Khóa luận tốt nghiệp Một số dạng bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5 - Pdf 30


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu nên trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kì một công trình nào khác.

Họ và tên tác giả

Trần Thảo Nam

ii

1.1.1.1.2. Kết luận sư phạm 16
1.1.1.2. Các lớp từ tiếng Việt và việc phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học 17
1.1.1.2.1. Các lớp từ tiếng Việt 17
1.1.1.2.2. Kết luận sư phạm 22
1.1.1.2.3. Trường nghĩa của từ và vấn đề thiết kế bài tập phát triển vốn từ 23
1.2. Cơ sở tâm lí giáo dục học 24
1.2.1. Mục tiêu dạy học tiếng Việt và việc dạy học từ cho học sinh lớp 5 24
1.2.2. Các yếu tố tâm lí của học sinh lớp 5 có liên quan đến việc phát triển vốn từ 25
1.2.3. Cơ chế của hoạt động tích lũy từ và bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu
học. 27
1.2.4. Những yêu cầu đối với bài tập dạy tiếng Việt và việc xây dựng hệ thống bài
tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5 28
1.3. Cơ sở thực tiễn 33
1.3.1. Tình hình dạy và học từ trong nhà trường tiểu học 33
1.3.2 Các dạng bài tập phát triển vốn từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.34
1.3.2.1. Mục đích và cách thức khảo sát 34
1.3.2.2. Phân loại và miêu tả các bài tập phát triển vốn từ trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học 34

iv

1.3.2.3. Nhận xét, đánh giá về các bài tập phát triển vốn từ trong sách giáo khoa
Tiếng Việt tiểu học 36
Chương 2: MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO HỌC SINH
LỚP 5
2.1. Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập 38
2.2. Miêu tả các dạng bài tập 41
2.2.1. Nhóm bài tập phát triển vốn từ theo cấu tạo của từ tiếng Việt (A)
41


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do cho đề tài
Như chúng ta đã biết, trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay
đòi hỏi con người cần có tri thức và kĩ năng thực hành. Theo định hướng đó thì bậc
tiểu học là nền tảng. Mục tiêu của giáo dục tiểu học là nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện. Mỗi một môn học ở tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh và cung cấp cho các em những ti thức cần thiết.
Theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “ Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao, đổi mới cơ bản và toàn diện sự nghiệp giáo dục là một trong ba
khâu đột phá của đất nước trong giai đoạn tới”.
Như vậy, giáo dục giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo và bồi
dưỡng năng lực chất lượng cao cho đất nước. Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có
nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt
động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn hoạt động ngôn ngữ tương ứng với bốn kĩ
năng nghe, nói, đọc, viết.
Từ xưa đến nay, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đã khẳng định: Từ là đơn vị
cơ bản, đơn vị trung tâm của hệ thống ngôn ngữ. Có thể nói ngôn ngữ của chúng ta

giáo khoa và sách hướng dẫn, chưa tạo được tình huống giao tiếp cụ thể, sinh động
để học sinh luyện tập sử dụng từ, chưa gây được hứng thú học tập của các em, tiết
học còn gò bó, nặng nề.
Về phía học sinh, qua các bài học từ ngữ, các em được trang bị một vốn từ
ngày càng phong phú nhưng hiện tượng học sinh chưa hiểu đầy đủ về từ, dùng từ
sai, không phù hợp với ngữ cảnh, còn nhiều vốn từ của các em chưa trở thành vốn
từ tích cực trong hoạt động tư duy và giao tiếp. Nhìn chung hiệu quả của giờ học từ
ngữ ở tiểu học chưa đạt yêu cầu mong muốn.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, từ ngữ nói
riêng trong hoạt động giao tiếp đã được nhiều nhà ngôn ngữ học và những người
nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tiếng quan tâm.
Ở nước ta, đã có những cuốn sách, những bài viết nói về một số phương tiện
của từ trong hoạt động giao tiếp, trong ngôn bản.
Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm dạy ngôn ngữ, dạy từ theo hướng giao
tiếp vào từng phân môn của môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông là vấn đề còn
phải nghiên cứu. Việc dạy từ ngữ ở nhà trường tiểu học theo định hướng cho đến
nay nhìn chung chưa được nghiên cứu, vận dụng một cách cụ thể.
Xuất phát từ những vấn đè nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Một số dạng
bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5”. Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
của việc dạy học tiếng Việt ở tiểu học.
2. Lịch sử vấn đề
Phương pháp dạy học đã có từ rất lâu và nó được coi là vấn đề cốt lõi của lí
luận dạy học. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu, tìm hiểu việc áp dụng
phương pháp dạy học tích cực vào dạy học ở nhà trường Phổ thông. 3

Từ những năm 1960, vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã đặt
ra trong ngành giáo dục nước ta. Năm 1998, hai tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn

Luận án của tác giả Lê Hữu Tỉnh đã xây dựng “ Hệ thống bài tập rèn luyện
năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học”. Luận án đưa ra một hệ thống bài
tập dạy từ cho học sinh tiểu học, với một cái nhìn toàn cục, tổng thể về diện mạo 4

của các bài dạy từ ở tiểu học. Tác giả đã phân tích về mục đích, ý nghĩa, tác dụng
của bài tập, các tiều loại bài tập. Hệ thống bài tập cho phép người sử dụng lựa chọn
từng bài vào điều kiện dạy học cụ thể. Có thể nói, vấn đề dạy từ cho học sinh tiểu
học không phải là vấn đề hoàn toàn mới, đã có rất nhiều tài liệu đều đã đề cập đầy
đủ và sâu sắc mọi khía cạnh của việc dạy từ như: dạy học sinh phát triển mở rộng,
hệ thống hóa vốn từ, nắm nghĩa từ, hay rèn luyện kĩ năng dùng từ…và việc vận
dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy tiếng Việt theo chương trình mới.
Tuy nhiên các tài liệu trên vẫn chưa đi sâu nghiên cứu về kiểu bài phát triển
vốn từ ở lớp 5. Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho từng
tiết học, bài học, phù hợp với đối tượng học sinh để phát huy tính tích cực hoạt
động học tập của học sinh lớp 5 cũng chưa được các nhà giáo dục quan tâm nghiên
cứu cụ thể. Thế nhưng chính từ các tài liệu này chúng tôi đã tiếp thu được nhiều
điều bổ ích làm căn cứ cho việc đề xuất cách vận dụng một số phương pháp dạy học
tích cực vào dạy học kiểu bài phát triển vốn từ ở lớp 5 của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cấu trúc của hệ thống bài tập, nội
dung và hình thức bài tập phát triển vốn từ ( theo chương trình và sách giáo khoa
hiện hành).
3.2. Các bài tập do đề tài đề xuất được sử dụng trong các giờ thực hành luyện
tập về từ trong những tiết dạy của các phân môn như chính tả, tập đọc, kể chuyện,
tập làm văn, luyện từ và câu; có sự phối hợp giữa giáo viên và học sinh trong nhà
trường.
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên đối tượng học sinh trường tiểu học Hải

khả năng đưa các dạng bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5 vào thực tế dạy
học tiếng Việt lớp 5.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp thống kê – phân loại, thống kê – so sánh
Phương pháp thống kê – phân loại được sử dụng trong liệt kê, phân loại hệ
thống bài tập, phân loại hệ thống từ nhằm đưa ra những con số chính xác về các
dạng bài tập trong sách Tiếng Việt tiểu học. Từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu
tiếp theo.
Phương pháp thống kê – so sánh được sử dụng trong đối chứng kết quả thử
nghiệm.
5.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng trong các tiết dự giờ, quan sát học sinh trong
các hoạt động khác… để đánh giá mức độ và khả năng sử dụng từ của học sinh.
5.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng trong tìm hiểu thực tiễn dạy
học từ ở lớp 5 nói riêng, ở tiểu học nói chung. Thông qua dự giờ, quan sát, giáo viên
lập phiếu điều tra để nắm tình hình sử dụng từ của học sinh. Từ đó, nghiên cứu, xử
lí kết quả và rút ra được những kết luận làm cơ sở để xây dựng bài tập phát triển
vốn từ cho học sinh lớp 5.
5.4. Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng trong thu thập ý kiến giáo viên, học sinh; thu thập tài liệu. 6

5.5. Phương pháp thử nghiêm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứu
nhằm xem xét, xác nhận tính khả thi của bài tập phát triển vốn từ cho học sinh lớp 5

bày những kiến nghị, đề xuất. 7

Tài liệu tham khảo: Thống kê 20 tài liệu mà chúng tôi đã sử dụng trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Phần phụ lục: giới thiệu phiếu điều tra về thực trạng dạy học từ ở lớp 5, đề bài
kiểm tra ( phiếu bài tập) dùng trong thực nghiệm thăm dò, giáo án thực nghiệm,
phiếu nhận xét các tiết dạy thực nghiệm, đề bài kiểm tra dùng trong thực nghiệm
kiểm tra đánh giá (thực nghiệm dạy học).


sinh tiểu học.
1.1.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt
Các từ trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng, có một số
lượng rất lớn. Nhưng mỗi một từ không phải hoàn toàn khác biệt với những từ khác,
mà chúng có những điểm giống nhau. Những từ này hình thành những loại, những
lớp, những nhóm lớn nhỏ khác nhau trong lòng kho từ vựng. Dựa vào đó có thể
phân các từ thành các loại.
Các từ có thể có điểm giống nhau về âm thanh, chẳng hạn ở phần vần, ở
phần phụ âm đầu, hoặc ở tất cả thành phần âm thanh. Từ đó ta có các từ gần âm
hoặc đồng âm…
Các từ có thể giống nhau về kiểu cấu tạo, từ đó chúng hợp thành các kiểu từ
xét về mặt cấu tạo.
Các từ có thể có điểm giống nhau về ngữ nghĩa, từ đó hình thành những hệ
thống ngữ nghĩa với mức độ lớn nhỏ khác nhau: các trường nghĩa, các lớp từ gần
nghĩa, đồng nghĩa… 9

Các từ có thể có điểm giống nhau về nguồn gốc, về phạm vi sử dụng, về đặc
điểm phong cách. Chúng họp thành các lớp từ xét theo nguồn gốc ( các từ gốc Việt,
các từ vay mượn), các lớp từ nghề nghiệp, các lớp từ thuộc phong cách chức năng
khác nhau.
Trong ngôn ngữ còn có một loại hệ thống khác của các từ. Hệ thống này
đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của ngôn ngữ, cũng như trong hoạt
động của ngôn ngữ. Đó là hệ thống các từ được hình thành trên cơ sở các đặc điểm
ngữ pháp giống nhau của các từ. Dựa và những đặc điểm ngữ pháp giống nhau này,
người sử dụng ngôn ngữ có cơ sở để dùng từ khi nói, khi viết, để lĩnh hội khi nghe,
khi đọc, còn người nghiên cứu và học tập ngôn ngữ có cơ sở để phân chia các từ,
nhận biết được đặc điểm ngữ pháp của từ.

+ Có những tiếng tự thân nó không quy chiếu được vào một đối tượng, một
khái niệm, nhưng có sự hiện diện của nó trong cấu trúc từ hay không, sẽ làm cho
tình hình rất khác nhau. Đó là chưa kể không ít trường hợp đã tìm ra nghĩa của
chúng trong quá khứ lịch sử Tiếng Việt. Nhiều khi là kết quả của hiện tượng hao
mòn ngữ nghĩa đến mức tối đa như vẫn thường gặp.Ví dụ: (dai)nhách; (xanh)lè;
(áo)xống; (tre)pheo; (cỏ)rả; (đường)sá;(e)lệ; (trong)vắt; (nắng)nôi;…
+ Có những tiếng tương tự như trên, nhưng chúng lại xuất hiện trong những từ
mà tất cả các tiếng tham gia tạo từ đều như thế cả (đều không quy chiếu vào một
khái niệm, một đối tượng, nếu tách rời nhau).Ví dụ: mồ - hôi – bồ - hòn – mì –
chính – a – pa – tít… Các từ ở đây có thể thuộc nguồn gốc Việt như: mồ hôi, bồ
hòn…
Nhưng cũng có thể thuộc nguồn gốc ngoại lai như: mì chính, a-pa-tít…
a.3. Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào tiêu chí: “có hoạt
động tự do hay không” để chia các tiếng thành hai loại:
– Loại tiếng tự do: Có thể hoạt động tự do trong lời nói với tư cách từ. Thật ra
thì chúng là những tiếng mà tự than một mình đã đủ khả năng tạo thành từ. Chẳng
hạn: làng, xã, người, đẹp, nói, đi…
– Loại tiếng không tự do: Loại này gồm hai nhóm:
+ Những tiếng không tự do nhưng tự thân chúng có mang nghĩa: thủy, hỏa,
hàn, trường, đoản, sơn…
+ Những tiếng không tự do mà tự thân không mang nghĩa: (lạnh)lẽo;
(đen)nhánh; mồ, hôi, cà, phê…
Tuy nhiên, ranh giới của các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối. Cần
phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, phạm vi này
với phạm vi kia.
b. Phương thức cấu tạo
Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp
các tiếng lại theo lối nào đó.
b.1. Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ
đơn tiết). Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng.

láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).
Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có
loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương
thức láy của tiếng Việt.
Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần
ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là
đối). Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần. Vì thế, nếu chỉ có điệp mà
không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành thì ta có dạng 12

láy của từ chứ không phải là từ láy. Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy,
có thể phân loại từ láy như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau:
Láy hoàn toàn: Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai
thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của
chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu
tố được gọi là yếu tố láy. Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn:
+ Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu tố
được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài). Ví dụ: cào cào, ba ba, rề rề, khăng khăng, lù lù,
lâng lâng, đùng đùng, hây hây, gườm gườm,đăm đăm…
+ Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu. Nguyên tắc đối thanh điệu ở
đây là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực, và bằng đứng
trước trắc đứng sau.
Bằng Trắc
Ngang (1) Hỏi (4) – Sắc (5)
Huyền (2) Ngã (3) – Nặng (6)
Ví dụ: đo đỏ, ra rả, hây hẩy, hau háu, hơ hở, ngay ngáy, phơi phới, sừng sững,
chồm chỗm, vành vạnh, lừng lững, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng… Tuy nhiên, ở

u – ơ: ngu ngơ, khù khờ, cũn cỡn…
ô – a: hốc hác, mộc mạc, ngột ngạt…
ê – a: nghê nga, khề khà, rề rà, xuề xòa, hể hả…
+ Lớp từ láy (điệp) phần vần, đối ở âm đầu. Ví dụ như: bâng khuâng, bơ vơ,
lưng chừng, lù đù, lã chã, càu nhàu, thao láo, hấp tấp, tủn mủn, lụp xụp, lảng vảng,
lúng túng, co ro, lan man… Gần nửa số lượng từ láy vần có âm đầu của tiếng thứ
nhất là âm /l-/ và phần lớn chúng có chứa một tiếng còn rõ nghĩa. Tuy vậy, vẫn có
không ít từ mà cả hai tiếng đều không rõ nghĩa. Ví dụ như: bải hoải, hấp tấp, lập
cập, bầy hầy, thình lình, liểng xiểng, xớ rớ, lấc cấc…
Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng.
Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên
cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng,
trơ trờ trờ đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng
vàng
Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều. Mặt khác, có
thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng
mà thôi. Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn –
nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp ). Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng"
giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt;
trụi lủi – trụi thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt
Từ láy bốn tiếng thì tình hình cấu tạo có đa tạp hơn. Có thể là:
- Nhân đôi từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành e, a, ơ, à
cho phù hợp, hài hòa về âm vực giữa các vần, các thanh:
vớ vẩn – vớ va vớ vẩn 14

lề mề - lè mà lề mề
- Nhân đôi từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh điệu

như: a-xít, mít tinh, sơ mi, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao, sô-cô-la… 15

Bộ phận từ này trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do các mối
quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ
ngữ, nhất là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật.
c. Biến thể của từ
Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu
trúc. Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc
hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Ở đây
chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến động hoặc dạng "lời nói" của từ.
Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả
mọi từ. Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng mà
thôi. Đại thể có những dạng biến động như sau:
c.1. Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản
hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn. Ví dụ:
ki-lô-gam - ki lô/ kí lô

(ông) cử nhân

- (ông) cử
(ông) tú tài - (ông) tú
Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và
nhiều khi chỉ vì lí do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay Tiếng Việt
mới có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên
là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu.
Chẳng hạn:
ve ve - Ve

người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng
yếu tố tạo từ với tư cách như một từ. Ví dụ:
tìm hiểu

- tìm mà không hiểu
đánh đổ

- đánh mãi mà không đổ

1.1.1.1.2. Kết luận sư phạm
Từ những đặc điểm cấu tạo về từ, có thể nói từ là một trong những phương
thức thức cấu tạo quan trọng của tiếng Việt. Khi nghiên cứu về từ cần tìm hiểu về cả
mặt ngữ nghĩa và cấu tạo. Dựa vào cấu tạo để nhận diện và phân loại từ, đồng thời
căn cứ vào ngữ nghĩa để sử dụng từ đúng mục đích nhằm làm tăng giả trị gợi tả, gợi
cảm trong nói và viết.
Muốn có sự hiểu biết đầy đủ và toàn diện về từ đòi hỏi người tìm hiểu cần có
sự nghiên cứu sâu và kĩ lưỡng. Tuy nhiên, đối với học sinh tiểu học thì việc học từ
chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện, phân loại và sử dụng từ. Chính vì vậy, để học sinh
nắm được đặc điểm cấu tạo dễ hiểu nhằm giúp các em nắm được kiến thức cơ bản.
Đồng thời, muốn dạy tốt từ cho học sinh tiểu học, mà cụ thể là học sinh lớp 5 nhằm
giúp các em phát triển vốn từ ngữ đòi hỏi giáo viên phải đưa ra biện pháp giảng dạy
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
Ngôn ngữ không đứng yên mà nó luôn vận động theo sự phát triển của xã hội.
Mặt khác, vốn từ tiếng Việt lại vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo
một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ
vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong
chương trình tiếng Việt ở bậc phổ thông, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất
được những nhà giáo dục quan tâm. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp học sinh
dễ dàng nhận diện và phân biệt được các loại từ dựa trên đặc điểm cấu tạo.


sấm, sét, nói…
- tương ứng vứi nhóm Việt – Mường và các ngôn ngữ Khmer khác: sao, gió,
đất, lửa…
- tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày thái: ba, bể, bát…
- tương ứng Việt – Inđônexia: bố, ba, bu, mẹ, bác…
* Lớp từ ngoại lai:
- Khái niệm: những từ ngữ , mà chúng vay mượn, hoặc có nguồn gốc từ ngôn
ngữ khác.
18

- Phân loại: + Các từ ngữ gốc Hán
+ Các từ ngữ gốc Ấn – Âu
+).Các từ ngữ gốc Hán
- Các giai đoạn của quá trình tiếp xúc Hán – Việt:
+ giai đoạn 1: từ đầu công guyên đến đầu đời Đường (đầu thế kỉ VIII)
+ giai đoạn 2: từ đời Đường ( thế kỉ VIII – X) trở về sau
-Có 2 loại từ gốc Hán:
+ từ Hán cổ: là những từ gốc Hán du nhập vào Tiếng Việt trong giai đoạn 1,
ví dụ: chè, ngà, chén, chém, buồn, mùi, cưa…
+ từ Hán – Việt: là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn
2, mà người Việt đã đọc thành âm chuẩn của chúng theo ngữ âm của mình, ví dụ:
trà, mã, trọng, khinh, cận, nam, nữ…
- Đặc điểm:
+ chúng được Việt hóa, cải tổ về mặt ngữ âm, ví dụ: cử nhân – cử, cận – gần,
tiểu đông – tiểu…
+ khả năng nhập hệ của các từ gốc Hán rất không đông đều, nhiều từ không dễ
được người sử dụng nhận ra là có nguồn gốc Hán, ví dụ: cô, cậu, cao, thấp, bà…

- Đặc điểm: tính chính xác: chính xác, chủn tắc về nội dung và khái niệm; tính
hệ thống:mỗi thuật ngữ nằm trong một hệ thống nhất định, hệ thống ấy phải chặt
chẽ từ nội dung, đến hình thức; tính quốc tế: trước hết phải quốc tế hóa về mặt nội
dung, là biểu hiện của thống nhất khoa học.
Ví dụ: trong hóa học có: chất, đơn chất, hợp chất, chất vô cơ, chất hữu cơ, hợp
chất vô cơ, hợp chất hữu cơ….
* Từ ngữ địa phương
- Khái niệm: là những từ thuộc một phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc
và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó.
- Đặc điểm: chỉ sự khác biệt về vựng từ chứ không phải ngữ âm; có những từ
không có từ tương ứng, lại có những từ có từ tương ứng trong ngôn ngữ chung, có
từ vốn là từ cổ trong của từ tương ứng trong ngôn ngữ chung, có từ là từ đồng âm
với từ trong từ vựng chung.
Ví dụ: măng cụt, sầu riêng…; má-mẹ, mắc cỡ - xấu hổ; chí – chấy…
* Từ nghề nghiệp
- Là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong
phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó.
- Đặc điểm: lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít
quen; những nghề thủ công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp có nhiều từ nghề
nghiệp hơn cả; sự hoạt động của các từ nghề nghiệp không đều, có từ rất hạn chế,
có từ thì đã đi vào vốn từ vựng chung.
Ví dụ: nghề thợ mộc có bào cóc, bào xoa…; nghề hát tuồng có đào, kép, lão
trắng, lão đỏ, mụ ác, mụ lành…

20

* Tiếng lóng

thỏa mãn với nhu cầu định danh các sự vật, hiện tượng.

Trích đoạn Trường nghĩa của từ và vấn đề thiết kế bài tập phát triển vốn từ Các yếu tố tâm lí của học sinh lớp 5 có liên quan đến việc phát triển vốn từ Thực nghiệm thăm dò khả năng thực hiện các bài tập về từ của học sinh lớp Thực nghiệm thăm dò Thực nghiệm thăm dò khả năng thực hiện các dạng bài tập về từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status