ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------o0o--------------
PHAN THỊ THU
Đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 ĐẾN 28
NGÀY TẠI TRẠI ANH DŨNG BA VÌ HÀ NỘI VÀ
SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành:Chăn nuôi thú y
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------o0o--------------
PHAN THỊ THU
Đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 ĐẾN 28
NGÀY TẠI TRẠI ANH DŨNG BA VÌ HÀ NỘI VÀ
SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 24
Bảng 4.1. Lịch sát trùng trại lợn nái................................................................ 33
Bảng 4.2. Lịch phòng bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại ...................................... 34
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 39
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo tháng............................................ 40
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt .......................... 42
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi ........................... 43
Bảng 4.7. Kết quả số lợn chết do bệnh phân trắng theo tuổi .......................... 46
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh của các phác đồ ............................................ 48
Bảng 4.9. Hạch toán chi phí thú y ................................................................... 49
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi ............................ 45
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo các tháng theo dõi ........... 41
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs
: Cộng sự
Kg
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ ............................ 3
2.1.2. Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa ............................................... 4
2.1.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con ............................................. 6
2.1.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con ........................................ 7
2.1.5. Những hiểu biết về trực khuẩn Escherichia coli..................................... 8
2.1.6. Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con ........................................ 11
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 22
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......24
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 24
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của
ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm
không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Trong đó, chăn
nuôi lợn là ngành đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát
triển kinh tế hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại, đặc biệt là mô hình
trang trại VAC. Do vậy, việc chăn nuôi lợn là không thể tách rời, Đảng và
nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm và đầu tư về công tác giống, thức ăn, thú
y cho ngành chăn nuôi, chất lượng đàn lợn không ngừng được cải thiện.
Với mục đích đa ngành, chăn nuôi lợn trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp
hóa hiện đại hóa nói chung.
Sự hiệu quả trong chăn nuôi lợn và mang lại lợi ích kinh tế nhanh nhất,
lớn nhất đó chính là mô hình chăn nuôi công nghiệp ở các trang trại, xí
nghiệp. Đi cùng với lợi ích kinh tế là nhiều vấn đề nan giải xuất hiện trong đó
có tình hình dịch bệnh đã nổi lên như một thách thức đối với ngành chăn nuôi,
đe dọa trực tiếp đến lợi ích kinh tế và nhiều lợi ích khác. Đặc biệt là bệnh
phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh đến 28 ngày tuổi. Bệnh xảy ra khắp nơi
trên thế giới. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như
quanh năm, nhất là khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm,..) kết hợp
với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng
bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa
đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng. Khi lợn con mắc
bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia
súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh
con khỏe mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] so với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và
hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm
sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của
lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn
con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14gam
protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy
được 0,3 - 0,4gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và
cs (2004) 7.
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng
nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của
lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng
hơn để tạo ra 1kg mỡ.
5
thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con
trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005) [12] cho rằng: Lợn con dưới 1
tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh
chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric. Do
dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng
tiêu hóa portein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men
pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có
khả năng tiêu hóa protein.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh
vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh
phân trắng lợn con. Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích
vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm
cho lợn con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi.
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn
trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn
khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn nữa dịch vị thu được
khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị
thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai
sữa sớm cho lợn con.
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã
sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi
lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.
7
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự
trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện
tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn
con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn
thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện
thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
2.1.4. Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể. Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh. Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối
loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém. Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh.
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng
kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho
nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào
lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm
lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa
chiếm 18 - 19%, trong đó lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 35%). Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng
E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
9
nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4, vi khuẩn
phát triển được ở pH 5,5 - 8.
E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất
đục có màu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi
trường, môi trường có mùi phân thối.
- Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành
nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơ i lồi,
có đường kính 2 - 3mm. Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt
và mọc rộng ra. Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và
khuẩn lạc dạng M.
- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi.
- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng.
- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh.
- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím.
- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc.
- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,
glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze. Lên men không chắc chắn các
loại đường dulcitol, saccharose.
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: Âm tính.
MR, Indol: Dương tính.
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370C.
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [1] hiện nay việc chiết xuất ngoại
độc tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới
phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài
hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng.
11
+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột
E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc
tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học
hoặc chiết suất bằng phenol dưới tác dụng của enzym.
- Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở
nhiệt độ 600C trong vòng 15 phút và bị tiêu diệt ở 1000C. Trong đất và nước
E.coli sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit
phenic, formol… có thể diệt E.coli trong 5 phút. E.coli đề kháng với sự sấy
khô chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh.
Theo Bùi Thị Tho và Phạm Khắc Hiếu (1995) [15] khi nghiên cứu về
tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con
bị bệnh phân trắng ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng
tốt trong điều trị bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm norfloxacin,
furazolidon, trimetho brom và colistin, còn các thuốc streptomycin,
sunphonamid ít có tác dụng với E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ
70 - 80%. Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường
xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc.
2.1.6. Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con
* Dịch tễ của bệnh: Bệnh lợn con ỉa phân trắng có tên khoa học là:
“Neonatal di ar hoea”. Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [5]
bệnh này là bệnh đặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi.
thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải. Nước
không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây
bệnh tiêu chảy.
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không
13
hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể. Ngoài ra, trong
dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa.
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng
khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường
cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.
Theo Sử An Ninh (1981) [6] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con
phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố
stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần
trong máu: Đường huyết, cholesterol, kẽm, kali, natri....
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ
thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh
dưỡng, thiếu các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc,
thiếu sắt, vitamin B12... khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng
chống đỡ với môi trường kém nên dễ mắc bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [14] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết
cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho
cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở bắp thịt là myoglobin và một
số enzym. Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng
đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược,
không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh.
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột,
một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp
niêm mạc kế tiếp. Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E.coli thường sốt,
lông xù, biếng ăn, kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng.
* Triệu chứng lâm sàng
Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: Ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi, và
nhất là ở giai đoạn lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn,
thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày.
15
Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng
cao. Cá biệt có trường hợp nhiệt độ tăng 40,50 C - 410C, nhưng sau 1 ngày lại
hạ xuống ngay, lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi,
trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh đặc biệt,
bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân
sau dúm lại.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào Đông Xuân, khi độ ẩm môi
trường cao. Bệnh thường gặp ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi. Mắc một vài con
hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm.
Thể bệnh gây chết nhanh: Những lợn từ 4 - 15 ngày tuổi thường mắc
thể này, sau 1 - 2 ngày đi ỉa phân trắng lợn gầy sút nhanh, lợn bú kém rồi bỏ
bú hẳn, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh có con hay
đứng riêng một chỗ, thở nhanh. Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1 - 2 lần,
có khi 4 - 5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh
khắm, phân dính vào hậu môn và đuôi. Bệnh thể kéo dài 2 - 4 ngày trước lúc
chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỷ lệ chết 50 - 80% số con ốm.
Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 - 10 ngày, lợn vẫn bú
nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng. Những lợn đã được
40 - 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại
mắc bệnh phân trắng thì dịch tiêu chảy có pH hoàn toàn kiềm, do trong dạ dày
lợn con sự phân tiết ra HCl là rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm
vào đó là sự đào thải các chất điện giải từ ống ruột có tính kiềm chiếm đa số.
Ngược lại bệnh do Rostavirus gây nên thì xét nghiệm phân thấy phân
mang tính axit nhiều hơn.
Chẩn đoán bệnh do nhiễm E.coli đường ruột dựa trên các triệu chứng
lâm sàng, các tổn thương tế bào mô và sự hiện diện của những vi khuẩn
nhuộm màu Gr (-) thường bám sát vào niêm mạc ruột.
Ngoài ra còn có thể dựa vào những triệu chứng và bệnh tích điển hình
để kết luận bệnh. Bệnh phân trắng lợn con do Rostavirus gây ra đặc trưng bởi
17
hiện tượng nôn mửa, đi phân lỏng màu vàng hoặc vàng kem, có lẫn bọt khí và
chất nhầy, mổ khám thấy phần đỉnh nhung mao ruột bị bào mòn không gây
xuất huyết hoặc loét ở ruột.
Lợn con có thể bị nhiễm một loại mầm bệnh nhưng có thể bị nhiễm
nhiều loại mầm bệnh khác nhau. Cùng một lúc nhiều nghiên cứu cho thấy
việc nhiễm E.coli và Rostavirus thường xảy ra cùng một lúc, tạo điều kiện
cho sự phát triển và phân tiết ra độc tố của mầm bệnh làm vật bị bệnh trở nên
trầm trọng. Vì vậy, khi điều trị cần có phương pháp phối hợp thuốc có khoa
học để công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao.
* Phòng bệnh
Để phòng bệnh đi ỉa phân trắng cho đàn lợn con sau khi sinh, yêu cầu
người chăn nuôi không chỉ thực hiện riêng lẻ một biện pháp phòng bệnh nào
đó mà công việc phòng bệnh lợn con đi ỉa phân trắng là cả một quy trình
phòng bệnh tổng hợp gồm nhiều công tác khác nhau. Trong quy trình đó đầu
tiên chúng ta đề cập tới là công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi. Vệ sinh thú
y cần phải là một quy trình khép kín, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong