tính
chất tạm thời, thì nay trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản liên minh
giữa công nhân với nông dân là sự liên minh chiến lược và rộng lớn. Sự liên
minh ấy được xuất phát trước hết từ bản chất, mục tiêu của cuộc cách mạng
mà giai cấp công nhân thực hiện.
Theo quan điểm mác xít, tất cả những phong trào cách mạng trước đó
trong lịch sử đều là do thiểu số thực hiện và mưu cầu lợi ích cho thiểu số, còn
phong trào cách mạng vô sản là phong trào của đa số, mưu cầu lợi ích cho đa
số. Sự liên minh của giai cấp vô sản với nông dân và các tầng lớp lao động bị
áp bức xuất phát từ sự thống nhất về lợi ích cơ bản và lâu dài giữa giai cấp vô
sản với các giai cấp, tầng lớp bị áp bức trong xã hội. Trong tác phẩm “Đấu
tranh giai cấp ở Pháp”, C.Mác đã chỉ ra rằng, chừng nào mà tình trạng của
các tầng lớp trung đẳng trong xã hội tư sản, tức là tầng lớp tiểu tư sản và nông
dân còn nặng nề và sự đối lập của họ với giai cấp tư sản càng trở nên gay gắt,
họ sẽ càng phải liên minh với giai cấp vô sản và “Họ tất nhiên phải thừa
nhận rằng, nguyên nhân của sự nghèo khổ của họ là do sự thất bại của giai
cấp vô sản”6. Trong đó, giai cấp nông dân là đối tượng cơ bản đầu tiên mà
giai cấp vô sản cần liên kết, bởi vì, ở đâu giai cấp nông dân cũng bị bóc lột
tàn nhẫn, bị xem như là một đồ vật, thậm chí là một “súc vật thồ” hoặc còn tệ
hại hơn thế nữa. Trong xã hội tư bản, giai cấp nông dân và giai cấp vô sản
“kẻ bóc lột vẫn là một: đó là tư bản” 7. Việc cùng có chung một kẻ thù là giai
cấp tư sản khiến cho liên minh công – nông càng bền chặt và được khẳng
định như là một nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại của phong trào công
nhân. Từ thực tế của cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp (1848 – 1850) và Công
xã Pa-ri 1871, C.Mác đã chỉ rõ, nếu giai cấp vô sản không hát được “bài
đồng ca” với giai cấp nông dân thì “bài đơn ca” của họ sẽ trở thành một “bài
nông chỉ thực sự vững chắc khi nào mối quan hệ giữa công nghiệp và nông
nghiệp trở nên cân đối hài hoà và công nghiệp có thể đáp ứng được những
nhu cầu thiết yếu của đời sống nông dân và sự phát triển kinh tế của nông
dân.
Như vậy, liên minh công – nông dựa trên lợi ích căn bản và lâu dài của
họ, nó được thể hiện trong thời kỳ giành chính quyền và giữ chính quyền, từ
liên minh chính trị chuyển sang liên minh kinh tế trong suốt cả thời kỳ quá
8
9
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1976, tập 44, tr 57.
V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb TB, M, 1976, tập 44, tr 8.
16
độ. Đó là một đặc điểm của liên minh giai cấp trong cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.
- Sự thống nhất giữa giai cấp và dân tộc trong cuộc đấu tranh giai cấp
của giai cấp vô sản .
Khác với những giai đoạn lịch sử trước kia, ngay từ khi mới ra đời giai
cấp tư sản đã có vai trò to lớn trong sự hình thành nên nhiều dân tộc trên thế
giới, đặc biệt là ở châu Âu. Cùng với sự ra đời của giai cấp tư sản, phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sản
xuất, tài sản và dân cư, chính từ sự tập trung về kinh tế đã dẫn tới sự tập trung
về chính trị. Nhờ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã
khiến “Những địa phương độc lập liên hệ với nhau gần như chỉ bởi những
quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác
nhau thì đã tập hợp thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống
nhất, một pháp luật thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất, có tính giai
cấp và một thuế quan thống nhất”10. Vì vậy, mối quan hệ giữa giai cấp và dân
hệ giữa giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc. Khi giai cấp bóc lột cầm
quyền, giữ vai trò lãnh đạo dân tộc, do theo đuổi những mục đích giai cấp cục
bộ của mình, bao giờ cũng tìm cách mở rộng lãnh thổ, mở rộng thị trường, thi
hành chính sách đối nội, mở rộng áp bức, bóc lột với các dân tộc khác trên thế
giới nhằm thoả mãn khát vọng về lợi nhuận kinh tế và địa vị chính trị. Từ đó
có thể khẳng định rằng, nguồn gốc của áp bức dân tộc là từ áp bức giai cấp,
do đó muốn xoá bỏ áp bức dân tộc phải xoá bỏ áp bức giai cấp, C.Mác đã
viết: “Hãy xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ”13. Như vậy, cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản là tiền đề của cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại, nhưng ngay từ
đầu nó phải diễn ra trên địa bàn dân tộc.
Quan điểm mác xít về quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách
mạng vô sản được V.I.Lênin tiếp tục phát triển trong thời đại mới, khi mà chủ
nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, và phong trào giải phóng
dân tộc đã phát triển mạnh mẽ. V.I.Lênin khẳng định: kẻ thù chung của giai
cấp vô sản ở các nước tư bản và thuộc địa lúc này là đó chính là giai cấp tư
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 4, tr 615.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 4, tr 615.
13
C.Mác và Ph.Ăng-ghen. Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 4, tr 625.
11
12
18
bản, nhà nước đế quốc, do đó, giai cấp vô sản phải liên kết với các nước thuộc
địa, cho dù ở các nước thuộc địa đó giai cấp nào lãnh, và V.I.Lênin đã chuyển
khẩu hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại” của C.Mác thành khẩu hiệu “Vô
sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Đó là một bước
phát triển mới về lý luận đấu tranh giai cấp của V.I.Lênin trong điều kiện
và phát triển trong điều kiện lịch sử mới, khi mà giai cấp vô sản đã giành
được chính quyền. Những tư tưởng của V.I.Lênin đã giúp chúng ta thấy được
mục đích, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện
mới, đồng thời, nó cũng chỉ rõ rằng, giai cấp vô sản cần phải vận dụng một
cách linh hoạt, sáng tạo các quan điểm mác xít để nhận thức và giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể của cuộc đấu tranh giai cấp. Đó là giá trị lớn lao của
học thuyết mác xít về đấu tranh giai cấp.
2. Sự vận dụng lý luận mác xít về giai cấp và đấu tranh giai cấp ở
Việt Nam
2.1. Hoàn cảnh đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong lịch
sử.
Lịch sử xã hội loài người nhìn chung đã tuần tự trải qua các giai đoạn
phát triển từ cộng sản nguyên thuỷ tới xã hội – xã hội chủ nghĩa, thì ở Việt
Nam, trên thực tế nó mới chỉ trải qua những giai đoạn phát triển: cộng sản
nguyên thuỷ, phương thức sản xuất châu Á và xã hội phong kiến. Như vậy, ở
Việt Nam đã không tồn tại một xã hội có hình thức phân hoá giai cấp sâu sắc
nhất đó là xã hội chiếm hữu nô lệ, điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ
giai cấp trong các xã hội ở Việt Nam, đó là sự hoà giải, hoà hợp giai cấp
mạnh hơn sự phân biệt, kỳ thị giai cấp.
Nghiên cứu lịch sử xã hội có giai cấp ở Việt Nam chúng ta thấy rằng: xã
hội phong kiến là một xã hội có hình hài phát triển đầy đủ nhất, ở đó sự phân
hoá giai cấp và đấu tranh giai cấp diễn ra một cách rõ nét hơn cả so với những
xã hội trước đó. Nhưng, nhìn một cách tổng quát có thể thấy trong xã hội
phong kiến Việt Nam, cấu trúc giai cấp - xã hội cũng có những nét đặc thù.
Nét đặc thù nổi bật trong cấu trúc giai cấp – xã hội ở Việt Nam đó là
tính chồng chéo, đan xen của nhiều giai tầng, của các hình thái xã hội khác
20
nhau trong một xã hội cụ thể. Nguyên nhân của đặc điểm trên là do sự biến
người mất thế lực kinh tế thì cũng mất luôn cả địa vị chính trị – xã hội, trở
thành người của giai tầng dưới của xã hội.
Sự thay đổi, chuyển hoá từ giai cấp, đẳng cấp này sang giai cấp, đẳng
cấp khác còn phụ thuộc vào cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước và các
quan hệ xã hội trong đời sống hiện thực. Trong xã hội phong kiến ở Việt Nam
việc tuyển chọn quan chức trong bộ máy nhà nước thông qua chế độ thi tuyển
với nguyên tắc “quyền đi liền với lợi”. Do đó, một số người nghèo, nho sinh
thông qua việc “dùi mài kinh sử” và thi cử đỗ đạt họ sẽ được bổ nhiệm làm
quan, và khi có chức vụ, quyền hạn thì những vị quan đó bên cạnh bổng lộc
do vua ban, họ có thể kiếm được lợi lộc do địa vị xã hội đem lại, do đó, họ có
thể thay đổi địa vị giai cấp nhanh chóng, từ người nghèo, đẳng cấp thấp họ
lên giai cấp, đẳng cấp cao hơn trong xã hội.
Như vậy, quan hệ giai cấp, sự quy định địa vị giai cấp của con người
trong xã hội phong kiến Việt Nam là hết sức lỏng lẻo, dễ dàng biến đổi, thay
đổi theo điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội của con người.
Từ sự lỏng lẻo trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp ở địa vị kinh tế, chính
trị đã quyết định tới sự lỏng lẻo về tư tưởng, quan điểm lập trường của con
người trong xã hội. Cùng với sự chuyển hoá về địa vị kinh tế – chính trị xã
hội, con người cũng phải có sự thay đổi về lập trường quan điểm, tư tưởng, lối
sống… sự lỏng lẻo về tư tưởng, quan điểm đã tạo nên sự đấu tranh, giằng co
giữa cái cũ và cái mới, giữa tiến bộ và lạc hậu trong nhân sinh quan, thế giới
quan của con người. Trong đó, sự khẳng định cho cái mới, cái tiến bộ thường
không vững chắc, dễ bị thay đổi, nhất là khi gặp khó khăn, hoặc là khi đã đạt
được mục tiêu trước mắt. Đây chính là cơ sở để lý giải sự nhanh chóng thịnh
vượng và suy tàn của các triều đại phong kiến ở Việt Nam.
Tính chất lỏng lẻo, không rành mạch trong quan hệ giai cấp còn được
thể hiện ở chỗ, một số người cùng đẳng cấp nhưng không cùng giai cấp,
ngược lại, nhiều người trong cùng một giai cấp nhưng lại không cùng đẳng
cấp. Tính chất lỏng lẻo, không rành mạch trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp
Nam đã nhanh chóng trưởng thành về chính trị, chuyển từ đấu tranh tự phát
23
sang đấu tranh tự giác, sự trưởng thành ấy được đánh dấu bằng sự ra đời của
Đảng Cộng Sản Việt Nam vào đầu những năm 1930.
Cùng với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, giai cấp tư sản Việt
Nam đại biểu cho xã hội mới (xã hội tư bản) ở Việt Nam lại hết sức yếu ớt, cả
về mặt số lượng và chất lượng. Mặt khác, giai cấp tư sản Việt Nam lại bị phân
hoá thành hai bộ phận là tư sản mại bản và tư sản dân tộc, với những lợi ích
kinh tế và khuynh hướng chính trị khác nhau. Tư sản mại bản có lợi ích và
khuynh hướng chính trị gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa thực dân, còn tư sản
dân tộc thì có tinh thần dân tộc nhưng lại bị chèn ép về kinh tế, nên không
phát triển được, do đó, họ bất lực về chính trị, không đủ khả năng lãnh đạo, đi
đầu trong phong trào cách mạng Việt Nam, sự thất bại của các phong trào
cách mạng có khuynh hướng tư sản, tiểu tư sản đã minh chứng cho điều đó.
Sự thất bại của những phong trào yêu nước mang khuynh hướng tư sản
đã không chỉ thể hiện sự bất lực của giai cấp tư sản Việt Nam, mà nó còn thể
hiện sự phát triển không bình thường của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam ngay
từ khi mới ra đời. Điều đó đã chứng tỏ sự phát triển chưa đầy đủ trên mọi
phương diện, tiêu chí của các giai cấp ở Việt Nam. Thực tế này đã làm cho
cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có hai đặc điểm nổi bật: Một là, các cuộc
đấu tranh giai cấp luôn gắn liền với cuộc đấu tranh dân tộc; Hai là, trong mối
quan hệ giai cấp và dân tộc thì vấn đề dân tộc thường giữ vai trò nổi trội hơn.
Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng to lớn tới việc vận dụng lý luận Mác –
Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp vào điều kiện cụ thể của cách mạng
Việt Nam.
Một trong những nội dung cơ bản đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin
được Hồ Chí Minh truyền bá một cách sáng tạo vào Việt Nam là lý luận về giai
cấp và đấu tranh giai cấp. Trên cơ sở hiểu sâu sắc đúng đắn về lịch sử dân tộc,
lên hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng phải giải quyết đó là: mâu thuẫn giữa
dân tộc Việt Nam với thực dân đế quốc và mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân
với giai cấp địa chủ phong kiến, vậy nên cách mạng Việt Nam phải kết hợp
chặt chẽ giữa đấu tranh giai cấp với đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác,
14
Văn kiện Đảng 1930 – 1945. Quyển 3, Nxb ST, HN, 1977, tr105.
25
con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam duy nhất đúng đắn là con đường
cách mạng vô sản, điều đó hoàn toàn là tất yếu khách quan, nó phù hợp với xu
thế phát triển của lịch sử và phù hợp với nguyện vọng của toàn thể dân tộc
Việt Nam. Hồ Chí Minh đã viết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” 15. Từ những
phân tích trên, trong “Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng Sản Việt Nam” đã
khẳng định: nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”16.
Tư tưởng về sự thống nhất giữa đấu tranh giai cấp với đấu tranh giải
phóng dân tộc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là tư tưởng
xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam, là đường lối chiến lược chỉ
đạo cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam làm cho cuộc đấu tranh đó đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Xuất phát từ tư tưởng nhất quán đó, Hồ Chí Minh đã xác định lực
lượng cơ bản của cách mạng Việt Nam là giai cấp công – nông, trong đó giai
cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo vì, “Trong thời đại ngày nay, giai cấp
công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng bằng cách liên minh với giai
cấp nông dân”17. Trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo lý luận giai