Một số dạng bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5 - Pdf 40

CHƯƠNG 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
nghiên cứu nên trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một
công trình nào khác.
Họ và tên tác giả
1.1

Trần Thảo Nam


Lời cảm ơn
Trước hết em xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Trương Thị
Thanh Thoài người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức và phương pháp
để em hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo,các em học sinh trường tiểu học Hải Đình – Đồng Hới – Quảng Bình,bạn bè
và người thân đã động viên khích lệ và tạo điều kiện cho em trong thời học tập và
thực hiện khóa luận.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Đồng Hới, tháng 5 năm 2015
1.2 Trần Thảo Nam

i
i


1.3

1.3.2.1. Mục đích và cách thức khảo sát....................................................................34
1.3.2.2. Phân loại và miêu tả các bài tập phát triển vốn từ trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học......................................................................................................34


1.3.2.3. Nhận xét, đánh giá về các bài tập phát triển vốn từ trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học .................................................................................................... 36
Chương 2: MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO HỌC SINH
LỚP 5
2.1. Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập..................................................................38
2.2. Miêu tả các dạng bài tập......................................................................................41
2.2.1. Nhóm bài tập phát triển vốn từ theo cấu tạo của từ tiếng Việt (A)..................41
2.2.1.1. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo cấu tạo của từ đơn (A.1).......................41
2.2.1.3. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo cấu tạo từ ghép (A.3)...........................44
2.2.2. Nhóm bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm các lớp từ tiếng Việt (B)........45
2.2.2.1. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm từ đồng nghĩa (B.1)..............45
2.2.2.3. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm từ đồng âm (B.3)..................48
2.2.2.4. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm từ nhiều nghĩa (B.4).............49
2.2.2.5. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm từ địa phương (B.5)..............52
2.2.2.6. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đặc điểm từ thuật ngữ (B.6).................53
2.2.2.7. Dạng bài tập phát triển vốn từ theo đăc điểm từ mượn (B.7).......................54
2.2.3. Nhóm bài tập phát triển vốn từ theo chủ đề (C)..............................................55
2.3. Phương hướng triển khai hệ thống bài tập phát triển vốn từ vào thực tiễn dạy
học ở lớp 5 ................................................................................................................. 56
Chương 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC
3.1. Mục đích thực nghiệm.........................................................................................57
3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm.........................................................57
3.3. Nội dung thực nghiệm.........................................................................................58
3.3.1. Thực nghiệm thăm dò khả năng thực hiện các bài tập về từ của học sinh lớp 5
...................................................................................................................................58

năng nghe, nói, đọc, viết.
Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đã khẳng định: Từ là đơn vị
cơ bản, đơn vị trung tâm của hệ thống ngôn ngữ. Có thể nói ngôn ngữ của chúng ta
là ngôn ngữ của từ, cho nên nếu không có từ thì không có bất cứ ngôn ngữ nào.
Chính vì vậy từ giữ vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ.
Điều này cũng giải thích tại sao ngay từ bậc tiểu học người ta đã quan tâm đến việc
dạy từ ngữ cho học sinh.
Theo cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Trong ngôn ngữ thì từ quan
trọng nhất, rồi đến câu, sau đó đến văn”. Cho nên dạy từ là rất cần thiết. Ngay từ
bậc tiểu học, từ ngữ cần được dạy trong tất cả các môn học của bậc tiểu học. Đặc
biệt là môn Tiếng Việt, với tính chất là môn học công cụ việc dạy từ càng quan
trọng hơn. Bởi muốn giao tiếp tốt học sinh phải có vốn từ, tức là phải hiểu từ, có
khả năng huy động và sử dụng từ, vốn từ của các em càng giàu có thì khả năng huy
động và lựa chọn từ càng nhanh và chính xác, sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng
rõ ràng, đặc sắc. Vốn từ là những kĩ năng từ ngữ học sinh tiếp thu được ở tiểu học,
là cơ sở để các em tiếp tục học tốt ở các bậc học sau. Chính vì vậy, việc phát triển
vốn từ cho học sinh tiểu học có vai trò rất quan trọng.
Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển về trí tuệ của trẻ. Vốn từ được sử dụng trong lời nói được
coi là một phương tiện tác động rất tinh tế trong hệ thống xây dựng môi trường Sư


phạm có định hướng, bởi trong ngôn ngữ lời nói không chỉ có thông tin mà còn có
ngôn ngữ tình cảm. Ngôn ngữ nói có thể tạo nên hiện thực tâm lý có sức mạnh đặc
biệt. Trên con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội, một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa
cần tạo ra những con người hoàn thiện về mọi mặt, trong đó phát triển vốn từ phong
phú nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
Tuy nhiên, thực tiễn dạy – học từ ngữ ở bậc tiểu học nói chung, lớp 5 nói riêng
hiện nay còn gặp những khó khăn, hạn chế nhất định. Nhìn chung các giáo viên tiểu
học đều cho rằng từ ngữ là một môn học khó cả đối với người dạy và người học.

phải là chuyên luận đi sâu vào một vấn đề cụ thể, nóng hổi đang đặt ra với các nhà
giáo dục. Tuy nhiên, sự thống nhất trong cả cuốn sách chính là quan điểm giao tiếp
trong dạy học Tiếng Việt, một định hướng dạy học nhằm phát triển ở học sinh công
cụ giao tiếp và công cụ tư duy. Năm 2003, Trần Bá Hoành cùng tác giả Nguyễn Thị
Hạnh, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí,… đã viết nhiều cuốn sách đi sâu nghiên cứu
vấn đề đổi mới phương pháp theo hướng tích cực như “ Áp dụng dạy và học tích
cực trong môn Tiếng Việt”, “ Áp dụng dạy và học trong môn văn học”…
Cùng với sự thay đổi chương trình sách giáo khoa bậc tiểu học, việc đổi mới
phương pháp dạy học cho phù hợp với nội dung dạy học đã đề ra là một trong
những vấn đề đang được mọi người quan tâm. Trong cuốn “ Dạy và học môn Tiếng
Việt ở tiểu học theo chương trình mới”, tác giả Nguyễn Trí đã nhấn mạnh việc phối
hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
trong dạy học Tiếng Việt.
Tác giả Trịnh Mạnh có bài “Dạy từ ngữ cho học sinh cấp một phổ thông”. Tài
liệu này có hai đóng góp quan trọng. Thứ nhất, là xác định được ba nhiệm vụ cụ thể
của dạy từ (chính xác vốn từ, phong phú vốn từ, tích cực hóa vốn từ). Thứ hai, là tài
liệu đã xác định nội dung cụ thể của việc dạy từ, nên dạy cái gì và không nên dạy
cái gì? Ngoài ba nhiệm vụ cơ bản mà Trịnh Mạnh đã đề cập, bài viết “Những điểm
mới làm cơ sở cho việc dạy và học môn Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở”
(Giáo dục số phụ, 1986). Tác giả Lê Cận có bổ sung thêm nhiệm vụ thứ tư của việc
dạy từ đó là “ Giúp học sinh chuẩn mực hóa vốn từ”. Nhiệm vụ này xuất phát từ
yêu cầu làm đẹp, làm trong sáng vốn từ của học sinh.
Tác giả Lê Phương Nga đã tiến hành “ Tìm hiểu vốn từ của học sinh tiểu
học”. Đây là chương trình có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đã giải quyết hai nhiệm
vụ : làm rõ khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh tiểu học và xác định được khả năng
sử dụng của các em. Tác giả đã đưa ra những con số thống kê về thực trạng nắm
nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh. Từ việc đó tác giả phân tích rõ các đặc điểm
giải nghĩa từ và sử dụng từ của học sinh, đồng thời thấy được cả những lúng túng
của các em khi thực hiện những hoạt động này.
Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh đã xây dựng “ Hệ thống bài tập rèn luyện

Hệ thống bài tập này phải mang tính sáng tạo, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm;
đồng thời phải phù hợp với mục tiêu môn Tiếng Việt lớp 5; khắc phục được những
hạn chế và thiếu sót trong sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành. Mặt khác, đề tài
phải mang tính khả thi, được ứng dụng rộng rãi và đem lại hiệu quả dạy học.
4.2. Để đạt được mục đích trên, đề tài phải giải quyết được những nhiệm vụ
cơ bản sau:
Xây dựng được cơ sở lí luận và thực tiễn của một số dạng bài tập phát triển
vốn từ cho học sinh lớp 5. Cụ thể, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu các lĩnh vực khoa


học có liên quan thuộc Ngôn ngữ học, Giáo dục học, Tâm lí học, Tâm lí lứa tuổi,
Tâm lí học sư phạm, Lí luận dạy học hiện đại, Phương pháp dạy học tiếng Việt;
nghiên cứu thực trạng dạy học từ ở tiểu học, đặc biệt là lớp 5. Trên cơ sở đó, phân
tích và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết nhằm xây dựng cấu trúc, nội dung
một số bài tập phát triển vốn từ và hình thức hướng dẫn học sinh luyện tập.
Xây dựng, giới thiệu cụ thể một số dạng bài tập.
Nêu phương hướng triển khai một số dạng bài tập vào thực tiễn dạy học ở tiểu
học. Đề tài phải trình bày được phương hướng triển khai một số dạng bài tập phát
triển vốn từ cho học sinh lớp 5 vào trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả giảng dạy.
Tổ chức thử nghiệm sư phạm, phân tích kết quả thử nghiệm nhằm đánh giá
khả năng đưa các dạng bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5 vào thực tế dạy
học tiếng Việt lớp 5.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp thống kê – phân loại, thống kê – so sánh
Phương pháp thống kê – phân loại được sử dụng trong liệt kê, phân loại hệ
thống bài tập, phân loại hệ thống từ nhằm đưa ra những con số chính xác về các
dạng bài tập trong sách Tiếng Việt tiểu học. Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu

tiếng Việt nói chung qua việc xây dựng cơ sở khoa học của các dạng bài tập phát
triển vốn từ cho học sinh lớp 5.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Đề tài đã xây dựng được một số bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5
mang tính thực tiễn, giúp học sinh phát triển được vốn từ cũng như cách sử dụng
của một lớp từ mang tính biểu đạt cao.
Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các giáo viên, phụ huynh và học sinh trong
dạy và học tiếng Việt ở tiểu học.
7. Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm những phần sau:
Phần mở đầu bao gồm lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp
của đề tài, bố cục của đề tài.
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập phát triển
vốn từ cho học sinh lớp 5.
Chương 2: Một số dạng bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5.
Chương 3: Thử nghiệm dạy học
Phần kết luận – kiến nghị: Những kết quả đạt được của đề tài, đồng thời trình
bày những kiến nghị, đề xuất.


Tài liệu tham khảo: Thống kê 20 tài liệu mà chúng tôi đã sử dụng trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Phần phụ lục: giới thiệu phiếu điều tra về thực trạng dạy học từ ở lớp 5, đề bài
kiểm tra ( phiếu bài tập) dùng trong thực nghiệm thăm dò, giáo án thực nghiệm,
phiếu nhận xét các tiết dạy thực nghiệm, đề bài kiểm tra dùng trong thực nghiệm
kiểm tra đánh giá (thực nghiệm dạy học).



phần phụ âm đầu, hoặc ở tất cả thành phần âm thanh. Từ đó ta có các từ gần âm
hoặc đồng âm…
Các từ có thể giống nhau về kiểu cấu tạo, từ đó chúng hợp thành các kiểu từ
xét về mặt cấu tạo.
Các từ có thể có điểm giống nhau về ngữ nghĩa, từ đó hình thành những hệ
thống ngữ nghĩa với mức độ lớn nhỏ khác nhau: các trường nghĩa, các lớp từ gần
nghĩa, đồng nghĩa…


Các từ có thể có điểm giống nhau về nguồn gốc, về phạm vi sử dụng, về đặc
điểm phong cách. Chúng họp thành các lớp từ xét theo nguồn gốc ( các từ gốc Việt,
các từ vay mượn), các lớp từ nghề nghiệp, các lớp từ thuộc phong cách chức năng
khác nhau.
Trong ngôn ngữ còn có một loại hệ thống khác của các từ. Hệ thống này
đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của ngôn ngữ, cũng như trong hoạt
động của ngôn ngữ. Đó là hệ thống các từ được hình thành trên cơ sở các đặc điểm
ngữ pháp giống nhau của các từ. Dựa và những đặc điểm ngữ pháp giống nhau này,
người sử dụng ngôn ngữ có cơ sở để dùng từ khi nói, khi viết, để lĩnh hội khi nghe,
khi đọc, còn người nghiên cứu và học tập ngôn ngữ có cơ sở để phân chia các từ,
nhận biết được đặc điểm ngữ pháp của từ.
Nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt và chấp nhận một cách nhìn để làm việc
thì quan niệm về từ đã trình bày ở phần trên là có thể dùng được cho tiếng Việt. Có
thể phát biểu lại như sau:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh,
có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.
Ví dụ: - nhà, người, áo, cũng, nếu,sẽ, thì,…
- đường sắt, sân bay, dạ dày, đen sì, dai nhách…
a. Đơn vị cấu tạo
Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi
là các âm tiết. Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị,

a.3. Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào tiêu chí: “có hoạt
động tự do hay không” để chia các tiếng thành hai loại:
– Loại tiếng tự do: Có thể hoạt động tự do trong lời nói với tư cách từ. Thật ra
thì chúng là những tiếng mà tự than một mình đã đủ khả năng tạo thành từ. Chẳng
hạn: làng, xã, người, đẹp, nói, đi…
– Loại tiếng không tự do: Loại này gồm hai nhóm:
+ Những tiếng không tự do nhưng tự thân chúng có mang nghĩa: thủy, hỏa,
hàn, trường, đoản, sơn…
+ Những tiếng không tự do mà tự thân không mang nghĩa: (lạnh)lẽo;
(đen)nhánh; mồ, hôi, cà, phê…
Tuy nhiên, ranh giới của các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối. Cần
phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, phạm vi này
với phạm vi kia.
b. Phương thức cấu tạo
Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp
các tiếng lại theo lối nào đó.
b.1. Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ
đơn tiết). Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng.
Ví dụ: tôi, bác, người, nhà, cây, hoa, trâu, ngựa,…


đi, chạy, cười, đùa, vui, buồn, hay, đẹp…
vì, nếu, đã, đang, à, ừ, nhỉ, nhé…
b.2. Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu
tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Dựa vào
tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ
ghép Tiếng Việt như sau:
Từ ghép đẳng lập. Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình
đẳng với nhau về nghĩa. Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng:
Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa. Khi dùng mỗi thành tố

thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của
chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu
tố được gọi là yếu tố láy. Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn:
+ Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu tố
được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài). Ví dụ: cào cào, ba ba, rề rề, khăng khăng, lù lù,
lâng lâng, đùng đùng, hây hây, gườm gườm,đăm đăm…
+ Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu. Nguyên tắc đối thanh điệu ở
đây là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực, và bằng đứng
trước trắc đứng sau.
1.5

Bằng

Trắc

Ngang (1)

Hỏi (4) – Sắc (5)

Huyền (2)

Ngã (3) – Nặng (6)

Ví dụ: đo đỏ, ra rả, hây hẩy, hau háu, hơ hở, ngay ngáy, phơi phới, sừng sững,
chồm chỗm, vành vạnh, lừng lững, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng… Tuy nhiên, ở
đây vẫn còn một số ngoại lệ như: cỏn con, dửng dưng, mảy may, cuống cuồng…
+ Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theo quy
luật dị hóa:
m – p – ng – c
n – t – nh – ch

không ít từ mà cả hai tiếng đều không rõ nghĩa. Ví dụ như: bải hoải, hấp tấp, lập
cập, bầy hầy, thình lình, liểng xiểng, xớ rớ, lấc cấc…
Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng.
Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên
cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng,
trơ trờ trờ... đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng
vàng...
Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều. Mặt khác, có
thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng
mà thôi. Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn –
nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp...). Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng"
giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt;
trụi lủi – trụi thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt...
Từ láy bốn tiếng thì tình hình cấu tạo có đa tạp hơn. Có thể là:
- Nhân đôi từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành e, a, ơ, à
cho phù hợp, hài hòa về âm vực giữa các vần, các thanh:
vớ vẩn – vớ va vớ vẩn


lề mề - lè mà lề mề
- Nhân đôi từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh điệu
thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp : bồi hồi – bồi hổi bồi
hồi.
- Nhân đôi từng tiếng của từ láy hai tiếng :
hùng hổ - hùng hùng hổ hổ
vội vàng – vội vội vàng vàng…
-Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, nhưng biến âm đầu của tiếng thứ nhất và
tiếng thứ ba thành /l-/ :
nhồm nhoàm – lồm nhồm loàm nhoàm
thơ thẩn

c. Biến thể của từ
Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu
trúc. Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc
hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Ở đây
chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến động hoặc dạng "lời nói" của từ.
Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả
mọi từ. Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng mà
thôi. Đại thể có những dạng biến động như sau:
c.1. Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản
hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn. Ví dụ:
ki-lô-gam

-

ki lô/ kí lô

(ông) cử nhân -

(ông) cử

(ông) tú tài

(ông) tú

-

Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và
nhiều khi chỉ vì lí do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay Tiếng Việt
mới có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên
là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu.

trong Tiếng Việt hiện nay không thấy có. Rất có thể vì nó trái với nguyên tắc tiết
kiệm mà người sử dụng ngôn ngữ thường xuyên phải tính đến.


c.2. Lâm thời phá vỡ cấu trúc của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu
tố khác ngoài từ chen vào. Ví dụ:
khổ sở

-

lo khổ lo sở

ngặt nghẽo

-

cười ngặt cười nghẽo

danh lợi + ham chuộng -

ham danh chuộng lợi

Sự biến đổi theo kiểu này rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích. Cũng có khi
người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng
yếu tố tạo từ với tư cách như một từ. Ví dụ:
tìm hiểu -

tìm mà không hiểu

đánh đổ -

vựng thành một hệ thống cụ thể để tạo điều kiện cho việc học tập,
nghiên cứu tiếng Việt, đồng thời giúp cho tiếng Việt hoàn thiện và phát triển.
Có thể phân chia các lớp từ tiếng Việt như sau:
- Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc
- Phân lớp từ ngữ theo phạm vi sử dụng
- Phân lớp từ ngữ tích cực và tiêu cực
- Phân lớp từ ngữ theo phong cách sử dụng
a. Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc
+ Lớp từ bản ngữ
+ Lớp từ ngoại lai: Lớp từ gôc Hán ( từ Hán cổ và từ
Hán Việt) Các từ ngữ gôc Ấn – Âu ( chủ
yếu là Pháp)
* Lớp từ bản ngữ:
- Khái niệm: lớp từ bản ngữ hay còn gọi là lớp từ thuần Việt, là cốt lõi
của lớp từ vựng tiếng Việt, làm chỗ dựa và có vai trò điiều khiển, chi phối sự
hoạt động của mọi lớp khác.
Ví dụ: - tương ứng Việt – Mường: vợ, chồng, ông, ăn…
- tương ứng Việt – Tày Thái: bắt, bóc, gọt, vải…
- tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt – Mường đồng thời nhóm Bru
– Vân kiều: đêm, kéo, bốc, củi…
- tương ứng với nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer ở Tây Nguyên Việt
Nam: mưa, sấm, sét, nói…
- tương ứng vứi nhóm Việt – Mường và các ngôn ngữ Khmer khác:
sao, gió,
đất, lửa…
- tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày thái: ba, bể, bát…
- tương ứng Việt – Inđônexia: bố, ba, bu, mẹ, bác…
* Lớp từ ngoại lai:
- Khái niệm: những từ ngữ , mà chúng vay mượn, hoặc có nguồn gốc từ
ngôn ngữ khác.

+ sự biến đổi ngữ nghĩa của các từ ngữ này không rõ rệt khi du nhập vào
Tiếng Việt, nhưng bộ mặt ngữ âm của chúng lại được cải tổ rõ rệt, ví dụ: poste –
bốt, bôt – bốt, cafe – cà phê, gare – gar…
+ người Việt có xu hướng rút ngắn độ dài các từ gốc Ấn – Âu: sou – xu, chef –
xếp, valse – van…
+ ứng xử của các đơn vị từ ngữ gốc Âu trong Tiếng Việt khá đa dạng: những
từ đơn tiết thì khả năng nhập vào Tiếng Việt càng mạnh, ví dụ: lốp, dạ, len, ga, ray,
gác, bốt…; những từ đa tiết, đặc biệt là 3 âm tiết trở lên, thì dấu ấn ngoại lai còn rất
rõ: xà phòng, may ô, sô cô la, pa nen…


b. Phân lớp từ ngữ theo phạm vi sử dụng:
+ Thuật ngữ
+ Từ ngữ địa phương
+ Từ ngữ nghề nghiệp
+ Tiếng lóng
+ Lớp từ chung
* Thuật ngữ
- Khái niệm: những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được
xác định chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học.
- Đặc điểm: tính chính xác: chính xác, chủn tắc về nội dung và khái niệm; tính
hệ thống:mỗi thuật ngữ nằm trong một hệ thống nhất định, hệ thống ấy phải chặt
chẽ từ nội dung, đến hình thức; tính quốc tế: trước hết phải quốc tế hóa về mặt nội
dung, là biểu hiện của thống nhất khoa học.
Ví dụ: trong hóa học có: chất, đơn chất, hợp chất, chất vô cơ, chất hữu cơ, hợp
chất vô cơ, hợp chất hữu cơ….
* Từ ngữ địa phương
- Khái niệm: là những từ thuộc một phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc
và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó.
- Đặc điểm: chỉ sự khác biệt về vựng từ chứ không phải ngữ âm; có những từ

lượng từ ngữ lớn; đống vai trò nền tảng của ngôn ngữ.
Ví dụ: cây, lá, hoa, bố, mẹ, bàn, ghế,vv…
c. Phân lớp từ ngữ theo tần số sử dụng ( từ ngữ tích cực và tiêu cực)
- Từ ngữ tích cực
- Từ ngữ tiêu cực:
+ Từ mới
+ Từ cũ: từ cổ và từ lịch sử
* Từ ngữ tích cực
- Khái niệm: là những từ được mọi người sử dụng ở mọi lúc, mọi nơi.
- Đặc điểm: thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp, ở dạng này hay dạng
khác, nói hay viết, độc thoại hay đối thoại, có tần số xuất hiện cao, độ phân bố lớn;
là thành phần cơ bản, trụ cột của từ vựng.
Ví dụ: rau, cháo, cơm, hoa, đẹp, xấu, anh, con trai, cô gái…
1.8 *Từ ngữ tiêu cực
• Từ mới
- Khái niệm: là những từ xuất hiện để bù đắp những thiếu hụt, không phù hợp,
thỏa mãn với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status