ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------
NGUYỄN QUANG DUY
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TỪ 01 ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
VÀ THỬ NGHIỆM HIỆU LỰC ĐIỀU TRỊ CỦA 2 LOẠI THUỐC
NORFLOXACIN VÀ AMPICILIN TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2012 – 2017
Thái Nguyên - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận
của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự
giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Ban lãnh đạo
trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản Ngô Thị Hồng Gấm, Lương Sơn, Hòa
Bình. Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh viên, đội
ngũ kỹ sư, công nhân trong trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người
thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
ThS. Bùi Ngọc Sơn đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành
công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này. Tôi xin cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo
điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Trang trại lợn nái Ngô
Thị Hồng Gấm, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình
thực tập tại trang trại.
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Tạ Văn Lư, anh Nguyễn
Tiến Dũng đã chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi.
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời
gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Quang Duy
Cộng sự
E.coli:
Escherichia coli
KHKT:
Khoa học kỹ thuật
Nxb:
Nhà xuất bản
PTLC
Phân trắng lợn con
STT
Số thứ tự
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. i
DANH MỤC BẢNG .....................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................iii
3.3.1. Nội dung ................................................................................................ 24
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................25
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 25
3.4.2. Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin ........................................ 25
4.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 27
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................................28
4.1.2. Công tác phòng và trị bệnh .................................................................. 30
4.2. Kết quả nghiên cứu đề tài.....................................................................................39
4.2.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng ở đàn lợn con tại trại .......................... 39
4.2.2. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng .................... 40
4.2.3. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi ................. 41
4.2.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo
tuần tuổi ................................................................................................. 42
4.2.5. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt ......................... 45
4.2.6. Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con mắc bệnh phân
trắng lợn con .......................................................................................... 45
4.2.7. Kết quả điều trị phân trắng lợn con....................................................... 47
4.2.8. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y ................................................................ 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................51
5.1 Kết luận ...................................................................................................................51
5.2 Đề nghị....................................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngọc Sơn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng
lợn con từ 01 đến 21 ngày tuổi và thử nghiệm hiệu lực điều trị của 2 loại
thuốc Nor - 100 và Amcolis tại trại Ngô Thị Hồng Gấm Hòa Bình.”
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi.
- Nâng cao được trình độ chuyên môn.
- Nắm được thực trạng bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày
tuổi tại trại chăn nuôi.
- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có
hiệu quả.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Số liệu nghiên cứu là cơ sở bổ sung vào tài liệu tham khảo và nghiên
cứu khoa học của sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y.
- Kết quả của đề tài cung cấp thêm thông tin khoa học về bệnh phân
trắng lợn con. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình phòng trị bệnh
phân trắng lợn con.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân
trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của trang trại
2.1.1.1. Quá trình thành lập
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp
thông thoáng tốt, có tường rào bao quanh chuồng trại. Ở cuối mỗi ô chuồng
đều có hệ thống thoát phân và nước thải. Hệ thống nước sạch được đưa về
từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước
tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày. Trại đã lắp đặt hệ thống nước
máy đảm bảo cung cấp nước sạch cho lớn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại.
* Các công trình khác
Gần khu chuồng, trại cho xây dựng một phòng kĩ thuật, một nhà kho,
một phòng thay đồ, phòng tắm, nhà vệ sinh, nhà ăn trưa riêng cho công nhân.
Phòng kĩ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ thú y như: Panh, dao
mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân,
các loại thuốc thú y đồng thời cũng là phòng trực của cán bộ kĩ thuật.
Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng, là nơi chứa thức ăn phục vụ
cho sản xuất.
Bên cạnh đó trại còn cho xây dựng một giếng khoan, 4 bể chưa nước, 2
máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của công nhân và
đội ngũ cán bộ kĩ thuật trong trại.
2.1.1.4. Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Hiện nay, trại có 1439 đầu nái và 120 hậu bị, trung bình lợn nái của
trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm. Số con sơ sinh là 11,23 con/lứa, số con
5
cai sữa là 10,7 con/lứa, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm
nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các Trại chăn nuôi lợn
giống của Công ty. Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì
Trại hoạt động vào mức khá, tháng 5/2016 kết quả của trại đứng thứ 1 toàn
miền Bắc của công ty.
Ngoài ra trại có 24 con lợn đực Pi-Du 31 (Pietrain-Duroc), các lợn đực
giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra
đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật
viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt
hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại
lớn về số lượng đàn gia súc.
2.1.2. Đánh giá chung
2.1.2.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn
của các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y
huyện Lương Sơn tạo điều kiện cho sự phát triển của trại.
Được Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống,
thức ăn, thuốc thú y có chất lượng tốt.
Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc
vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân
nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó
đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
2.1.2.2. Khó khăn
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ
công việc.
7
Thời tiết diễn biến phức tạp cho nên chưa tạo được vành đai phòng dịch
triệt để.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.
2.2. Cơ sở khoa học
Cơ quan tiêu hoá của lợn con khi còn trong bào thai đã hình thành đầy
đủ nhưng dung tích còn nhỏ. Lợn con 1 ngày tuổi, dạ dày nặng 4 - 5g, có thể
chứa 25 - 40g sữa; ruột non nặng 40 - 50g, dài 3,5 - 4,0m, có thể chứa 100 110g sữa. Lúc 10 ngày tuổi, dạ dày tăng gấp 3 lần (cả khối lượng và thể tích),
20 ngày tuổi nặng gấp 8 lần, dung tích ruột non tăng gấp bội, ruột già cũng
tăng mạnh. Ở 60 ngày tuổi, dạ dày và ruột non tăng gấp 60 lần lúc sơ sinh.
* Đặc điểm tiêu hoá ở dạ dày
Theo Phan Đình Thắm (1995) [6], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong
dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do. Lúc này lượng axit ít và nó nhanh
chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và là một
đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con. Vì thiếu HCl tự do nên
dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày có điều
kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con như bệnh phân trắng,
tiêu chảy.
Cũng do thiếu HCl tự do trong giai đoạn này nên men Pepsin không
hoạt động, khả năng tiêu hoá thuộc về men lipaza và kimuzin. Hai men này
tăng dần từ lúc sơ sinh đến 3 tuần tuổi sau đó giảm dần, bù vào đó là men
pepsin đa có khả năng hoạt động và tiết ra tăng dần. Sức tiêu hoá của dịch vị
tăng dần theo tuổi một cách rõ rệt. Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau,
thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh nhất, dịch vị thu được khi cho ăn thức
ăn hạt chứa HCl nhiều hơn và sức tiêu hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa.
Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút
ngăn được giai đoạn thiếu HCl.
9
* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở ruột
Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ
tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu
hoá được protein của gạo, bột cá…
Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tuỵ phân tiết trong một ngày là
cường độc và có khả năng gây bệnh. Chúng sản sinh ra độc tố (entertoxin)
phá huỷ tổ chức thành ruột là thay đổi cân bằng quá trình trao đổi nước, điện
giải nước không được hấp thụ từ ruột vào và bị rút ra từ cơ thể và ruột dẫn
đến gây tiêu chảy.
- Nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh chuồng
trại kém, bầu vú lợn bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không hợp vệ sinh,
E.coli xâm nhập theo đường miệng và cơ thể. Ngoài ra do trong dịch vị thiếu
HCL tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa.
- Lợn con không được bú sữa đều, dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng
khả năng cảm nhiễm bệnh; thời tiết nóng, lạnh đột ngột, ẩm độ môi trường
cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh lợn con phân trắng.
- Theo Sử An Ninh (1993) [5], lợn con khi còn ở trong bụng mẹ thì
được bảo vệ rất tốt, nhưng khi mới đẻ ra đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tốt bên ngoài đặc biệt là thời tiết như nóng, lạnh, mưa, ẩm ướt... kinh
nghiệm thực tế chứng minh rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể là yếu tố
nóng lạnh, khô ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với yêu cầu sinh lý
của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh lợn con ỉa phân trắng.
Khi thời tiết thay đổi đột ngột trời đang nắng ấm đột nhiên chuyển sang mưa
lạnh thì lợn con do các phản ứng thích nghi có tính bảo vệ còn kém nên lợn dễ
bị cảm lạnh từ đó sinh rối loạn tiêu hoá mà sinh bệnh phân trắng. Trong yếu
tố về thời tiết thì nhiệt độ và ẩm độ chiếm vị trí quan trọng hơn hết. Ẩm độ
11
thích hợp cho lợn con là khoảng 75-85% khi ẩm độ lớn hơn 85% thì tỉ lệ mắc
bệnh phân trắng ở lợn con bao giờ cũng nhiều hơn các tháng hanh khô ít mưa.
- Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [11] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết
cho sinh trưởng và khả năng chống đỡ bệnh tật. Ở động vật 1/2 lượng sắt
trong cơ thể ở hemoglobin một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzyme.
Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về
và pH 7,4. Trong nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng
xuống đáy mầu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt. Canh trùng mùi
hôi thối. Trên mặt thạch ở 370C trong 24 giờ hình thành những khuẩn lạ hình
tròn ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi đường kính 2-3mm.
Trên môi trường gelatin, vi khuẩn mọc tròn vết cấy mặt ống tạo thành
một lớp bụi xám. Trên môi trường E.M.B.E chúng hình thành những khuẩn
lạc mầu tím đen, trên môi trường Endo, E.coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ.
* Đặc điểm sinh hoá
- Trực khuẩn E.coli biểu hiện các đặc tính sinh hoá rõ rệt, chúng lên
men và sinh hơi đường glucoza, glactoza, matoza, lactoza, fluctoza. Có thể
lên men hoặc không lên men các đường dextrin, amidin, glycogen…
Trực khuẩn E.coli làm đông vón sữa sau 24 - 27h, ở 370C không làm
tan chảy gelatin. Thường sinh Indo không sản sinh H2S, không làm tan chảy
huyết thanh đông, lòng trắng đông.
Phản ứng M.R dương tính, V.P âm tính hoàn nguyên nitrat thành nitrit.
* Sức đề kháng
Trực khuẩn E.coli chịu nhiệt kém, chúng bị tiêu diệt ở 600C trong vòng
15 phút, 1000C trực khuẩn chết nhanh chóng. Trong đất và nước E.coli sống
được vài tháng, các chất sát trùng thông thường như: hocmon 11%, Crezit
5%, nước vôi 20% có thể diệt E.coli trong vòng 15-20 phút.
Sức sống của E.coli bị giảm xuống đáng kể khi độ ẩm trong chuồng hạ
xuống 30%. Chúng đề kháng với sự sấy khô.
13
E.coli rất mẫn cảm với nhiều kháng sinh như: Nitrofuratcin, neomicin,
streptomycin, ampocilin, gentamicin.
* Cấu trúc kháng nguyên
Trong cơ thể lợn con thường có mặt 3 loại E.coli gây bệnh đó là loại
sinh độc tố hướng ruột (ETEC), loại gây bệnh được ruột (EPEC) và loại sinh
ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố. Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh
và gây ra hoại tử. Hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà
chỉ có thể phát hiện canh trùng của những chủng mới thành lập được. Khả
năng tạo độc tố sẽ mất đi khi có chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển
nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng.
* Độc tính gây bệnh của E.coli
- Bệnh phân trắng lợn con thường xuất hiện trong thời gian độ ẩm cao.
- Chuồng trại ẩm ướt, sân chơi chật chội cũng tạo điều kiện cho bệnh
phát triển, ngoài ra thành phần sữa nhiều chất khô, mỡ khó tiêu từ đó vi khuẩn
E.coli có tác dụng phân huỷ sữa thành axit gây viêm cho dạ dày và thành ruột.
- Do thời tiết khí hậu, chuồng nuôi chế độ ăn uống, vệ sinh chuồng
trại... cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh.
- Lợn con chủ yếu khi ăn uống bị nhiễm mầm bệnh E.coli do trữ lượng
sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ khi sinh ra có đủ sữa mẹ cung cấp nhu cầu
sữa cho lợn con, nên có thể suy yếu không thể hấp thu đầy đủ chất dinh
dưỡng và tiêu hoá kém dẫn đến ỉa chảy.
- Vi khuẩn E.coli thường làm đông sữa 24 -37 giờ ở 30C không làm tan
Gelatin, thường sinh ra Indol không sản sinh H2S.
2.2.5. Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con
* Quá trình sinh dịch
Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh
đến 21 ngày tuổi. Có con mắc ngay sau khi sinh 2 – 3h và một số con mắc
muộn hơn khi đã 4 tuần tuổi.
15
Vi khuẩn tập trung chủ yếu ở ruột già nên phân gia súc là nguồn gây
bệnh lớn, đặc biệt là gia súc mắc bệnh. Chúng cũng tồn tại trong đất, nước,
chất thải và chất độn chuồng.
Bệnh do E.coli xảy ra ở hầu hết các đàn lợn trong vụ đẻ, nguồn thải
những chủng E.coli cường độc gây bệnh cho lợn con.
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi. Lợn con mắc
bệnh có biểu hiện: chậm chạp, bú ít hoặc bỏ bú ( khi bị nặng và kéo dài), thân
nhiệt thường hạ sau vài giờ đến một ngày. Lợn đi ỉa nhiều lần trong ngày,
phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám hoặc hơi vàng, cá biệt có con đi lẫn
máu, mùi tanh khắm. Lợn con bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, đi đứng
xiêu vẹo, phân dính bê bết xung quanh hậu môn và khoeo chân.
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [10], nhu động ruột của lợn ở thời kì
đầu của bệnh giảm yếu, thời kỳ sau lại tăng. Nhiệt độ 39,5-40,50C, buổi chiều
thường cao hơn buổi sáng 1-20C. Đi ỉa chảy một ngày 15-20 lần, con vật rặn
nhiều lưng uốn cong, bụng thót lại, thể trạng đờ đẫn, có khi bú chút ít có khi
không bú hoàn toàn, nằm nhiều hơn đi lại. Các niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt
nhạt vì thiếu máu và mất nước quá nhiều, chân lạnh. Con vật chết trong tình
trạng co giật bởi nhiễm độc. Dù bệnh khỏi, sau khi cai sữa nuôi rất chậm lớn,
khi bệnh nặng con vật mệt lử bỏ bú hoàn toàn, chân và toàn thân run rẩy, đi
lại không được, nằm một chỗ, đặc biệt là hai chân sau liệt, mắt sâu lõm, khô,
khát nước nhiều, thở dốc mạch nhanh, phản xạ các bắp thịt gân yếu, không
điều trị kịp thời con vật chết trong 3-6 ngày trước khi chết nhiệt độ hạ xuống
chỉ còn 35-36,50C. Sau giai đoạn bệnh dữ dội nếu được điều trị kịp thời bệnh
sẽ chuyển sang giai đoạn lành bệnh. Lúc này phân chuyển từ màu trắng hoặc
trắng xám đen, phân đặc dần thành khuôn như phân của lợn khoẻ.
* Bệnh tích
17
Lợn con chết do bệnh phân trắng tiến hành mổ khám thấy: bệnh tích
chủ yếu tập trung ở xoang bụng, niêm mạc nhợt nhạt, dạ dày chứa đầy hơi và
sữa chưa tiêu hoá, niêm mạc dạ dày phủ một lớp dịch nhầy, đường cong lớn
xuất huyết. Ruột non bị viêm cata kèm theo xuất huyết, chất chứa trong ruột
Quinolone
(flumequin,
norfloxacin,
enrofloxacin,
ciprofloxacin,
difloxacin, marbofloxacin, ofloxacin...) là nhóm kháng sinh nhân tạo
gồm những dẫn xuất của quinolein. Quinolone đầu tiên (axit nalidixic)
có phổ kháng khuẩn hẹp (tác dụng trên vi khuẩn gram âm), được sử dụng vào
những năm 1960. Quinolone được fluor hóa gọi là fluoroquinolone đã được
đưa vào sử dụng trong lâm sàng vào những năm 1970. Fluoroquinolone có
phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng trên cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương.
Kháng sinh nhóm này phân bố đồng đều cả trong dịch nội và ngoại bào,
phân bố hầu hết các cơ quan: phổi, gan, mật, xương, tiền liệt tuyến, tử
cung, dịch não tủy... và qua được hàng rào nhau thai. Fluoroquinolone bài
thải chủ yếu qua đường tiết niệu ở dạng còn nguyên hoạt chất và tái hấp thu
thụ động ở thận.
Trong các cơ chế tác động của kháng sinh lên vi khuẩn thì cơ chế tác
động của fluoroquinolone là ức chế tổng hợp axit nucleic. Sự nhân đôi DNA
bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để
gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bổ sung.
Enzyme DNA polymerase xúc tác sự tổng hợp các liên kết giữa các
nucleotid; enzyme DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo
thành các vòng xoắn. Quinolone (axit nalidixic và các fluoroquinolone) ức
chế mạnh sự tổng hợp DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế
enzyme DNA gyrase. Cơ chế tác động này hiệu quả trên cả vi khuẩn