ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU QUÂN
THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU QUÂN
THAM NHŨNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
:
60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
lãng phí, thất thoát kinh phí..., mà một trong những nguyên nhân là kinh phí dành cho
nghiên cứu khoa học đã bị "sử dụng sai mục đích, sai chế độ quy định".
Thực chất, các hành vi được coi là "sử dụng kinh phí sai mục đích, sai chế độ
quy định" hết sức đa dạng. Ví dụ như hành vi dùng kinh phí được cấp, hỗ trợ cho
nghiên cứu khoa học để mua xe ôtô phục vụ mục đích cá nhân; ngụy tạo các bằng
chứng về khả năng của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN để chiếm đoạt
kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học; lập hợp đồng khống và sử dụng hoá đơn,
chứng từ giả để hợp thức hóa kinh phí một cách bất hợp pháp; "làm lại" một đề tài
nghiên cứu khoa học để lấy kinh phí nhiều lần; "xin - cho" các đề tài, dự án KH&CN
để vụ lợi...
Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Ví dụ, ngay cùng một hành vi
"lập hợp đồng khống và sử dụng hoá đơn chứng từ giả để hợp thức hóa kinh phí", có
quan điểm cho rằng đó là điều bình thường, có quan điểm coi đó chỉ là vi phạm quy
chế, nhưng quan điểm khác lại quy kết và khẳng định đó là hành vi vi phạm nghiêm
trọng - tham nhũng. Thực tế cũng cho thấy rằng, nhận thức về tham nhũng và phòng,
chống tham nhũng nói chung, trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN nói riêng
của một bộ phận không nhỏ các chủ thể có liên quan còn ở mức độ hạn chế. Họ coi
tham nhũng là hành vi phức tạp, khó hiểu hoặc là một vấn đề chẳng bao giờ liên quan
đến mình, đơn vị mình... Một trong những lý do chính là chưa có các quy định, chưa
có hệ thống khái quát các hành vi cụ thể để làm cơ sở tham khảo xác định tham
nhũng trong lĩnh vực này.
Mặt khác, nhiều hành vi có dấu hiệu vi phạm nhưng bản chất vụ việc thực ra là
do cơ chế quản lý không còn phù hợp với thực tiễn khiến chủ thể buộc phải vi phạm
để thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả ("tình ngay lý gian"). Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả
Phiêu cũng đã từng đánh giá: "Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người"
[36].
Một vấn đề quan trọng nữa là việc phòng ngừa tham nhũng trong lĩnh vực
KH&CN được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng (Điều 25) mới chỉ
đặt ra và phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác
phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu KH&CN là hoạt động đang từng bước được xã hội hóa nên các
nhiệm vụ KH&CN cũng hết sức đa dạng, được thực hiện bởi nhiều nguồn kinh phí
khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ xác định và điều chỉnh tham
nhũng ở khu vực công (liên quan đến quyền lực công và tài chính công) nên đề tài
chỉ tập trung nghiên cứu về tham nhũng trong việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN
có sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Đó cũng chính là các nhiệm vụ
KH&CN được thực hiện chủ yếu hiện nay, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ
tham nhũng hơn cả.
Nhiệm vụ KH&CN được thể hiện và tổ chức thực hiện dưới nhiều loại hình
khác nhau, do nhiều cơ quan được phân cấp quản lý như: chương trình KH&CN
trọng điểm cấp nhà nước; chương trình nông thôn - miền núi; đề tài, dự án độc lập
cấp nhà nước (do Bộ KH&CN quản lý), đề tài, dự án các cấp như cấp bộ, tỉnh, cơ
sở…
Việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN bao gồm hai hình thức:
- Hình thức thực hiện các chương trình nghiên cứu KH&CN. Chương trình
KH&CN gồm một số đề tài, dự án KH&CN nên việc thực hiện chủ yếu là các thủ tục
mang tính hành chính.
- Hình thức thực hiện các đề tài, dự án KH&CN. Hình thức này thể hiện rõ nét
hoạt động nghiên cứu khoa học.
Do vậy, đề tài sẽ tiếp cận vấn đề sâu hơn trên phương diện hoạt động nghiên
cứu khoa học, tức là đối với hình thức thứ hai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Đề tài là phương pháp hệ thống,
trạng, lý giải được rõ ràng các nguyên nhân và đề xuất được hệ thống giải pháp hữu
hiệu để loại bỏ hoàn toàn. Đề tài này chỉ góp thêm một tiếng nói, dựa trên việc phân
tích và khái quát các hành vi vi phạm đã và có thể xảy ra trong việc thực hiện các
nhiệm vụ KH&CN để nhận diện, tìm hiểu nguyên nhân, nâng cao nhận thức về tham
nhũng trong lĩnh vực này cho các chủ thể có liên quan để chủ động phòng, tránh và
chống tham nhũng, đồng thời cũng gợi ý một số giải pháp phòng, chống tệ nạn này
dưới góc độ quản lý nhà nước.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG TRONG VIỆC
THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. Khái niệm và chủ thể của tham nhũng trong hoạt động khoa học và
công nghệ
1.1.1. Khái niệm tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội phức tạp và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Nó
gây tổn hại đến sự công bằng, dân chủ trong xã hội bởi các tác động xấu ảnh hưởng
tới việc sử dụng các nguồn lực và quyền lực của Nhà nước cũng như phá hoại các
hoạt động quản lý của Nhà nước. Thậm chí, có ý kiến còn ví "đó là một loại vi-rút có
khả năng làm què quặt các chính phủ, làm mất uy tín của các tổ chức công và các tập
đoàn tư nhân, có ảnh hưởng mang tính phá hoại đến nhân quyền của người dân, do
vậy hủy hoại xã hội cùng với sự phát triển của nó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân
dân, đặc biệt là những người nghèo" [35].
Tệ nạn này diễn ra ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị,
tiềm lực kinh tế và có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi nào có sự hiện diện của yếu tố quyền
lực công, từ người cung cấp các dịch vụ công đến các nhà hoạch định chính sách,
đảm bảo thực thi chính sách pháp luật của mỗi quốc gia. Thậm chí trong giai đoạn
tham nhũng (năm 1969) thì tham nhũng được định nghĩa đơn giản hơn, trong một
phạm vi hẹp, đó là “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
CÁC VĂN KIỆN VÀ NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
1.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (lần
2) khoá VIII "về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây
dựng Đảng hiện nay'', Hà Nội.
2.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính
trị "về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa
VIII", Hà Nội.
3.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Hà Nội.
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7
khoá X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hoá,
Chính phủ (1999), Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 về
một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, Hà Nội.
12.
Chính phủ (2002), Nghị định 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
13.
Chính phủ (2006), Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng,
chống tham nhũng, Hà Nội.
14.
Chính phủ (2006), Nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 hướng
dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng,
Hà Nội.
15.
Chính phủ (2007), Nghị định số 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống
tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống
tham nhũng, Hà Nội.
16.
ngày 22/8/2006 phê duyệt danh mục các chương trình khoa học và
công nghệ trong điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010, Hà Nội.
21.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Quyết định số 24/2006/QĐBKHCN ngày 30/11/2006 Quy định việc xác định nhiệm vụ khoa học
và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010, Hà Nội.
22.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Chỉ thị số 1113/CT-BKHCN ngày
20/6/2007 về đẩy mạng các hoạt động triển khai thực hiện Luật Phòng,
chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Hà Nội.
23.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 06/2007/QĐBKHCN ngày 03/4/2007 về việc ban hành quy chế tổ chức quản lý hoạt
động Chương trình khoa học học xã hội trọng điểm cấp Nhà nước
"Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006-2010", Hà Nội.
24.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 07/2007/QĐBKHCN ngày 03/4/2007 về việc xác định các đề tài nghiên cứu khoa
học thuộc Chương trình khoa học học xã hội trọng điểm cấp Nhà nước
"Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006-2010", Hà Nội.
25.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 10/2007/QĐBKHCN ngày 11/5/2007 ban hành Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ
Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 của
Bộ Tài chính về quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các
cuộc hội nghị với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập,
Hà Nội.
31.
Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Thông tư liên tịch
số 29/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 03/4/2007 hướng dẫn quản lý tài
chính của các Chương trình trọng điềm cấp Nhà nước, Hà Nội.
32.
Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Thông tư liên tịch
số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/5/2007 hướng dẫn định mức
xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa
học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước, Hà Nội.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC
33.
Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà
xuất bản KH&KT, Hà Nội.
34.
Lê Quỳnh (2005), Đấu tranh chống tham nhũng - trách nhiệm của
Đảng, nhà nước, xã hội và công dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Thanh tra Chính phủ - Ngân hàng phát triển Châu Á (2007), Đấu tranh
chống tham nhũng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Nhà xuất bản
Tư pháp, Hà Nội.
41.
Thanh tra Chính phủ (2008), Một số vấn đề về tham nhũng và những
nội dung chủ yếu của Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản
hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
42.
Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (từ 2002 đến 2009), Các tài liệu
liên quan đến công tác thanh tra các nhiệm vụ khoa học và công nghệ
đã công bố, Hà Nội.
43.
Viện Khoa học Thanh tra (từ 2005 đến 2009), Thông tin khoa học
thanh tra và chống tham nhũng, Hà Nội.
44.
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng,
Đà Nẵng.
45.
Nguyễn Ngọc Châu (2008), "Để Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia tạo
Trương Văn Tân (2009) Tri thức và thực tiễn trong nghiên cứu khoa
học, Trang web www.diendan.org, ngày 05/6/2009
58.
Lê Kiên Thành (2006), "Giảm nửa số công chức để chống tham
nhũng", Báo điện tử Vietnamnet, ngày 25/7/2006.
59.
Nguyễn Văn Thắng (2006), "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khoa
học và công nghệ địa phương", Tạp chí Tia sáng, tháng 9/2006.
60.
Đặng Xuân Thi (2005), "Đã đến lúc cần nói đến lãng phí trong nghiên
cứu khoa học-công nghệ", Báo điện tử Vietnamnet, ngày 06/10/2005.
61.
Nguyễn Văn Tuấn (2009), "Nên làm theo lời khuyên của GS Hoàng
Tuỵ", Tạp chí Tia sáng, tháng 7/2009.
62.
Nguyễn Văn Tuấn (2009), "Giải pháp góp phần nâng cao vị thế
KH&CN Việt Nam", Tạp chí Tia sáng, tháng 5/2009.
63.
69.
"Hàng loạt sai phạm nghiêm trọng tại Viện Thú y", Báo điện tử An
ninh thủ đô, ngày 23/3/2009.
70.
"Hàng ngàn tỷ đồng thất thoát", Báo điện tử Tuổi trẻ, ngày 06/9/2007.
71.
"Khi sỹ diện học giả bị làm ngơ", Báo điện tử Dân trí, ngày 26/06/2008.
72.
"Làm việc cho ai mà chẳng là đóng góp cho đất nước", Báo điện tử
Vietnamnet, ngày 28/01/2008.
73.
"Rò rỉ "bầu sữa" khoa học", Báo điện tử Vietnamnet, ngày 26/7/2008.
74.
"Tại sao chúng tôi buộc phải ra đi", Báo điện tử Vietnamnet, ngày
28/01/2008.
75.
"Tham nhũng và lỗi hệ thống", Báo điện tử Vietnamnet, ngày 29/7/2006.
81.
http://www.most.gov.vn/ (trang web của Bộ Khoa học và Công nghệ).
82.
http://www.thanhtra.gov.vn/ (trang web của Thanh tra Chính phủ).
83.
http://www.giri.ac.vn/ (trang web của Viện Khoa học thanh tra).
84.
http://www.chinhphu.vn/ (trang tin điện tử Chính phủ).
85.
http://www.tchdkh.org.vn/ (trang web tạp chí Hoạt động khoa học).
86.
http://www.tiasang.com.vn/ (trang web tạp chí Tia sáng).
87.
http://vnexpress.net/ (trang web Tin nhanh Việt Nam).
88.