Rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 trường tiểu học đồng xuân, thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 40

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO
HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐỒNG XUÂN, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI - 2016
1


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận này tôi đã gặp rất nhiều khó khăn,
Nhưng dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Vũ Thị Tuyết, tôi đã hoàn
thành khóa luận với đề tài: “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5
trường Tiểu học Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”. Tôi xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô. Đồng thời tôi cũng xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học –


T

: Tập

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

Tr

: Trang

3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận ..................................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7

CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CÁC VĂN
BẢN NGHỆ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐỒNG XUÂN, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC .......................... 41
2.1. Luyện đọc thành tiếng ........................................................................... 41
2.1.1. Luyện chính âm .............................................................................. 41
2.1.1.1. Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp luyện tập theo mẫu ............. 41
2.1.1.2. Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp phân tích cấu âm ................. 42
2.1.1.3. Chữa lỗi phát âm bằng âm trung gian ...................................... 43
2.1.1.4. Phương pháp luyện theo mẫu kết hợp với phân tích cấu âm ... 44
2.1.2. Luyện cách ngắt, nghỉ hơi đúng...................................................... 46
2.1.3. Xác định giọng điệu tác phẩm ........................................................ 53
2.1.4. Luyện đọc đúng ngữ điệu ............................................................... 54
2.1.5. Thể hiện nét mặt và điệu bộ đúng với nhân vật trữ tình ................. 61
2.2. Thể hiện mối quan hệ giao tiếp với người nghe ................................... 62
2.3. Rèn kĩ năng đọc diễn cảm theo đặc trưng thể loại ................................ 64
2.3.1. Đọc diễn cảm các văn bản thơ ........................................................ 65
2.3.1.1. Đọc rõ tiếng, rõ lời và đúng chính âm ...................................... 65
2.3.1.2. Ngắt giọng biểu cảm ................................................................. 66
2.3.1.3. Ngữ điệu phù hợp ..................................................................... 67
2.3.2. Đọc các tác phẩm tự sự (truyện ngắn) ............................................ 68
2.3.3. Đọc diễn cảm các văn bản kịch ...................................................... 70

5


2.4. Tạo ra kích thích để học sinh đọc diễn cảm.......................................... 73
2.5. Sử dụng đồ dùng dạy học...................................................................... 75
2.6. Đọc diễn cảm trong các hoạt động khác .............................................. 75
2.7. Tổ chức luyện đọc diễn cảm ................................................................. 77
2.8. Một số bài tập luyện kĩ năng tập đọc cho học sinh tiểu học ................. 78

ngữ điệu sẽ bộc lộ được cảm xúc của các em đối với bài học.
Đối với học sinh lớp 5, khi học phân môn Tập đọc, các em được làm
quen và tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau như: Văn bản nghệ thuật,
báo chí, khoa học... Trong văn bản nghệ thuật có cả trích đoạn, kịch, thơ, văn
xuôi... với số lượng chữ khá nhiều và yêu cầu cao hơn về tốc độ đọc tối thiểu

1


khoảng 120 tiếng/phút. Vậy làm thế nào để học sinh đọc đúng, đọc hay theo
yêu cầu của phân môn?
Theo chương trình Sách giáo khoa mới, bước luyện đọc đúng, đọc hay
cho học sinh đã được chú trọng hơn, tới hơn 1/2 thời lượng của tiết học dành
cho việc luyện đọc cho học sinh. Trong đó chủ yếu là công việc của các em
như: đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc nối tiếp, đọc cá nhân, đọc theo nhóm...
Vậy người giáo viên phải làm gì, hướng dẫn học sinh như thế nào, sử
dụng vốn thời gian đó ra sao để đạt được kết quả tốt nhất khi dạy đọc cho các
em? Và giáo viên phải vận dụng phương pháp dạy học như thế nào để giúp
các em đạt được những yêu cầu cơ bản trên?
Để tìm lời giải đáp cho những thắc mắc này, chúng tôi quyết định chọn
vấn đề “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học
Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu nhằm
tìm ra những biện pháp giúp học sinh đọc đúng, đọc hay, nâng cao chất lượng
tiết Tập đọc lớp 5.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm 60, 70 của thế kỉ XX có rất nhiều giáo trình nói về đọc
diễn cảm. Các tác giả của các công trình nghiên cứu chia làm hai hướng. Một
hướng theo khuynh hướng ngữ văn, cho rằng nhiệm vụ chính của đọc diễn
cảm là nâng cao trình độ ngôn ngữ văn hóa của học sinh và làm cho các giờ
học tiếng mẹ đẻ trở nên sinh động. Còn hướng thứ hai đi theo khuynh hướng

Trên tạp chí Văn học tuổi trẻ số 9/(2006) NXB GD, có đoạn viết:
"Muốn đọc diễn cảm một văn bản phải lựa chọn được giọng điệu, ngữ điệu
phù hợp với tình huống miêu tả, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của
nhân vật hay tình cảm, thái độ của tác giả với nhân vật và nội dung miêu tả."
Việc nghiên cứu phương pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học
sinh ở bậc Tiểu học không còn là vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập khá

3


nhiều trên các bài báo, tạp chí, trong các công trình khoa học và các cuốn sách
như: Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học – Nguyễn Trọng Hoàn,
Nguyễn Thị Thu Hương; Dạy học Tập đọc ở Tiểu học – Lê Phương Nga; Tìm
vẻ đẹp ở bài văn ở Tiểu học – Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn; trên tạp chí:
Dạy và học ngày nay (số 7/2008); Dạy học Tập đọc ở lớp 4 và việc hướng dẫn
học sinh đọc đúng chỗ ngắt giọng; hay Báo văn học và tuổi trẻ (số 9/ (123) –
2006); các cuốn Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt – Nguyễn Minh Thuyết; các
chuyên đề Rèn kĩ năng đọc diễn cảm của các giáo viên Tiểu học; các cuốn
khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh tiểu
học” – Phạm văn Cường: T.S Lê Lan Anh (hướng dẫn khoa học), “Rèn kĩ
năng đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật cho học sinh tiểu học” – Nguyễn
Thị Lý: Đỗ Huy Quang (hướng dẫn khoa học),...
Mỗi ý kiến, quan niệm, công trình nghiên cứu đều đề cập sâu sắc đến
một khía cạnh nhất định, tuy nhiên không có phương pháp nào là khuôn mẫu
và tuyệt đối cho mọi đối tượng học sinh.
3. Mục đích nghiên cứu
 Tìm hiểu sâu hơn về các biện pháp rèn đọc đúng, đọc hay cho
học sinh lớp 5 theo phương pháp dạy học mới.
 Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đọc
đúng, đọc hay cho học sinh lớp 5 theo phương pháp dạy học mới.




Phương pháp thống kê



Phương pháp hệ thống

 Phương pháp thực nghiệm

7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của hoạt động đọc diễn cảm
trong giờ Tập đọc ở trường Tiểu học

5


Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5
trường Tiểu học Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOẠT
ĐỘNG ĐỌC DIỄN CẢM TRONG GIỜ TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG

nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).” Đây là một định nghĩa rất phù
hợp với dạy Tập đọc ở Tiểu học.
Sau khi xem xét các định nghĩa, quan niệm khác nhau về đọc, chúng tôi
nhận thấy định nghĩa thường nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của đọc.
Đọc không chỉ là “đánh vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ
viết, cũng không chỉ là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những
gì được đọc. Đọc chính là sự tổng hợp của hai quá trình đó. Như vậy hoạt
động đọc phải xem xét đồng thời hai mặt ngôn ngữ và tư duy. Định nghĩa của
viện sĩ M.R.Lơvôp đã xem xét việc đọc ở cả hai khía cạnh đó. Do vậy, chúng
tôi đã chọn và sử dụng định nghĩa này để làm cơ sở thực hiện đề tài.
Như vậy, đọc chính là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình
thức âm thanh để người đọc, người nghe hiểu được những điều mà tác giả nói
qua chữ viết.
1.1.1.2. Ý nghĩa của việc đọc
Đọc là một hoạt động của con người. Đọc không phải chỉ là hành động
nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan sinh
động giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con
người. Vì thế xuất hiện kinh nghiệm đọc và sự biến đổi cách thức và chất
lượng đọc. Đọc còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt động tinh
thần của độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hóa của từng người.
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư
tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần
lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không
thể tiếp thụ nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình

8


thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết
đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây, người ta biết

Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học có
nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc
lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình
đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kĩ năng này được hình
thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn
luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng
này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền
đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại,
nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm
được. Nhiều khi khó nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào,
nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng. Vì
vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào.
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành
phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học
sinh. Làm cho sách được tôn kính trong trường học, đó là một trong những
điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác,
thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả
năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một
trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ
và phát triển.
Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên
cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc
còn có nhiệm vụ:

10



sống tinh thần của tác phẩm, tạo ra mối quan hệ xúc động riêng giữa người
đọc và tác phẩm”.
Từ những đặc điểm trên, đọc diễn cảm đã đảm bảo tính chân thực và
màu sắc của cá nhân trong cảm thụ thể hiện được cái hồn của bài văn. Đọc
diễn cảm đã tận dụng các hình thức biểu hiện của người đọc, thống nhất được
nội tâm và sự thể hiện, từ đó chinh phục được người nghe.
Vì vậy có thể hiểu ngắn gọn đọc diễn cảm như sau:
Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc có kèm theo cử chỉ, điệu bộ,nét
mặt để truyền đạt những ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong
tác phẩm và cả những ý nghĩ, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của người đọc đến
với người nghe.
1.1.2.2. Bản chất của đọc diễn cảm
Việc đọc nói chung và đọc diễn cảm là biến hình thức chữ viết của văn
bản thành hình thức âm thanh của tiếng nói, là làm cho người nghe hiểu được
ý của người viết. Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra định nghĩa sau đây về đọc
diễn cảm.
Đọc diễn cảm cũng là một nghệ thuật có đặc điểm riêng, nó không lặp
lại người khác, không chỉ truyền đạt trung thành, máy móc bài văn mà còn ghi
đậm dấu ấn cá nhân. Đọc như thế sẽ gây được chấn động tâm hồn trên cơ sở
những mĩ cảm ngôn ngữ văn học và khả năng biểu diễn. Lối đọc này sẽ có sức
hấp dẫn, lôi cuốn người nghe và làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của tác
phẩm văn chương. Rõ ràng đọc diễn cảm mang đầy đủ tính nghệ thuật của nó.
Đọc diễn cảm là hình thức đặc biệt của đọc văn chương. Đặc biệt nó
vượt qua việc đọc những tín hiệu ngôn ngữ, từ kí hiệu chữ viết sang kí hiệu
âm thanh tạo ra năng lực đọc văn.

12


Đọc diễn cảm là hình thức riêng của việc đọc văn có sự tham gia bổ

trình chuyển biển “hóa sinh” từ nội dung hiện thực đến hình thức nghệ thuật,
từ cuộc sống thực đến sự sáng tạo ra một đời sống ảo để người đọc thể
nghiệm những giá trị nhân sinh.
Vì thế ngay từ cấu trúc cụ thể trong ngôn ngữ tư tưởng và định hướng tư
tưởng sáng tạo đã có mặt, góp phần quyết định giá trị đích thực của tác phẩm
nghệ thuật.
Sự lĩnh hội tác phẩm văn chương thông qua hoạt động đọc bao giờ cũng
xen lẫn vào đó thiên hướng chủ quan, không thể loại trừ “cái tôi” của người
đọc ra ngoài quá trình tiếp nhận. Cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm văn chương là
cấu trúc mở, “là” kết cấu vẫy gọi, sự tham gia sáng tạo của mọi người. Vì vậy
văn chương là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, là một quá trình phát hiện và
khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại.
1.1.3. Cơ sở sinh lí học và tâm lí học của đọc diễn cảm
Muốn giải quyết vấn đề cần phải dạy đọc diễn cảm, nhất thiết phải chú ý
đến vấn đề tâm lí học và sinh lí học.
Thực tế trong các giờ dạy đọc hiện nay cho thấy chỉ có thể dạy đọc một
cách diễn cảm cho một số học sinh có năng khiếu mà thôi. Nhà trường hiện
nay là nhà trường chung cho tất cả con em chúng ta và chưa có một văn bản
nào đưa ra vấn đề chia học sinh ra làm hai loại: loại có năng khiếu và loại
không có năng khiếu. Nhưng thực tế trong giờ thực hành lại có sự phân chia
đó. Thường thường một lớp học chỉ một số em biết đọc diễn cảm, còn đa số
các em khác thì không biết đọc diễn cảm và thầy cô giáo cũng chỉ chú trọng
tới một vài em có năng khiếu đó.
Vì vậy một vấn đề cấp bách được đặt ra là có thể đọc diễn cảm cho tất cả
các em học sinh được không, và có cần thiết phải làm điều đó không?

14


Không nên phủ nhận một sự thật là có những trẻ em có năng khiếu và

Các nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng trực giác là bước nhảy vọt của
cảm tính, là bước sóng xuất thần, người ta gọi trực giác – tổng giác (tổng
nhận thức con người). Họ diễn đạt trực giác không phải là trở về cái đã có mà
là đạt đến cái mới cao hơn nhận thức và không thể diễn đạt bằng lời. Trực
giác là sự sáng tạo bởi có cái mới bằng sức mạnh tổng hợp của con người.
Páp-lốp nói: “Tôi thấy rằng cần phải hiểu trực giác như vậy tức là con
người chỉ nhớ kết quả cuối cùng còn toàn bộ con đường mà nó đã đi để đến
kết quả đó, đã chuẩn bị cho kết quả đó lúc này nó chưa ý thức được”.
Như vậy trực giác có vai trò quan trọng trong đọc diễn cảm, nó cũng là
một yếu tố có tính quyết định trong việc đọc diễn cảm diễn ra trong một
khoảng thời gian ngắn. Một lần nữa chúng ta có thể khẳng định, những đặc
điểm thuộc về tâm lí cá nhân như năng khiếu, thiên tài không phải hoàn toàn
do bẩm sinh mà là kết quả của một quá trình học tập, hoạt động rèn luyện. Vì
thế, có thể dạy và nhất thiết cần phải dạy cho trẻ ở mọi lứa tuổi đọc diễn cảm.
Kĩ năng đọc diễn cảm, sự hoàn thiện ngôn ngữ của con người sẽ được hình
thành trong quá trình đọc diễn cảm.
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học của đọc diễn cảm
a. Ngữ điệu của lời nói
Trong khi nói về nghệ thuật đọc, người ta thường xác định rằng đó là
nghệ thuật của ngữ điệu. Sự tồn tại của các ngữ điệu đa dạng khác nhau đã
cho phép người ta phân biệt lời nói diễn cảm với lời nói không diễn cảm.
“Người nói cần phải biết sử dụng thành thạo những phương tiện không có tính
ngôn ngữ nhưng lại rất quan trọng về mặt tâm lí để biểu hiện ý nghĩ. Trước
hết đó là ngữ điệu”. Thế nào là ngữ điệu?
Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp các phương
tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) có quan hệ tương tác lẫn nhau được sử

16




cần có hiểu biết về chính âm.
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu
lực về mặt xã hội. Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở Tiểu học.
Hiện nay, trong trường học chưa có văn bản quy định về chuẩn chính âm.
Điều này làm cho việc xác định nội dung đọc thành tiếng ở Tiểu học gặp
nhiều khó khăn, không tránh khỏi những lúng túng khi xác định nội dung đọc
đúng, đọc diễn cảm.
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết như thế nào những nét khác biệt trên
bình diện ngữ âm giữa các phương ngữ, một hiện tượng có liên quan trực tiếp
đến việc xác định chuẩn chính âm. Trong bốn thập kỉ nay, giới Việt ngữ học
có nhiều quan điểm khác nhau về chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, trong đó ý
kiến cho rằng nên lấy phương ngữ Bắc Bộ (chuẩn là Thủ đô Hà Nội) làm cơ
sở để xác định chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt đồng thời bổ sung một số ngữ
âm tích cực của các phương ngữ khác. Đây là quan điểm được nhiều người
tán thành. Hiện nay trong trường học, một cách tự nhiên, hệ thống ngữ âm
được phản ánh trên chữ viết được coi là hệ thống ngữ âm chuẩn mực của
tiếng Việt hiện tại. Đó là cách phát âm lấy phương ngữ Bắc Bộ (tiêu biểu là
tiếng Hà Nội) bổ sung thêm ba phụ âm đầu của miền Trung, những âm được
biểu hiện trên chữ viết bằng các con chữ tr, s, r và hai vần ươu, ưu. Đây là
cách phát âm có sự khu biệt âm vị học tối đa của chữ viết để khắc phục những
âm đã mất đi hoặc đã bị biến dạng của tiếng địa phương.
c. Hoạt động ngôn ngữ
Khoa học hiện đại coi ngôn ngữ là một trong những hình thức hoạt động
của con người “hoạt động ngôn ngữ” còn những lời nói riêng biệt được gọi là
“những hành động nói năng”. Trong khoa học nghiên cứu những loại phát
sinh, ngôn ngữ xuất hiện và phát triển như một phương tiện để thông báo, một
phương tiện dùng để tác động đến những người xung quanh. Khi một đứa trẻ

18

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status