ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------
LÂM THỊ SÁU
Tên chuyên đề:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
TẠI TRẠI LỢN BÌNH MINH, XÃ PHÙ LƢU TẾ, HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn Nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi thú y
Khóa học:
2013 - 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Giảng viên hƣớng dẫn:
TS. Trần Văn Thăng
Thái Nguyên - năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Đƣợc sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hƣớng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Công
ty cổ phần Bình Minh, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Tình hình mắc
bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại lợn bình minh, xã Phù Lưu
Tế, huyện Mỹ Đức, Thành Phố Hà Nội và phác đồ điều trị”.
Qua 6 tháng thực tập tại cơ sở cũng nhƣ trong suốt thời gian học tập tại
trƣờng, nhờ sự giúp đỡ của giảng viên hƣớng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân,
em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Lời đầu tiên, em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban
Giám hiệu Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y, tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dạy dỗ và dìu
dắt em trong suốt thời gian học tập tại trƣờng.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với Thầy giáo TS. Trần
Văn Thăng, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
tập tại cơ sở và trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Nhân dịp này, em xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bác Nguyễn Sỹ
Bình - Giám đốc Công ty cổ phần Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội, cùng toàn
thể gia đình và toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty đã tạo điều kiện và
giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty.
Cp
Cổ phần
Cs:
Cộng sự
Nxb:
Nhà xuất bản
P:
Trọng lƣợng
STT:
Số thứ tự
TT:
Thể trọng
iv
MỤC LỤC
Trang
v
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .....................................................................37
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất .................................................................37
4.1.1. Công tác chăm sóc nuôi dƣỡng....................................................................37
4.1.2. Công tác vệ sinh thú y ..................................................................................39
4.1.3. Công tác thú y................................................................................................41
4.1.4. Các công tác khác .......................................................................................48
4.2. Kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu .......................................................49
4.2.1. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ......................................49
4.2.2. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi .....52
4.2.3. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ điều trị........................53
4.2.4. Ảnh hƣởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng động dục trở lại
và phối giống sau cai sữa lợn con ....................................................................54
4.2.5. Sơ bô ̣ hoa ̣ch toán chi phí điề u tri ̣bê ̣nh viêm tƣ̉ cung
................................56
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..........................................................................59
5.1. Kết luận .............................................................................................................59
5.2. Đề nghị ..............................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ
nái mở ra, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập. Các vi khuẩn
này sẽ đào thải dần qua hai cơ chế đó là sự co bóp của tử cung và sự đấu tranh
của hệ miễn dịch (Jana và cs, 2010) [37]. Tuy nhiên, nếu quá trình hồi phục
của tử cung bị ảnh hƣởng và sự đáp ứng không đầy đủ của hệ miễn dịch giúp
cho vi khuẩn trong tử cung lợn nái tăng sinh mạnh mẽ và gây ra viêm tử cung
(Mateus và cs, 2003) [40]. Tỷ lệ lợn nái bị viêm tử cung sau đẻ ở khu vực
Đồng bằng sông Hồng vào khoảng 23,65% (Nguyễn Văn Thanh, 2003) [24].
Tại Tiên du Bắc Ninh, tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái đƣợc công bố lên
tới 39,54% (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [27].
Để thấy đƣợc thực trạng tình hình mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn
nái sinh sản và tìm ra phƣơng pháp điều trị hiệu quả nhất, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại
tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
và phác đồ điều trị”.
1.2. Mục đích của chuyên đề
- Xác định đƣợc tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn
Bình Minh, xã Phù Lƣu Tế, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Xác định đƣợc hiệu lực của hai phác đồ trong điều trị bệnh viêm tử
cung của lợn nái.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Xã Phù Lƣu Tế nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội,
cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam. Phù Lƣu Tế là xã nằm ở phía
2.1.1.4. Điều kiện giao thông
Giao thông ở đây khá phát triển và thuận tiện cho việc đi lại, giao lƣu
của ngƣời dân địa phƣơng. Hầu hết các tuyến đƣờng đã đƣợc rải nhựa hoặc
rải cấp phối. Ở các thôn còn xây dựng các tuyến đƣờng tự quản. Hiện nay, xã
đang nâng cấp tuyến đƣờng 430, đoạn đƣờng chạy ra trục 21B đi Hà Nam.
2.1.1.5.Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm
trên địa phận xã Phù Lƣu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Trại đƣợc
thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam
(Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phƣơng thức
chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, Công ty đƣa tới giống lợn,
thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ
Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu
trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.
- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho
công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động
khác của trang trại.
- Trong khu chăn nuôi đƣợc quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống
chuồng trại cho 1.200 nái bao gồm các hạng mục công trình nhƣ: 6 chuồng đẻ,
5
mỗi chuồng có 56 ô, kích thƣớc 2,4 m × 1,6 m/ô; 2 chuồng bầu, mỗi chuồng
có 560 ô, kích thƣớc 2,4 m × 0,65 m/ô; 3 chuồng cách ly; 1 chuồng đực giống
và một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi nhƣ: kho thức ăn,
phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng trại đƣợc xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu
chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các
chuồng đẻ; có 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, 2 quạt đối với chuồng
bộ khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất đƣợc 2,45 - 2,50 lứa/năm.
Số con sơ sinh là 11,23 con/ổ, số con cai sữa 10,7 con/ổ. Trại hoạt động vào
mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam.
Tại trại, lợn con theo mẹ đƣợc nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26
ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của Công ty.
Trong trại có 23 con lợn đực giống đƣợc chuyển về cùng một đợt, các
lợn đực giống này đƣợc nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn đƣợc khai thác từ hai giống
lợn Landrace và Yorkshire. Lợn nái khi động dục đƣợc phối giống 3 lần, cách
nhau 6 giờ và đƣợc luân chuyển đực giống để tránh giao phối cận huyết.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lƣợng cao,
do Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tƣợng lợn của trại.
b. Công tác thú y
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về
mùa Hè, ấm áp về mùa Đông. Hàng ngày, luôn có công nhân quét dọn vệ sinh
chuồng trại, thu gom phân, nƣớc tiểu, khơi thông cống rãnh, đƣờng đi trong
trại đƣợc quét dọn và rắc vôi theo quy định.
Công nhân, kỹ sƣ, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều
phải sát trùng, tắm bằng nƣớc sạch trƣớc khi thay quần áo bảo hộ lao động để
đảm bảo tuyệt đối vô trùng trƣớc khi vào chuồng trại chăn nuôi.
7
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, để đảm bảo an toàn
và tránh lây lan mầm bệnh, công nhân chăn nuôi nên hạn chế đi lại giữa các
chuồng; hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều đƣợc rắc vôi
bột; các phƣơng tiện nhƣ ô tô, xe máy muốn vào trong trang trại đều phải
đƣợc sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào.
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng
6
7
8
9
10
11
1137
1158
1161
1161
1153
1124
146
152
174
121
145
146
18
18
19
18
18
18
2
3
2
2
3
Lợn đực giống
21
24
3
Lợn nái nuôi con
1150
1163
4
Tổng đàn
1231
1346
2.2. Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục và đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái
2.2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và
cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống. Cấu tạo
gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ
Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là
ống thải các chất dịch từ trong tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm.
* Tử cung (uterus)
Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung.
Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn,
không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lƣợc với nhau
do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai
(Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chƣơng, 2002) [16].
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [7], thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm.
Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa
sừng tử cung và cổ tử cung. Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp
nhăn nheo theo chiều dọc.
10
* Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng. Chức năng
của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngƣợc nhau.
Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn
trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng
mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng. Trứng đƣợc vận
chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh
và phân chia của phôi. Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng
từ 3 - 10 ngày.
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm,
đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng.
* Buồng trứng
Buồng trứng lợn dài 1,5 - 2,5 cm, khối lƣợng khoảng 3 - 5 g (Đặng
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do
trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.
Một chu kỳ động dục đƣợc tính từ lần thải trứng trƣớc đến lần thải
trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác
nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày, biến động
trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn
không động dục lại. Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động
dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày.
c. Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên
nhƣ thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa
sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hƣởng đến số con cai sữa/ nái/ năm.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao
động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi.
12
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời
gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con. Nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có
kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dƣỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho
lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/ nái/ năm.
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21
ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày lợn mẹ đƣợc phối giống lại. Nhƣ vậy khoảng cách
các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất đƣợc 2,5 lứa.
d. Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
* Sinh lý mang thai
một trong các yếu tố dễ gây sảy thai ở thời điểm này.
Điều tiết thể dịch: Có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết. Progesterone
là hormone an thai, duy trì quá trình mang thai, đƣợc sản sinh ở thể vàng và
nhau thai. Ở lợn progesterone chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau
thai là chủ yếu (Trần Tiến Dũng, 2004) [8].
+ Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai
- Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai:
Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ
năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác. Vì vậy hiện tƣợng ăn uống,
trạng thái dinh dƣỡng, quá trình trao đổi chất,. . . của con mẹ đƣợc nâng
cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thƣờng béo hơn khi chƣa có thai.
Trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng 15 - 25 kg (không kể các sản phẩm
thai, trong đó khoảng 3 - 4 kg là protein). Nói chung trong thời gian có
chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 - 1,3 lần so với trƣớc khi phối giống.
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], trƣờng hợp thiếu canxi và photpho
nghiêm trọng thì gia súc mẹ bị bại liệt trƣớc khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch
hay biến dạng, dẫn đến hiện tƣợng đẻ khó. Canxi và photpho là 2 nguyên tố
không thể thiếu đƣợc với gia súc có thai. Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là
0,5% so với khối lƣợng vật chất khô khẩu phần.
14
Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay
đổi nên ảnh hƣởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp. Nhu cầu
cung cấp ôxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số
hô hấp của mẹ tăng lên và có khi có biểu hiện trạng thái thở dốc. Dƣới tác
dụng chèn ép cơ học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang
chậu nên gây hiện tƣợng phù thũng hai chân sau. Mặt khác số lần đại tiểu tiện
của gia súc mẹ tăng lên nhƣng số lƣợng mỗi lần ít.
dục lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài. Còn 1 - 2 ngày trƣớc khi gia súc đẻ thì
cơ quan sinh dục bên ngoài có những thay đổi: âm môn to phù, nhão ra và
xung huyết nhẹ , đầu núm vú to, bầu vú căng to, tĩnh mạch vú nổi rõ. Nhiệt độ
cơ thể thay đổi, trƣớc đẻ thì nhiệt độ tăng lên cao hơn bình thƣờng. Bên ngoài
gia súc cái có hiện tƣợng sụt mông.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], lợn trƣớc khi đẻ 10 - 15 ngày
bầu vú căng. Giữa bầu vú và thành bụng đã phân chia ranh giới rõ ràng.
- Triệu chứng rặn đẻ
Khi đẻ gia súc mẹ phải dùng sức đẩy thai cùng với các khí quan trọng
trong đƣờng sinh dục để đƣa thai ra ngoài. Sức rặn căn bản là do sự co bóp
của tử cung, sự co bóp này bắt đầu từ sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ
tử cung, kết quả làm mở rộng cổ tử cung. Nhƣng phải nhờ vào sự co bóp của
cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân để đẩy thai ra ngoài.
+ Quá trình sinh đẻ
Quá trình sinh đẻ đƣợc chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ mở cổ tử cung
Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử
cung mở hoàn toàn. Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giống
nhau. Ở lợn thƣờng hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng và có
triệu chứng cắn ổ.
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong kỳ 1 nhƣng nói chung cơn rặn
16
này yếu về cƣờng độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn
lại dài từ 10 - 15 phút, mỗi cơn rặn thƣờng từ 2 - 3 phút. Nếu con mẹ rặn liên
tục thì mạch máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dƣỡng khí cung
cấp cho thai yếu, thai ra chậm có thể bị ngạt.
Cƣờng độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử
Sau khi thai lọt ra khỏi đƣờng sinh dục của gia súc mẹ một thời gian,
con mẹ trở nên yên tĩnh, nhƣng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn,
mỗi lần co bóp từ 1,2 - 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhƣng
cƣờng độ lúc này yếu hơn.
Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ thì tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày,
trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau. Cơn rặn
lúc này của gia súc cái chủ yếu là đƣa nhau thai ra ngoài.
Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung
co bóp từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ
đƣợc lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trƣớc, sau đó bong dần xuống sừng
tử cung, thân tử cung và ra ngoài.
Thời gian bong nhau thai của các gia súc khác nhau do đặc điểm cấu
tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [7], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ,
khoảng 10 – 50 phút nhau thai mới ra. Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống,
mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung.
2.2.2. Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái
2.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung
Lợn nái sinh sản đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhƣng không gây
bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi
khuẩn phát triển.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [7], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thƣờng xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
18
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc cái làm ảnh hƣởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs (1995) [9], bệnh viêm tử cung ở lợn nái