NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN CHIÊM XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ - Pdf 47

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

TRẦN THỊ MƯỜI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN CHIÊM
XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Liên thông
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 – 2016


Thái Nguyên - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

TRẦN THỊ MƯỜI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN CHIÊM
XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

ông Nguyễn Văn Chiêm, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt
quá trình thực tập tại trang trại.
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Triệu Văn Thọ chia sẻ kinh
nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời
gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Mười


ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh phân trắng lợn con...............26
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi................................33
Bảng 4.2. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn con và lợn nái của trại lợn...............35
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất.................................................42
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại...............................43
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo dãy chuồng................44
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi............45
Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuần tuổi..........................47
Bảng 4.8. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt...........................49
Bảng 4.9. Triệu chứng, bệnh tích lợn con mắc bệnh phân trắng lợn con........50
Bảng 4.10. Kết quả điều trị phân trắng lợn con..............................................52
Bảng 4.11. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y........................................................53



2.1.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ...............................3
2.1.2. Bệnh phân trắng lợn con...................................................................8
2.1.3. Một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại
trang trại....................................................................................................18
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước...........................................21
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới..................................................21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước....................................................22
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.............................................................25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành............................................................25
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi.......................................25
3.3.1. Nội dung..........................................................................................25
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi........................................................................25
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................26
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm........................................................26
3.4.2. Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin..................................26


v
4.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..............................................................28
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................29
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất........................................................29
4.1.1. Công tác chăn nuôi tại cơ sở...........................................................29
4.1.2. Công tác phòng và trị bệnh............................................................31
4.2. Kết quả nghiên cứu...............................................................................43
4.2.1. Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại....43
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.........................................55
5.1 Kết luận..................................................................................................55
5.2 Đề nghị...................................................................................................55

lợn giống có hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình
hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại
Nguyễn Văn Chiêm xã Đạo Tú huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc và biện
pháp điều trị”


2

1.1. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi.
- Nắm được thực trạng bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày
tuổi tại trại chăn nuôi.
- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có
hiệu quả.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Ý nghĩa khoa học
- Số liệu nghiên cứu là cơ sở bổ sung vào tài liệu tham khảo và nghiên
cứu khoa học của sinh viên ngành Thú y.
- Kết quả của đề tài cung cấp thêm thông tin khoa học về bệnh phân
trắng lợn con. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình phòng – trị bệnh
phân trắng lợn con.
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân
trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

trũng, thích hợp cho trồng lúa, rau và cây thực phẩm. Vùng đồi trung du gồm
các loại đất xám feralít xen kẽ đất cát, phù hợp cho trồng các loại cây ăn quả.
Bình quân diện tích đất nông nghiệp năm 2009 đạt 687 m 2/người, thấp hơn
mức bình quân chung của tỉnh (823 m2/người).
2.1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội
Tập trung phát triển mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn: Xã Đạo Tú có
tổng số hơn 1.000 con bò. Số bò này chủ yếu nuôi rải rác trong các hộ dân,
không nuôi quy mô lớn. Để đảm bảo vốn vay đến đúng đối tượng, sử dụng có
mục đích, sau thời gian một tháng giải ngân, Hội nông dân trực tiếp đi kiểm
tra một lần nữa. Trong trường hợp hộ nào không chấp hành yêu cầu thì sẽ bị
thu hồi vốn.
Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới: Đảng bộ, chính
quyền huyện đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị chọn những giải pháp tuyên
truyền, vận động mang lại hiệu quả cao và phù hợp với đặc điểm của từng địa
phương. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các xã đánh giá đúng thực trạng
địa phương, tìm ra tiềm năng, lợi thế để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
nông dân thông qua việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, quy hoạch mở rộng
cánh đồng rau sạch, mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hàng hóa, nâng giá
trị thu nhập trên diện tích canh tác, phát triển chăn nuôi tiểu thủ công nghiệp.
Cùng với đó, các xã đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân đi xuất khẩu lao
động nước ngoài và lao động tại các công ty, xí nghiệp.
Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, kết hợp với chương
trình lồng ghép, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, sau hơn 3 năm, xã làm điểm
xây dựng nông thôn mới và đã huy động được 272 tỷ đồng xây dựng các công
trình hạ tầng: giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, chỉnh trang nhà ở dân cư. Đến
nay, Đạo Tú đều đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới.


5


chửa (mỗi chuồng có 600 ô), 1 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một
số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng,
phòng pha tinh, kho thuốc...
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8
quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách ly, 2
quạt đối với chuồng đực. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ có
diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm. Trên trần được
lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh.
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy
đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng
liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước
uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 3 và
chuồng nái chửa 1. Nước phục vụ cho các công tác khác như nước tắm,
nước xả gầm... được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống
dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng.
* Tình hình sản xuất của Doanh nghiệp
- Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của Doanh nghiệp là sản xuất con giống và chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm.
Số con sơ sinh là 11,00 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn. Trại hoạt động
vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam.


7



8

sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 –
90 % Đánh giá chung
- Thuận lợi
Trang trại được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện và
được xây dựng ở vị trí thuận lợi: xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt
tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép
kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
- Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh
lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng.
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước
thải của trại còn nhiều khó khăn.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24] so với khối lượng sơ sinh thì sau 10
ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng gấp 4
lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp 7 - 8
lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp 12 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và

triển chậm và chưa hoàn chỉnh, trong khi đó sức sinh trưởng lại có tốc tộ cao.
Dịch tiêu hóa trong dạ dày lợn con khác với lợn trưởng thành.


10

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24] khi còn trong bào thai cơ quan
tiêu hóa đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn bé. Trong thời kỳ bú sữa
cơ quan tiêu hóa phát triển rất nhanh.
Dung tích dạ dày của của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc
sơ sinh khoảng 0,03 lít).
Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20
ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 5 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh
khoảng 0,11 lít).
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung
tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có
quan hệ với khả năng tiêu hóa xenlulose khá cao trong thức ăn bổ xung. Vì vậy,
cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi.
Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày. Giai đoạn
này gọi là thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ thể mới
thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ.
Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin
được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn
nữa là sự cần thiết cho hoạt động sinh lý bình thường. Theo Đào Trọng Đạt và
cs, (1996) [6] thì việc tập ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm cho lợn con đã rút
ngắn giai đoạn thiếu HCl, tăng khả năng tạo miễn dịch cho lợn con. Vì vậy

đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
2.2.1.4. Đặc điểm về hệ miễn dịch
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [7], Lợn con khi mới sinh ra trong
máu hầu như không có kháng thể. Song lượng kháng thể trong máu lợn con
được tăng lên rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu. Cho nên người ta nói


12

rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó phụ thuộc vào
lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa mẹ.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những giờ đầu
sau khi đẻ trong sữa có tới 18 – 19% protein. Trong đó lượng γ globulin
chiếm số lượng rất lớn (34 – 45%) cho nên nó có vai trò miễn dịch ở lợn con.
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [19], Lợn con mới đẻ trong máu không có
γ globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ
sang qua sữa đầu. Lượng γ globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần ở lợn con sau khi
sinh, rồi đến tuần thứ 5 – 6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình là 65
mg/100ml máu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu... được
tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho lợn
con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm
bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con.
Theo Trần Cừ ( 1972) [1], máu thực hiện chức năng sinh lý quan trọng
như: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, duy trì cân bằng nước, điều hoà thân nhiệt,
bảo vệ... máu có chức năng lưu thông nên phản ánh đúng và kịp thời mọi biến
đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể.
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm ( 1995) [10], nhất thiết lợn con
sơ sinh phải được bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh. Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho
lợn con có sức đề kháng. Vì thế cần cho lợn sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu

Tiêu chảy ở lợn còn do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện
ở 2 dạng là bại huyết và thần kinh. Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng
viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn
trước trực tràng phình to.
2.2.2. Bệnh phân trắng lợn con
Bệnh phân trắng lợn con (PTLC) khá phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc
điểm của bệnh là viêm dạ dày - ruột, đi ỉa và gầy sút nhanh.
Theo (Phạm Sỹ Lăng, 1995) [17] thì bệnh được chú ý từ năm 1959 tại
các cơ sở chăn nuôi tập trung.
Bệnh thường sảy ra ở lợn con, đặc biệt là lợn con mới sinh từ 1 – 21
ngày tuổi, tập chung chủ yếu trong 10 ngày đầu, có con mắc sớm ngay sau khi
sinh từ 2 – 3 giờ (Lê Văn Tạo và cs, 2008) [26].
Lợn con mắc bệnh có tỷ lệ chết từ 7 – 10%, nếu không can thiệp kịp
thời thì con vật chết rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao 80 – 90% (Phạm Sỹ Lăng
và cs, 2003) [18]. Trường hợp lợn con bị nhiễm ghép với các vi khuẩn gây


14

bệnh khác như: Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn (Salmonella) lợn con có
thể chết 100% (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2006) [33].
Bệnh PTLC thường xảy ra quanh năm, không theo mùa vụ (Đào Trọng
Đạt và cs, 1996) [6].
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh đã được
khống chế phần nào song việc loại trừ nó ra khỏi chăn nuôi tập trung thì còn
gặp rất nhiều khó khăn không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ
khoa học tiên tiến trên thế giới.
2.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân nội tại
Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa

Trong thời gian mang thai, lợn nái không tiêm phòng vắc xin chống các
bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus... thì lợn con sinh ra dễ mắc
hội chứng tiêu chảy hơn.
Trong thời gian nuôi con gia súc mẹ bị mắc một số bệnh như: Viêm vú,
viêm tử cung, kém sữa... sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường tiêu
hóa lợn con.
Khi nuôi con mà con mẹ động dục trở lại sớm là một nguyên nhân làm
số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra.
* Nguyên nhân ngoại cảnh
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có nhận định bệnh
phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng
loạt yếu tố.
Qua tài liệu của nhiều tác giả có thể chia thành những nguyên nhân sau:
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia
súc. Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của
chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn.
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ
quan chưa ổn định và hoàn thiện. Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng


16

phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy, lợn con là đối
tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng
thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11],
cũng cho rằng các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh,
lợn con vài ngày tuổi. Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng là nhiệt
độ và độ ẩm. Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75 – 85%, việc làm khô và giữ

bộ máy tiêu hoá cũng hoạt động tốt hơn. Mặt khác hoạt động ngoài trời nhờ
có tác dụng của các tia sáng tự nhiên của mặt trời sự tổng hợp vitamin D tiến
hành thuận lợi, xương cốt của lợn con phát triển tốt từ đó làm cho sự phát
triển chung của cơ thể cũng tốt.Thực tế nhiều nơi đã chứng minh sự vận động
và chăn thả có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn bệnh phân trắng lợn con
phát sinh. Ở nhiều nơi đã thấy có những đàn lợn con đang bị ỉa phân trắng
chỉ cần đem thả ra ngoài cho vận động thì bệnh cũng đã giảm đi rõ rệt còn
nếu vừa cho chăn thả vừa dùng thuốc chữa bệnh thì thu được kết quả rất tốt
và nhanh hơn hẳn so với chỉ nhốt trong chuồng rồi đơn thuần chạy chữa.
Nhưng phải đảm bảo môi trường vận động sạch sẽ không có mầm bệnh
truyền nhiễm .
* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột
Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói
chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh.
Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị phá vỡ số lượng vi khuẩn tăng lên, làm thay đổi
tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh xảy ra.
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E. coli) hay còn được gọi là
vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong
đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú). Vi
khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của
khuẩn lạc ruột. Sự có mặt của E. coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường
gặp cho ô nhiễm phân. E. coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và
thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status