ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------
ĐẶNG NGỌC DƢƠNG
Tên chuyên đề :
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1
ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN ĐÀO TRỌNG TÂM XÃ ĐẠI HƯNG
HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2013 – 2017
Thái Nguyên - năm 2017
2013 – 2017
Giảng viên HD:
TS. Trần Thị Hoan
Thái Nguyên - năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận
của mình, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự
giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và chủ trang trại
chăn nuôi lợn nái sinh sản Đào Trọng Tâm tại xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức,
Hà Nội. Em cũng nhận được sự chỉ bảo nhiệt tình của kỹ sư, công nhân trong
trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS.
Trần Thị Hoan đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công
khóa luận này.
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ
nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều
kiện, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới trang trại lợn nái Đào
Trọng Tâm, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực
tập tại trang trại.
Em xin cảm ơn anh Lê Trung Thành kỹ thuật trại đã chia sẻ kinh
nghiệm nghề nghiệp quý báu cho em.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới người thân, gia
Cs:
Cộng sự
E.coli:
Escherichia coli
KHKT:
Khoa học kỹ thuật
Nxb:
Nhà xuất bản
PTLC:
Phân trắng lợn con
STT:
Số thứ tự
Kg:
Kilogam
TT:
2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ ............................ 6
2.2.2. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hoá ở lợn con. .............................. 7
2.2.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt ........................................................ 9
2.2.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch .......................................................... 10
2.2.5. Một số hiểu biết về E.coli ..................................................................... 11
2.2.6. Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis) ............................................. 14
2.2.7. Thuốc dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trang trại ......... 19
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ..................................... 19
2.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 19
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20
v
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH21
3.1. Đối tượng và phạm vi tiến hành ............................................................... 21
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 21
3.3. Nội dung tiến hành ................................................................................... 21
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ...................................................... 21
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 21
3.4.2. Phương pháp theo dõi ........................................................................... 21
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................ 24
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất........................................................... 24
4.1.1. Công tác chăn nuôi tại cơ sở ................................................................. 24
4.1.2. Công tác phòng và trị bệnh ................................................................... 27
4.2. Kết quả nghiên cứu đề tài......................................................................... 36
4.2.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng ở đàn lợn con tại trại .......................... 36
4.2.2. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo dãy chuồng .................... 37
4.2.3. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng theo dõi .......... 38
4.2.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuần tuổi ..... 39
Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Lợn con mắc bệnh này sẽ bị ỉa
chảy, bệnh do vi khuân Escherichia coli gây nên, khi lợn con mắc bệnh nếu
điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hưởng đến chất
lượng con giống, khả năng sinh trưởng, phát triển chậm, gây tổn thất kinh tế
lớn cho người chăn nuôi. Do đó ngoài yếu tố dinh dưỡng, chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng thì công tác thú y là khâu rất quan trọng. Việc phòng và điều trị
2
bệnh phân trắng cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh
sản và đảm bảo cho sự tăng trưởng trong cơ cấu đàn.
Mặc dù, đã được quan tâm chăm sóc rất tốt, song do ảnh hưởng của
thời tiết và một phần công tác thú y chưa mang lại hiệu quả, nên bệnh phân
trắng ở lợn con vẫn xảy ra thường xuyên và gây hậu quả nghiêm trọng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự hướng dẫn của giáo viên hướng
dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Theo dõi tình hình mắc bệnh phân
trắng lợn con từ 01 đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Đào Trọng Tâm xã Đại
Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội và biện pháp điều trị.”
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi.
- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh phân trắng lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi
tại trại lợn Đào Trọng Tâm xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh phân trắng lợn con từ 1 21 ngày tuổi.
3
đều có hệ thống thoát phân và nước thải. Hệ thống nước sạch được đưa về
từng ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn, nước
tắm cho lợn và nước rửa chuồng hàng ngày. Trại đã lắp đặt hệ thống nước
máy đảm bảo cung cấp nước sạch cho lợn uống, tắm và vệ sinh chuồng trại.
* Các công trình khác
Gần khu chuồng trại cho xây dựng một phòng kĩ thuật, một nhà kho,
một phòng thay đồ, phòng tắm, nhà vệ sinh, nhà ăn riêng.
Phòng kỹ thuật được trang bị đầy đủ các dụng cụ thú y như: Panh, dao
mổ, bơm tiêm, kìm bấm số tai, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, cân,
các loại thuốc thú y và máy soi tinh, đóng tinh.
Nhà kho được xây dựng gần khu chuồng, là nơi chứa cám cho lợn.
Bên cạnh đó trại còn cho xây dựng một giếng khoan, 2 bể chứa nước, 4
máy bơm nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của công nhân và
cán bộ kĩ thuật trại.
2.1.1.4. Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Hiện nay, trại có 60 nái sinh sản và 5 nái hậu bị. Số con sơ sinh là
10,23 con/lứa, số con cai sữa là 10,7 con/lứa, lợn con theo mẹ được nuôi đến
21 ngày tuổi, chậm nhất là 28 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang
chuồng thịt tại nhà hoặc bán cho các trại khác.
Ngoài ra trại có 3 con lợn đực Duroc 100 và 1 con lợn đực Landrace,
các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn
nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Lợn nái được phối 4 lần và được
luân chuyển đến khu chăm sóc nuôi dưỡng riêng.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,
được Công ty TNHH Hưng Phát cấp cho từng đối tượng lợn của trại.
5
6
2.1.2. Đánh giá chung
2.1.2.1. Thuận lợi
Trại được Công ty TNHH Hưng Phát cung cấp về con giống, thức ăn
và Công ty Cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet cung cấp về thuốc thú
y có chất lượng tốt.
Trang trại có vị trí thuận lợi, địa hình, đường đi khá thuận tiện cho việc
vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Kèm theo đó là kỹ thuật viên với chuyên môn vững vàng, năng động và
có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó đã mang lại hiệu quả
chăn nuôi cao cho trang trại.
2.1.2.2. Khó khăn
Thời tiết diễn biến phức tạp cho nên chưa tạo được vành đai phòng dịch
triệt để.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn chưa đáp ứng được đầy đủ
hết nhu cầu sản xuất.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ
ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau. Sau sơ sinh, lợn con sinh trưởng và
phát dục nhanh. Qua nghiên cứu thí nghiệm và thực tế sản xuất, người ta nhận
thấy rằng, so với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi, khối lượng lợn con
tăng gấp 2 lần, sau 20 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 5 6 lần, sau 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, sau 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và
sau 60 ngày tăng gấp 12 - 14 lần. So với các gia súc khác, trong giai đoạn này,
tốc độ sinh trưởng của lợn con nhanh hơn (sau 60 ngày tuổi, khối lượng bê
nghé chỉ tăng gấp 3 - 4 lần).
8
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh,
lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già
lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít).
* Đặc điểm tiêu hoá ở dạ dày
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001)[4], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì
trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do. Lúc này lượng axit ít và nó
nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và
là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con. Vì thiếu HCl tự
do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày
có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con như bệnh phân
trắng, tiêu chảy.
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009)[3], cho rằng: “Nếu nuôi lợn trong
điều kiện bình thường thì phải sau 25 - 30 ngày sau đẻ mới có HCl tự do. Nếu
tiến hành cho lợn con tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi bằng thức ăn hạt thì đến
ngày thứ 14 đã thấy có HCl ở dạng tự do”.
Mặt khác, do sản lượng sữa mẹ tăng dần đến 3 tuần sau đẻ, sau đó giảm
đi cả về số lượng và chất lượng. Nhưng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày
càng cao do tốc độ sinh trưởng nhanh. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh
dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ. Đây là cơ sở cho
việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được
giai đoạn thiếu HCl.
* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở ruột
Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ
tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu
hoá được protein của gạo, bột cá…
Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tuỵ phân tiết trong một ngày là
này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn sẽ bị lạnh. Đây là điều kiện thuận
lợi để dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hóa.
10
2.2.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009)[3], lợn con khi mới sinh ra trong máu
hầu như không có kháng thể. Song lượng kháng thể trong máu lợn con tăng
lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả năng
miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, nó phụ thuộc vào lượng kháng
thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những ngày
đầu mới đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó lượng γ-globulin
chiếm số lượng rất lớn (34 – 35%), có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa
đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con.
Lợn con hấp thu γ-globulin bằng con đường ẩm bảo. Quá trình hấp thu
nguyên vẹn phân tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian. Phân tử γglobulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt trong 24h đầu
sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của
men trypin tuyến tụy và nhờ vào khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của
lợn con khá rộng. Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γglobulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng
kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột
của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thụ γ-globulin kém hơn, hàm lượng γglobulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng
24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg
γ-globulin trong 100ml máu). Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm
càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có
khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó những lợn con không được bú sữa đầu
thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
12
* Sức kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn E.coli chịu nhiệt kém, chúng bị tiêu diệt ở 600C trong vòng
30 phút, 1000C trực khuẩn chết nhanh chóng. Trong đất và nước E.coli sống
được vài tháng, các chất sát trùng thông thường như: hocmon 11%, Crezit
5%, nước vôi 20% có thể diệt E.coli trong vòng 15 - 20 phút.
Sức sống của E.coli bị giảm xuống đáng kể khi độ ẩm trong chuồng hạ
xuống 30%.
E.coli rất mẫn cảm với nhiều kháng sinh như: Streptomycin, ampocilin,
gentamicin…
* Cấu trúc kháng nguyên
Trong cơ thể lợn con thường có mặt 3 loại E.coli gây bệnh đó là loại
sinh độc tố hướng ruột (ETEC), loại gây bệnh đường ruột (EPEC) và loại sinh
độc tố mạch máu. Với ba loại kháng nguyên gây bệnh là: O, H và K.
Kháng nguyên O còn gọi là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun sôi
ở 1000C trong vòng 90 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, giữ được khả
năng liên kết và kết hợp.
Kháng nguyên H còn gọi là kháng nguyên lông là loại kháng nguyên có
trên lông vi khuẩn, có tính chịu nhiệt cao hơn các kháng nguyên khác.
Kháng nguyên K hay kháng nguyên bề mặt, kháng nguyên này có 3
loại được ký hiệu L, B và A.
+ Kháng nguyên L không chịu nhiệt, bị phá huỷ khi đun sôi ở 1000C
trong một giờ. Trong điều kiện đó kháng nguyên mất khả năng liên kết, kết
tủa và không giữ được tính kháng nguyên.
+ Kháng nguyên B bị phá huỷ ở nhiệt độ 1000C trong vào 1 giờ. Khi
đó, kháng nguyên trị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng
liên kết và kết tủa.
Gelatin, thường sinh ra Indol không sản sinh H2S.
14
2.2.6. Bệnh phân trắng lợn con (Colibacillosis)
* Quá trình sinh bệnh
Đây là bệnh rất phổ biến ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn mới sinh từ
1 đến 21 ngày tuổi, tập trung chủ yếu trong 10 ngày đầu. Có con mắc ngay
sau khi sinh 2 - 3 giờ.
Vi khuẩn tập trung chủ yếu ở ruột già nên phân gia súc là nguồn gây
bệnh lớn, đặc biệt là gia súc mắc bệnh. Chúng cũng tồn tại trong đất, nước,
chất thải và chất độn chuồng.
Bệnh do E.coli xảy ra ở hầu hết các đàn lợn trong vụ đẻ, nguồn thải
bệnh nhiều nhất là nái chờ phối (96,6%), ít nhất là nái chửa kỳ hai. Trong
trường hợp này, lợn con bị nhiễm E.coli ngay sau khi sinh, lợn bệnh sau khi
khỏi sẽ trở thành vật mang trùng.
Bệnh lợn con phân trắng là một bệnh xảy ra quanh năm, không theo
mùa vụ (Bùi Thị Ngọc Điệp, 2012)[2].
Lợn con mắc bệnh có tỷ lệ chết từ 7 - 10%, nếu không can thiệp kịp
thời thì con vật chết rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao 80 - 90% (Phạm Sỹ Lăng
và cs, 2003)[7].
Thời gian nào độ ẩm càng cao bệnh phát triển càng mạnh. Tỷ lệ mắc
bệnh ở vùng trung du và vùng núi ít hơn, thời gian mắc bệnh cũng ngắn hơn
vùng đồng bằng. Nền chuồng bằng đất và sân chơi rộng hạn chế sự phát triển
của bệnh.
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006)[11], cơ chế sinh bệnh: đầu tiên dạ dày
giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả
năng tiêu hóa protein. Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều
kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất
các bệnh như: dịch tả, phó thương hàn, Parvovirus… thì lợn con sinh ra dễ
mắc hội chứng tiêu chảy hơn.
Trong thời gian nuôi con, lợn mẹ bị mắc một số bệnh như: viêm vú,
viêm tử cung, kém sữa… thì sau khi sinh sẽ lây nhiễm vi khuẩn vào đường
16
tiêu hóa lợn con. Hoặc lợn mẹ động dục trở lại sớm sẽ là một nguyên nhân
làm số lượng và chất lượng sữa giảm vì thế bệnh sẽ dễ xảy ra.
- Nguyên nhân ngoại cảnh
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia
súc. Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của
chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn.
Đặc biệt là lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ
cơ quan chưa ổn định và hoàn thiện. Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng
phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy, lợn con là đối
tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng
thích ngi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể
là yếu tố nóng, lạnh, khô, ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với
nhu cầu sinh lý của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh phân
trắng lợn con.
- Do chăm sóc, quản lý
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt cũng ảnh
hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như: lợn con không được bú sữa đầu,
cắt rốn, bấm nanh không đúng kỹ thuật, úm lợn con không đảm bảo nhiệt
độ,bổ sung sắt không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật cũng dẫn
đến tiêu chảy.
* Triệu chứng lâm sàng
hạch lâm ba ruột tụ huyết. Các cơ quan khác như phổi, gan, thận ít biến đổi.
Theo dõi trên đàn lợn thực nghiệm quan sát được: lợn chết ở thể cấp
tính và mãn tính là chủ yếu, khi mổ khám thấy bệnh tích tập trung chủ yếu ở
xoang bụng, dạ dày tích thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí. Niêm mạc
dạ dày lác đác có đám sung huyết, sưng, dễ bong tróc, có nốt loét. Niêm mạc
ruột non sưng dày có nhiều đám xuất huyết. Hạch lâm ba sưng, mềm, có hoại
tử, túi mật căng, tim to, cơ tim nhão.
18
* Phòng bệnh
- Bệnh phân trắng lợn con là bệnh hay gặp ở lợn con sơ sinh đến 30 ngày
tuổi, để hạn chế bệnh phát ra ta cần chú ý một số biện pháp phòng bệnh sau:
- Tiêm phòng vaccine E.coli cho lợn mẹ, miễn dịch sẽ di truyền từ cơ
thể mẹ đến lợn con qua sữa. Với liều dùng tiêm dưới da 2ml cho lợn mẹ đang
kì mang thai.
- Nhỏ kháng thể E.coli cho lợn con sau sinh với liều lượng 2ml/con.
- Giữ chuồng trại luôn khô, sạch, ấm. Ta cần làm ổ úm ấm và có rơm rạ
hoặc đệm để lót chuồng, không cho lợn mẹ ăn trong chuồng, giữ nền chuồng
khô sạch, không nên rửa chuồng trại vào những ngày mưa khi không cần thiết.
- Nuôi dưỡng tốt lợn nái mẹ trong thời gian cho con bú, bổ sung thêm
khoáng đa vi lượng và các vitamin cần thiết, tránh thay đổi thức ăn đột ngột.
* Điều trị bệnh
- Điều trị bằng kháng sinh
Kháng sinh có vai trò quan trọng trong thú y. Tuy nhiên trong những
năm gần đây, việc sử dụng kháng sinh điều trị bệnh PTLC có biểu hiện kém
hiệu lực do vi khuẩn E.coli và Salmonella có tỷ lệ kháng thuốc cao (Đặng Bá
Khanh, 2012)[5].
Cũng theo tác giả, kháng sinh dùng trong điều trị bệnh cho kết quả rất