Nghiên cứu tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi và biện pháp phòng trị tại trang trại đặng đức khang xã hướng đạo huyện tam dương tỉnh vĩnh phúc - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

NGUYỄN THANH BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
TẠI TRANG TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƢỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2016

THÁI NGUYÊN, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

NGUYỄN THANH BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
TẠI TRANG TRẠI ĐẶNG ĐỨC KHANG XÃ HƢỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC.

trình thực tập tại trang trại.
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Nguyễn Hữu Phong, anh
Vũ Văn Hưng, anh Nguyễn Đắc Trọng đã giúp đỡ , chia sẻ kinh nghiệm nghề
nghiệp quý báu cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời
gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thanh Bình


ii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh phân trắng lợn con ............... 27
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi ................................ 39
Bảng 4.2. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái của trại lợn ............... 40
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 47
Bảng 4.4. Số lượng lợn của trại qua một số năm ............................................ 48
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại............................... 49
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi ........... 50
Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo ngày tuổi ........................ 52
Bảng 4.8. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt .......................... 54
Bảng 4.9. Triệu chứng, bệnh tích lợn con mắc bệnh phân trắng lợn con ....... 55
Bảng 4.10. Kết quả điều trị phân trắng lợn con .............................................. 57
Bảng 4.11. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y ....................................................... 58

TB

: Trung bình

TT

: Thể trọng

STT

: Số thứ tự


iv

MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 4
2.1.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ ..................................... 4
2.1.2. Bệnh phân trắng lợn con ......................................................................... 8
2.1.3 Một số loại thuốc để điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại. .. 19
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 22
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 22

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nói đến ngành chăn nuôi, trước tiên phải nói đến ngành chăn nuôi
lợn, bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đến đời sống, kinh tế xã
hội của con người. Thịt lợn là loại thực phẩm rất phổ biến, giá trị dinh dưỡng
cao, có thể chế biến thành nhiều món ngon, khi chế biến lại ít làm giảm phẩm
chất thịt do đó rất được ưa chuộng. Ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp các sản
phẩm phụ khác cho ngành công nghiệp chế biến như: Da, lông, mỡ, xương,…
Bên cạnh đó còn cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt hay tận
dụng xây hầm Biogas để làm khí đốt, thắp sáng. Ngoài ra ngành chăn nuôi lợn
đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập
và là cơ hội làm giàu cho người dân.
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp thành tựu khoa học kỹ thuật
tiên tiến vào sản xuất đã thúc đẩy: Tổng đàn lợn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng,
khả năng phòng bệnh tốt, làm cho năng suất chăn nuôi ngày càng tăng lên,
thời gian nuôi được rút ngắn, lợi nhuận chăn nuôi ngày càng cao. Bên cạnh
đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm
phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Theo Quyết
định số 10/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi
đến năm 2020 [45], “ Về chăn nuôi lợn: phát triển nhanh quy mô đàn lợn
ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm
soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi
lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một
số vùng. Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con,
trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp chiếm 37%.”


Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đang
chuyển mình từ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi tập

1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Số liệu nghiên cứu là cơ sở bổ sung vào tài liệu tham khảo và nghiên
cứu khoa học của sinh viên ngành Thú y.
- Kết quả của đề tài cung cấp thêm thông tin khoa học về bệnh phân
trắng lợn con. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình phòng – trị bệnh
phân trắng lợn con.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân
trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi.


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.1.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], Sau sơ sinh, lợn con trong thời
kỳ này phát triển với tốc độ rất nhanh thể hiện thông qua sự tăng khối lượng
của cơ thể. Thông thường, khối lượng lợn con ở 7 đến 10 ngày tuổi đã gấp 2
lần khối lượng sơ sinh và đến 60 ngày tuổi gấp 10 – 15 lần khối lượng sơ
sinh. Sự sinh trưởng của lợn con không hoàn toàn tuân theo quy luật sinh
trưởng chung của gia súc. Ở giai đoạn 3 hoặc 4 tuần tuổi tốc độ tăng khối
lượng tuyệt đối của lợn con có chiều hướng giảm đi là do nguồn sữa mẹ cung
cấp cho lợn con bắt đầu giảm, liên quan đến quy luật tiết sữa của lợn nái. Mỗi
ngày, mỗi lợn con bú từ 300 – 1000 gam sữa với giá trị dinh dưỡng cũng như
khả năng tiêu hóa rất cao. Lúc 1 tháng tuổi lợn con bú 3,8 kg sữa thì tăng
được 1 kg khối lượng cơ thể, trong khi bê cần tới 10 lít sữa. Mỗi ngày lợn con
bú từ 10 – 20 lần. Ở thời kỳ lợn con theo mẹ lợn con tích lũy lượng protein
hằng ngày rất cao so với các thời kỳ khác. Trung bình mỗi kg khối lượng cơ
thể tích lũy 9 – 14 gam protein trên ngày trong khi đó ở các giai đoạn sau chỉ

tiến hành cho lợn con tập ăn sớm từ 7 – 10 ngày tuổi bằng thức ăn hạt thì
đến ngày thứ 14 đã thấy có HCl ở dạng tự do”.
Mặt khác, do sản lượng sữa mẹ tăng dần đến 3 tuần sau khi đẻ, sau đó
giảm đi cả về số lượng và chất lượng. Nhưng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
ngày càng cao do tốc độ sinh trưởng nhanh. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu
dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ. Đây là cơ sở
cho việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được
giai đoạn thiếu HCl.


2.1.1.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [5], Lợn con mới sơ sinh có sự thay
đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định
38,50C ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất thay đổi tùy theo từng mùa
khác nhau.
Có điều này do một số vấn đề sau:
- Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt
hạn chế.
- Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung
cấp năng lượng chống lạnh bị hạn chế.
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh. Trung khu điều
tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài thai.
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn
lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh
Phượng, 1996) [3].
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Toả nhiệt theo phương thức
này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện thuận lợi
dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá.

Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
-

Nhóm vi khuẩn đường ruột – vi khuẩn bắt buộc gồm: E. coli,

Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus... Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E. coli. Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng


E. coli trở lên cường độc gây bệnh, cấu trúc kháng nguyên của E. coli rất
phức tạp. Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80 kháng
nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F.
- Nhóm

vi khuẩn vãng lai: Chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước

uống vào hệ tiêu hóa gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus
subtilis... Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn còn có các trực khuẩn yếm
khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus
asobacterium…
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E. coli là phổ biến nhất và
chúng xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở
phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ
thể (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [24].
Tiêu chảy ở lợn còn do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng
viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn
trước trực tràng phình to.
2.1.2. Bệnh phân trắng lợn con

được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân
có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], thì một trong các yếu tố làm
cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt.Khi thiếu sắt, lợn
con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc
bệnh phân trắng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [30], Sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết
cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật. Ở động vật, 1/2 lượng sắt
trong cơ thể nằm ở Hemoglobin, một lượng ít hơn nằm ở Myoglobin và một


số Enzyme. Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp
ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, cơ thể suy
nhược, không hấp thụ được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh.
Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [20], Bệnh phân trắng lợn
con đã có từ rất lâu và ngày càng phổ biến ở các trạng chăn nuôi tập trung và
các nông hộ, lợn từ 5 – 25 ngày tuổi dễ mắc bệnh nhất.
* Do gia súc mẹ
Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai cũng như trong
giai đoạn đang nuôi con. Nhưng khi cho mẹ ăn quá nhiều thức ăn giàu dinh
dưỡng cũng làm ảnh hưởng tới lợn con.
Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vắc xin chống các
bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus... thì lợn con sinh ra dễ mắc
hội chứng tiêu chảy hơn.
Trong thời gian nuôi con gia súc mẹ bị mắc một số bệnh như: Viêm vú,
viêm tử cung, kém sữa... sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường tiêu
hóa lợn con.
Khi nuôi con mà con mẹ động dục trở lại sớm là một nguyên nhân làm
số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra.
* Nguyên nhân ngoại cảnh

* Do chăm sóc, quản lý
Bên cạnh đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt
cũng ảnh hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như lợn con không được bú sữa
đầu, cắt rốn không đúng kỹ thuật, úm lợn không đảm bảo nhiệt bộ, bổ sung
sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tiêu chảy.
Theo Cù Xuân Dần (1996) [4], do sức đề kháng của lợn con là rất yếu
vì vậy rất dễ bị tác động nếu lợn con theo mẹ mà không được nuôi dưỡng tốt
có chế độ ăn uống thích hợp thì chúng rất hay mắc bệnh và đặc biệt là bệnh
phân trắng. Muốn biết chế độ nuôi dưỡng của lợn con có thích hợp hay không


thì cần phải xét hai mặt chủ yếu: Lợn con có được tập cho ăn sớm hay không
và thức ăn bổ sung của lợn có đủ thành phần dinh dưỡng (đạm, khoáng,
vitamin...) theo yêu cầu phát triển của lợn con hay không .
Theo Nguyễn Thiện và cs (1996) [27], Cơ chế vận động chăn thả đều
đặn và hợp lí sẽ làm tăng cường quá trình trao đổi chất của cơ thể động vật
nói chung. Đối với lợn con nó làm tăng sức sống và sức chống đỡ bệnh tật và
bộ máy tiêu hoá cũng hoạt động tốt hơn. Mặt khác hoạt động ngoài trời nhờ
có tác dụng của các tia sáng tự nhiên của mặt trời sự tổng hợp vitamin D tiến
hành thuận lợi, xương cốt của lợn con phát triển tốt từ đó làm cho sự phát
triển chung của cơ thể cũng tốt.Thực tế nhiều nơi đã chứng minh sự vận động
và chăn thả có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn bệnh phân trắng lợn con
phát sinh. Ở nhiều nơi đã thấy có những đàn lợn con đang bị ỉa phân trắng
chỉ cần đem thả ra ngoài cho vận động thì bệnh cũng đã giảm đi rõ rệt còn
nếu vừa cho chăn thả vừa dùng thuốc chữa bệnh thì thu được kết quả rất tốt
và nhanh hơn hẳn so với chỉ nhốt trong chuồng rồi đơn thuần chạy chữa.
Nhưng phải đảm bảo môi trường vận động sạch sẽ không có mầm bệnh
truyền nhiễm .
* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột
Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói

Salmonella thuộc họ Enterobacteriaceae. Các loại gây bệnh có thể kể
đến như: Salmonella typhimurium, Salmonella cholera và Salmonella
ententidis. Đây là những trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết các
Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và
Salmonella pullorum) vì vậy có khả năng di động, không sinh nha bào kích
thước khoảng 0,4 – 0,6 x 2 – 3 µm.
- Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên

men glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ
methylen dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính, H2S dương
tính( trừ Salmonella paratyphi A: H2S âm tính).
- Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường.
- Nhiệt độ phát triển từ 5 – 450C, thích hợp ở 370C, pH thích hợp = 7,6

nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6 – 9 . Với pH >9 hoặc < 4,5 vi
khuẩn có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 500C trong
1 giờ, ở 700C trong 15 phút và 1000C trong 5 phút.


- Ớ nồng độ muối 6 – 8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ

muối là 8 – 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại. (Nguyễn Như Thanh
và cs, 2001) [24].
Hồ Văn Nam và cs (1997) [18] cho rằng: Lợn bị tiêu chảy thì số lượng
E. coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm. Khi các vi khuẩn gây
bệnh phát triển quá mạnh thì sẽ gây mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột
gây ra hiện tượng loạn khuẩn.
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi
khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với lợn
không bị tiêu chảy.

mắc bệnh rất sớm, ngay ngày đầu tiên sau khi sinh, thường mắc nhiều nhất là
sau khi sinh vài ngày.
Triệu chứng điển hình: Con vật khát nước, tính đàn hồi của da giảm,
mắt lõm sâu, thở nhanh, sâu, nhịp tim nhanh, ít đái. Theo Phạm Ngọc Thạch
và cs (2006) [26], trong 1 – 2 ngày đầu mắc bệnh, lợn vẫn bú và chạy nhảy
như thường. Phân táo như hạt đậu xanh, nhạt màu. Sau đó phân lỏng dần, có
màu vàng hoặc hơi trắng, có bọt và chất nhầy, mùi tanh khắm. Con vật có bú
hoặc bỏ bú, lông xù và dựng, da nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi khoeo dính đầy
phân.
Bệnh thường gặp 3 thể:
-

Thể quá cấp tính: Lợn tiêu chảy rất mạnh và có thể chết sau 6 – 20

giờ kể từ khi bỏ bú. Lợn bỏ bú hoàn toàn, đi đứng siêu vẹo, loạng choạng, hay
nằm bẹp một chỗ, co giật rồi chết. Thể này rất ít gặp.
-

Thể cấp tính: Lợn ỉa chảy nặng, mất nước, mất điện giải rồi chết sau

vài ngày mắc bệnh. Thể cấp tính hay gặp trong thực tế.


-

Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn từ tập ăn đến lúc cai sữa. Con vật ỉa

chảy liên miên, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm,
lông xù. Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hiệu quả thường dẫn tới bị
viêm dạ dày, ruột rồi chết.

bệnh đường tiêu hóa tăng sức đề kháng cho con vật.
* Phòng bằng vắc xin
Phòng bệnh bằng vắc xin được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng
hầu hết các bệnh hiện nay. Nhưng theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], do E.
coli có nhiều type kháng nguyên khác nhau nên việc chế vắc xin E. coli gặp
những khó khăn nhất định và việc chế một loại vắc xin E. coli để phòng cho
lợn ở nhiều địa phương đem lại hiệu quả phòng bệnh không cao.
* Phòng bệnh bằng biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý
Bệnh PTLC chịu ảnh hưởng rất lớn của ngoại cảnh, điều kiện nuôi
dưỡng, chăm sóc, quản lý vì vậy việc cải thiện tình hình chăn nuôi sẽ góp
phần không nhỏ trong việc phòng bệnh.
Có một trong số tác giả cho rằng việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín
ấm vào mùa đông, xuân đồng thời khô ráo, chống ẩm ướt sẽ phòng bệnh hiệu
quả cao.
Cần chăm sóc cho lợn mẹ đầy đủ chất dinh dưỡng, tiêm phòng đầy đủ
đảm bảo cho con sinh ra khỏe mạnh, sức đề kháng cao. Cần chú ý cho lợn con
tập ăn sớm, có bổ sung đầy đủ các loại khoáng vi lượng... để lợn thích nghi
dần với điều kiện mới.
2.1.2.5. Điều trị bệnh
* Điều trị bằng kháng sinh:
Kháng sinh có vai trò quan trọng thú y. Tuy nhiên trong nhừng năm
gần đây, việc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh PTLC tỏ ra kém hiệu lực do vi
khuẩn E. coli và Salmonella có tỷ lệ kháng thuốc cao (Bùi Thị Tho, 1996)
[31]. Cũng theo tác giả, kháng sinh dùng trong điều trị bệnh cho kết quả rất


khác nhau ở các địa phương khác nhau. Tại một địa phương nếu một loại
kháng sinh nào đó được dùng một thời gian dài thì hiệu lực điều trị sẽ giảm
dần theo thời gian.
Theo kết quả nghiên cứu của Tô Thị Phượng (2006) [21], kháng sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status