ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
HÁN THỊ NGÂN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NĂNG LƢỢNG MẶT TRỜI Ở
VIỆT NAM THEO SỐ LIỆU QUAN TRẮC KHÍ TƢỢNG
THỦY VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
Chƣơng 1. TỔNG QUAN ............................................................................... 6
1.1. Tổng quan về năng lƣợng mặt trời ............................................................ 6
1.1.1. Khái niệm chung .................................................................................... 6
1.1.2. Các nghiên cứu ứng dụng năng lƣợng mặt trời trên thế giới ................ 7
1.1.3. Các nghiên cứu ứng dụng năng lƣợng mặt trời ở Việt Nam ............... 10
1.1.3.1. Cung cấp nƣớc nóng bằng năng lƣợng mặt trời ............................... 10
1.1.3.2. Cung cấp điện bằng năng lƣợng mặt trời .......................................... 14
1.1.3.3. Các ứng dụng khác ............................................................................ 16
1.2. Tổng quan về các khu vực nghiên cứu .................................................... 17
1.2.1. Tổng quan vùng Tây Bắc .................................................................... 17
1.2.2. Tổng quan vùng Việt Bắc .................................................................... 18
1.2.3. Tổng quan vùng Đông Bắc .................................................................. 18
1.2.4. Tổng quan vùng Đồng Bằng Bắc Bộ................................................... 19
1.2.5. Tổng quan vùng Bắc Trung Bộ ........................................................... 20
3.1.2.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 45
3.1.3. Khu vực Đông Bắc ................................................................................ 45
3.1.3.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 45
3.1.3.2. Thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng năng lƣợng mặt trời........ 49
3.1.4. Khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ ................................................................. 50
3.1.4.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 50
3.1.4.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 54
3.1.5. Khu vực Bắc Trung Bộ ......................................................................... 55
3.1.5.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 55
3.1.5.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 58
3.1.6. Khu vực Trung Trung Bộ ...................................................................... 59
3.1.6.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 59
3.1.6.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 63
3.1.7. Khu vực Nam Trung Bộ ........................................................................ 63
3.1.7.1. Đặc điểm phân bố nắng ..................................................................... 63
3.1.7.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 67
3.1.8. Khu vực Nam Bộ................................................................................... 67
3.1.8.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 67
3.1.8.2. Đánh giá tiềm năng ............................................................................ 71
3.1.9. Khu vực Tây Nguyên ............................................................................ 71
3.1.9.1. Đặc điểm phân bố nắng ...................................................................... 71
3.2. Đánh giá tổng hợp tiềm năng năng lƣợng mặt trời trên lãnh thổ Việt
Nam 75
3.2.1. Số giờ nắng trong năm .......................................................................... 75
3.2.1.1. Đánh giá, so sánh các khu vực trên toàn quốc ................................... 75
3.2.1.2 Bản đồ số giờ nắng .............................................................................. 76
3.2.2. Số ngày có nắng .................................................................................... 78
3.2.2.1. Đánh giá, so sánh các khu vực trên toàn quốc ................................... 78
3.2.2.2 Bản đồ số ngày nắng ........................................................................... 78
3.2.4. Chênh lệch số giờ nắng giữa các tháng trong năm ............................... 82
Trong các khó khăn hạn chế khả năng sử dụng rộng rãi năng lƣợng mặt trời trong
cuộc sống ngƣời dân là: giá thành đầu tƣ và chi phí sản xuất điện mặt trời còn khá
cao, trang thiết bị sử dụng còn chƣa phổ biến ở Việt Nam; hơn thế nữa đó là thiếu
các thông tin khoa học cần thiết để đánh giá tiềm năng năng lƣợng mặt trời.
Với mục đích góp phần vào việc cung cấp thông tin khoa học cho việc nghiên
cứu triển khai áp dụng công nghệ khai thác và sử dụng năng lƣợng mặt trời, tôi đã
chọn đề tài theo tiêu đề: “Đánh giá tiềm năng năng lƣợng mặt trời ở Việt Nam theo
số liệu quan trắc khí tƣợng thủy văn”. Số liệu đặc trƣng nhất có thể phản ánh đƣợc
tiềm năng năng lƣợng mặt trời là số liệu về số giờ nắng và số ngày có nắng. Trong
phạm vi luận văn thạc sỹ tôi tập trung đánh giá theo số liệu số giờ nắng và số ngày
có nắng trong hai năm 2009 và 2010. Nhiệm vụ đầu tiên của đề tài là xử lý các số
liệu hiện có thu đƣợc từ các trạm khí tƣợng trong phạm vi toàn quốc để đánh giá và
xây dựng bản đồ về số giờ nắng chi tiết cho từng vùng ở Việt Nam. Hy vọng rằng,
luận văn sẽ là đóng góp nhỏ cho phƣơng hƣớng phát triển năng lƣợng mặt trời nói
riêng và năng lƣợng tái tạo nói chung ở Việt Nam.
Chƣơng 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về năng lƣợng mặt trời
1.1.1. Khái niệm chung
Mặt trời là quả cầu lửa khổng lồ với đƣờng kính trung bình khoảng 1,36 triệu km
ở cách Trái đất khoảng 150 triệu km. Theo các số liệu hiện có, nhiệt độ bề mặt của
Mặt trời vào khoảng 6000 0K, trong khi đó nhiệt độ ở vùng trung tâm của Mặt trời
rất lớn, vào khoảng 8x106 0K đến 40x106 0K. Mặt trời đƣợc xem là một lò phản ứng
nhiệt hạch hoạt động liên tục. Do luôn luôn bức xạ năng lƣợng vào trong Vũ trụ nên
khối lƣợng của Mặt trời sẽ giảm dần. Điều này dẫn đến kết quả là đến một ngày nào
đó Mặt trời sẽ thôi không tồn tại nữa. Tuy nhiên, do khối lƣợng của Mặt trời vô
cùng lớn, vào khoảng 1,991x1030kg, nên thời gian để Mặt trời còn tồn tại đƣợc tính
tiện kỹ thuật đƣợc sử dụng để biến đổi năng lƣợng mặt trời ra các dạng năng lƣợng
khác bao gồm nhiều thứ khác nhau, từ các dàn đun nƣớc đơn giản đến các lò mặt
trời, các nhà máy điện mặt trời. Nói chung các hệ thống thiết bị mặt trời có 2 loại
khác nhau về tính năng sử dụng năng lƣợng mặt trời:
- Loại không tập trung năng lƣợng mặt trời, loại này hoạt động do tác dụng của
tổng xạ, tức là có thể sử dụng đƣợc cả trực xạ lẫn tán xạ mặt trời.
- Loại hội tụ năng lƣợng mặt trời, loại này hầu nhƣ chỉ sử dụng đƣợc trực xạ
mặt trời.
Hiệu quả hoạt động của các hệ thống thiết bị này chủ yếu phụ thuộc vào cƣờng
độ tổng xạ và trực xạ, phân phối tần suất tổng xạ và trực xạ, phân phối phổ trực xạ
và tán xạ, ngoài ra cũng còn chịu ảnh hƣởng của một số yếu tố khí tƣợng khác nhƣ
nhiệt độ, gió, độ ẩm v..v… Trong phạm vi luận văn cao học này, tác giả chỉ sử dụng
thông số số giờ nắng là thông số đặc trƣng nhất để đánh giá tiềm năng năng lƣợng
mặt trời.
1.1.2. Các nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời trên thế giới
Các số liệu từ REN 21: Renewables Global Status Report 2006 Update,
18.7.2006 cho thấy: đến cuối năm 2005, tổng công suất lắp đặt các hệ thống nƣớc
nóng mặt trời trên toàn thế giới vào khoảng 88GWth, trong đó phần lớn đƣợc lắp đặt
ở Trung Quốc và các nƣớc thuộc khối EU. Bảng 1.1 trình bày cụ thể các số liệu đó
ở một vài nƣớc tiêu biểu. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tốc độ lắp đặt các hệ
thống nƣớc nóng mặt trời ở các nƣớc đứng đầu trong bảng gia tăng rất đáng kể. Cụ
thể, nếu vào năm 2005 các nƣớc EU có 11,2GWth đã lắp đặt, thì vào năm 2007 con
số đó đã tăng lên đến 15,37GWth.
Bảng 1.1. Các số liệu về nước nóng mặt trời đã lắp đặt (cho đến cuối năm 2005)
Nƣớc
Số liệu đã lắp đặt, 106 m2 collector
Số liệu đã lắp đặt, GWth
Trung Quốc
một số nƣớc.
Bảng 1.2. Các số liệu về công suất pin mặt trời đã lắp đặt
Nƣớc
Công suất pin mặt trời đã lắp đặt, MWp
Đức
3862
Nhật
1919
Mỹ
831
Tây Ban Nha
655
Ý
120
Ấn Độ
110
Trung Quốc
100
Úc
82
Thái Lan
36
Indonesia
8
Malaysia
5,5
Philippines
4
Cambodia
3
khoa học công nghệ trong thế kỷ XXI.
- Ý tƣởng trạm xe buýt chiếu sáng tự động bắt đầu đƣợc đƣa ra thực hiện tại
Florence - Italia. Vào ban đêm, những trạm xe buýt này trở thành những công trình
chiếu sáng công cộng hết sức thu hút và sang trọng. Ngoài ra, trong trạm xe buýt,
còn cài đặt thêm hệ thống cho phép ngƣời đợi xe kết nối wifi và sử dụng điện thoại
truy cập Internet miễn phí trong lúc chờ đợi.
- Ô tô chạy bằng năng lƣợng mặt trời là sản phẩm của các nhà sản xuất ôtô
Thụy Sĩ từng đƣợc trƣng bày trong triển lãm xe ôtô tại Geneva. Chiếc ôtô này đƣợc
phủ bởi một lớp film quang điện mỏng cho phép hấp thụ năng lƣợng từ mặt trời và
có thể giúp nó vận hành liên tục trong 20 phút. Tuy chỉ có thể tích trữ và cung cấp
năng lƣợng trong một thời gian ngắn, song loại xe đƣợc đánh giá là thân thiện với
môi trƣờng này đang đƣợc các nhà khoa học tại nhiều quốc gia trên thế giới nghiên
cứu phát triển.
1.1.3. Các nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam
Mặc dù đƣợc đánh giá là có tiềm năng rất đáng kể về năng lƣợng mặt trời,
nhƣng do nhiều nguyên nhân khác nhau, tỉ trọng của năng lƣợng mặt trời trong cán
cân năng lƣợng sử dụng chung của toàn đất nƣớc vẫn còn rất bé. Tuy vậy, có thể
thấy rõ năng lƣợng mặt trời đã đƣợc nghiên cứu và đƣa vào sử dụng từ rất lâu ở
Việt Nam. Bên cạnh các phƣơng thức khai thác truyền thống, đơn giản, mang tính
dân gian nhƣ phơi lúa và sấy khô các loại thủy hải sản, các hoạt động nghiên cứu và
sử dụng năng lƣợng mặt trời ở Việt Nam cho đến hiện nay thƣờng tập trung vào các
lĩnh vực nhƣ cung cấp nước nóng dùng trong sinh hoạt và phát điện ở qui mô nhỏ.
Các hoạt động khác nhƣ sấy, nấu ăn, chƣng cất nƣớc, làm lạnh,…có đƣợc chú ý đến
nhƣng vẫn còn ở qui mô lẻ tẻ, chƣa đáng kể.
1.1.3.1. Cung cấp nước nóng bằng năng lượng mặt trời
Đây là lĩnh vực có sự phát triển rất đáng kể trong những năm gần đây, nhất là ở
các tỉnh phía nam. Về nguyên tắc, có thể có hai loại phƣơng án sử dụng năng lƣợng
mặt trời để cung cấp nƣớc nóng dùng trong sinh hoạt gia đình (dùng để tắm hoặc
2
1
Nƣớc nóng đến nơi sử dụng
Cấp nƣớc lạnh
4
1- Collector mặt trời
3- Bình chứa nước nóng
2- Ống nước nóng tuần hoàn
4- Ống nước lạnh tuần hoàn
Hình 1.1. Hệ thống cung cấp nước nóng bằng năng lượng mặt trời theo kiểu đối
lưu tự nhiên
Nguyên tắc làm việc cơ bản của các hệ thống loại này là sự tích lũy dần dần
nhiệt lƣợng nhận đƣợc từ các tia bức xạ mặt trời từ sáng cho đến chiều, do vậy
thƣờng chỉ nên sử dụng nƣớc nóng mặt trời từ cuối buổi chiều trở đi.
Thực tế cho thấy, ở các tỉnh phía nam, gần nhƣ có thể sử dụng nƣớc nóng
mặt trời trong suốt cả năm. Tùy vào đặc điểm của từng hệ thống cụ thể, và tùy vào
tình hình thời tiết cụ thể, mà nhiệt độ trung bình của nƣớc vào cuối mỗi buổi chiều
có thể biến đổi trong khoảng từ 45oC cho đến khoảng gần 70oC.
Với các hệ thống thuộc phƣơng án 1, do có sử dụng điện trở cho nên chắc
chắn nhiệt độ của nƣớc khá ổn định, có thể kiểm soát đƣợc, có nghĩa là không phụ
thuộc vào thời tiết. Trong hệ thống này ngoài điện trở sẽ có thêm rơ le kiểm soát
nhiệt độ và bơm nƣớc.
Do chƣa có các số liệu thống kê đáng tin cậy cho nên thật khó có thể xác
định số lƣợng các hệ thống nƣớc nóng mặt trời đã đƣợc lắp đặt trong phạm vi cả
cao.
Bảng 1.3. Lộ trình phát triến nước nóng mặt trời
Năm 2010 2015
2020
2025
TOE 8600
21500
43000
107500
Ghi chú: TOE (The tonne of oil equivalent) là đơn vị được sử dụng để đo năng
lượng, đó là lượng nhiệt sinh ra khi đốt một tấn dầu thô, có giá trị xấp xỉ khoảng
42GJ.
1.1.3.2. Cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời
Cho đến nay, tổng công suất điện mặt trời đã đƣợc lắp đặt trên phạm vi toàn
quốc chỉ vào khoảng 1,2MWp. Trong tất cả các trƣờng hợp, theo ngôn ngữ thông
dụng, thiết bị dùng để biến đổi trực tiếp bức xạ mặt trời thành điện là pin mặt trời.
Đây là những hệ thống nhỏ lẻ, không nối lƣới, thƣờng đƣợc sử dụng trực tiếp ở
dạng điện một chiều để thắp sáng, trong một số trƣờng hợp có thể đƣợc biến thành
điện xoay chiều để sử dụng cho các nhu cầu khác. Trong vài năm trở lại đây, theo
xu thế chung, đã có một số cố gắng nghiên cứu nối lƣới điện mặt trời. Tuy nhiên,
các hoạt động này hiện chỉ đang dừng ở mức thử nghiệm, chƣa ứng dụng đƣợc
trong đời sống xã hội.
Về mặt nguyên lý, pin mặt trời đƣợc tạo nên từ những chất bán dẫn. Dƣới
tác động của các tia bức xạ mặt trời, các điện tử sẽ đƣợc tách ra khỏi các nguyên tử,
sự chuyển động của các điện tử khi đƣợc đấu nối qua vật dẫn điện sẽ tạo nên dòng
lƣợng Mặt trời đỏ đƣợc xem là nhà máy đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực này,
nhà máy đƣợc khởi công vào ngày 20.3.2008 tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An,
công suất dự kiến của giai đoạn 1 là 3MWp/năm và của giai đoạn 2 là 5MWp/năm.
Cũng nhƣ các nƣớc khác trong khu vực, việc sử dụng pin mặt trời ở Việt Nam có
tính khả thi rất cao và có nhu cầu tiềm năng rất lớn. Bằng cách triển khai rộng rãi
pin mặt trời, có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng điện cho các hộ gia đình, các tổ
chức và các đơn vị trú đóng ở các vùng sâu, vùng xa. Ƣu điểm cơ bản của pin mặt
trời là tuổi thọ rất lâu, nhƣng nhƣợc điểm cơ bản của pin mặt trời là giá thành vẫn
còn cao, chƣa phù hợp với phần lớn các hộ gia đình nghèo thật sự có nhu cầu.
Chính vì vậy, trong những năm sắp tới, nên tập trung đẩy mạnh việc sử dụng pin
mặt trời ở các đơn vị thuộc khu vực nhà nƣớc trú đóng ở các vùng xa xôi nhƣ các
đơn vị bộ đội, các trạm bƣu điện, các trạm y tế, các trƣờng học và hệ thống đèn báo
hiệu giao thông,…Riêng đối với đồng bào ở các vùng sâu, vùng xa, nhà nƣớc cần
có chính sách hỗ trợ tài chính thích hợp mới hy vọng thúc đẩy đƣợc việc sử dụng
pin mặt trời.
Các số liệu khảo sát sơ bộ cho thấy, nhu cầu lắp đặt pin mặt trời cho các tổ chức,
đơn vị thuộc khu vực nhà nƣớc trú đóng ở các vùng xa xôi không ít hơn 450MWp.
Riêng với các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa, thật khó xác định chính xác nhu cầu
lắp đặt. Mặc dù vậy, trong vòng 10 năm sắp tới, với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế
giới, Chính phủ đang xây dựng dự án 30000 hệ điện mặt trời cho các hộ gia đình
với tổng công suất lắp đặt dự kiến khoảng 1,4MWp.
1.1.3.3. Các ứng dụng khác
Nhƣ đã trình bày ở trên, ngoại trừ nƣớc nóng mặt trời và pin mặt trời, ở Việt
Nam việc ứng dụng năng lƣợng mặt trời vào các lĩnh vực khác đƣợc xem là không
đáng kể. Tuy nhiên, trong số các ứng dụng ít ỏi còn lại, sấy và nấu ăn bằng năng
lƣợng mặt trời có vẻ vẫn đƣợc chú ý nhiều hơn do giá thành rẻ và công nghệ chế tạo
đơn giản. Hiện nay, ở một số nơi ngƣời ta ứng dụng năng lƣợng mặt trời để sấy
nông hải sản, chủ yếu là nông sản. Phƣơng pháp sấy thƣờng đƣợc ứng dụng là làm
giảm sút đột ngột khi lên tới vùng núi Tây Bắc. Toàn mùa chỉ quan sát đƣợc trên
dƣới 10 ngày mƣa phùn (so với 30-40 ngày ở Đồng Bằng Bắc Bộ và 50-70 ngày ở
vùng núi Việt Bắc).
Tây Bắc là vùng có xuất phát điểm thấp trong cả nƣớc, hầu hết là đều thuộc
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số
chiếm tỷ lệ cao, nên đời sống của ngƣời dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo cao so
với các vùng trong cả nƣớc (năm 2009 là 24%), nên sức mua thấp. Cơ cấu dân số
cũng đã phần nào phản ánh sự bất cập về nguồn nhân lực. Ở Vùng, thiếu trầm trọng
lao động qua đào tạo; chất lƣợng lao động giản đơn cũng thấp hơn các Vùng khác
trong cả nƣớc. Vùng Tây Bắc trong những năm qua cũng đã nhận đƣợc sự quan tâm
chung của Đảng và Nhà nƣớc, đã có lƣới điện quốc gia cũng nhƣ chƣơng trình nƣớc
sạch…tuy nhiên cùng với những khó khăn chung thì Tây Bắc thƣờng xuyên thiếu
điện, thiếu nƣớc sạch sinh hoạt.
1.2.2. Tổng quan vùng Việt Bắc
Khu vực Việt Bắc gồm các tỉnh: Bắc Cạn, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Yên. Vị trí địa lý các trạm có kinh độ từ
103049 đến 105050, vĩ độ từ 21010 đến 22049, là khu vực có địa hình phức tạp, gồm
những dãy núi chiều hƣớng khác nhau, xen giữa là những thung lũng của những con
sông lớn (sông Hồng, sông Lô) và các phụ lƣu của chúng. Đại bộ phận là vùng núi
thấp có độ cao từ 100m đến 500m, địa hình nâng lên vùng thƣợng nguồn sông
Chảy (1000- 1500m), nổi bật là ở phía Tây là dãy Hoàng Liên Sơn có một số đỉnh
vƣợt quá 2500-3000m. Trong mạng lƣới trạm thuộc khu vực Việt Bắc thì cao nhất
là trạm Sapa ở độ cao trên 1.584m, thấp nhất là trạm Vĩnh Yên có độ cao 9,941m.
Trong chiến tranh, Việt Bắc đƣợc gọi là “thủ đô kháng chiến” với nhiều di tích lịch
sử cách mạng còn đƣợc lƣu giữ đến ngày nay.
Vùng núi Việt Bắc là vùng có khí hậu khắc nghiệt, lạnh buốt về mùa đông có khả
năng băng giá và sƣơng muối, còn về mùa hè lại oi bức. Các tháng thƣờng có
khoảng từ 15 đến 20 ngày có dông, tổng số giờ nắng trung bình trong cả vùng
tế phía Bắc là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Ngoài ra, còn có sự thông thƣơng
với nƣớc ngoài bằng cả đƣờng biển và đất liền, là vùng có cơ sở hạ tầng tƣơng đối
tốt so với các khu vực miền núi khác của cả nƣớc, Đông Bắc tập trung nhiều tiềm
lực phát triển kinh tế: khai thác khoáng sản, xuất nhập khẩu, thƣơng mại, du lịch….
Giống nhƣ các vùng khác của miền Bắc, miền núi và trung du Đông Bắc chƣa phát
triển các ứng dụng công nghệ năng lƣợng mặt trời.
1.2.4. Tổng quan vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
Khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ là một khu vực gồm các tỉnh: Hà Nội, Thái Bình,
Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dƣơng, Hƣng Yên. Các trạm thuộc Đài Khí
tƣợng thủy văn Đồng Bằng Bắc Bộ có vị trí địa lý kinh độ từ 105025 ( Ba Vì) đến
106023 (Chí Linh) có vĩ độ từ 20007 (Văn Lý) đến 21009 (Ba Vì).
Đồng Bằng Bắc Bộ bao gồm toàn bộ châu thổ và trung du Bắc Bộ, đại bộ phận
có địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ, trừ một vài ngọn núi sót, độ cao của địa hình
không quá 100m. Đồng Bằng Bắc Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc, ruộng đất phì
nhiêu, thực vật phong phú, thích hợp với đời sống và sản xuất. Nhờ có những thuận
lợi đó nên từ lâu, Đồng Bằng Bắc Bộ đã trở thành một trung tâm kinh tế phát triển,
nơi tập trung đông dân cƣ nhất của Bắc Bộ.
Là một vùng trung tâm của Miền khí hậu phía Bắc, Đồng Bằng Bắc Bộ có khí
hậu mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu miền: có một mùa đông lạnh hơn
nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; mùa đông chỉ có thời kỳ đầu tƣơng đối
khô, còn nửa cuối thì cực kỳ ẩm ƣớt; mùa hạ mƣa nhiều; khí hậu biến động mạnh.
Tính đến cuối năm 2009 vùng Đồng bằng sông Hồng có 61 Khu công nghiệp
đƣợc thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha
đất công nghiệp có thể cho thuê. So với cả nƣớc, vùng Đồng Bằng Bắc Bộ chiếm
26% về số lƣợng khu công nghiệp và 23% về diện tích đất tự nhiên các khu công
nghiệp. Đồng bằng sông Hồng là khu vực có đất đai trù phú, phù sa màu mỡ, sản
lƣợng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ/ha ( 1995 ) lên là 58,9 tạ /ha ( 2008 ). Không
chỉ có sản lƣợng lúa tăng mà còn có một số lƣơng thực khác nhƣ ngô, khoai tây, cà
thiên khí hậu khá mạnh theo chiều từ Bắc xuống Nam. Khí hậu khu vực Thanh Hóa
có tính chất chuyển tiếp với khí hậu đồng bằng Bắc Bộ: mùa Đông lạnh hơn, gió
Tây khô nóng ít hơn. Khí hậu khu vực Nghệ An đặc trƣng bằng sự hoạt động mạnh
của gió Tây khô nóng, đem lại một thời kỳ khô nóng gay gắt đầu mùa Hạ và một
tình trạng ít mƣa nói chung. Khu vực Hà Tĩnh có khí hậu khô ẩm đặc biệt phong
phú liên quan với tác dụng chắn gió của dãy Hoành Sơn. Lƣợng mƣa ở đây lớn gấp
2 lần lƣợng mƣa ở khu vực Nghệ An và khu vực này đã trở thành một trong những
trung tâm mƣa lớn ở nƣớc ta với lƣợng mƣa năm đạt tới 2500-3000mm.
Nhiều năm qua, Chính phủ có những chính sách đầu tƣ, kể cả khoa học – công
nghệ nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng ven biển Trung Bộ nói chung và
Bắc Trung Bộ nói riêng. Do vậy giai đoạn từ năm 1991 đến 2002, kinh tế Bắc
Trung Bộ tăng trƣởng ở mức khá, đạt 8,4%/năm; ngành nông – lâm- thuỷ sản tăng
5,29%/năm. Tuy nhiên, đến nay Bắc Trung Bộ vẫn là vùng kinh tế còn nhiều khó
khăn. GDP bình quân đầu ngƣời chỉ đạt 3,5 triệu đồng/ngƣời/năm 2002, bằng 52%
mức trung bình cả nƣớc. Cơ cấu kinh tế vùng có sự chuyển dịch theo hƣớng tích
cực. Tỷ trọng nông nghiệp trong các năm giảm 14,3% (trung bình mỗi năm giảm
1,3%). Tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế của vùng, ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
vẫn chiếm tỷ trọng lớn (37,8%). Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm,
giá trị sản phẩm tính trên một ha canh tác còn thấp, chỉ đạt trung bình 15-17 triệu
đồng/ha. Lao động nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn.
Ảnh hƣởng khắc nghiệt khô nóng của khí hậu cộng thêm phải gánh chịu hầu hết
các cơn bão từ biển Đông đổ vào Việt Nam khiến khu vực Bắc Trung Bộ có nền
kinh tế khó khăn, nông nghiệp kém phát triển do chịu ảnh hƣởng lớn từ thiên tai. Để
có thể phát huy tiềm năng năng lƣợng mặt trời ở khu vực này cần sự hỗ trợ chính
sách lớn của Chính phủ.
1.2.6. Tổng quan vùng Trung Trung Bộ
Khu vực Trung Trung Bộ gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng. 15 trạm thuộc Đài khu vực có kinh độ từ
Trung Bộ có vị trí địa lý, kinh độ từ 107046(La Gi) đến 114020 (Song Tử Tây), vĩ
độ từ 8039 (Trƣờng Sa) đến 14031 (Hoài Nhơn).
Nam Trung Bộ có núi tiến ra gần biển nên đồng bằng bị thu hẹp. Đằng sau
những cồn cát trắng xóa chạy dài hàng chục kilomet là những cánh đồng phù sa có
nhiều sông nhỏ chạy qua. Vùng cửa sông thƣờng bị cát chắn, nƣớc ứ lại tạo ra
những bãi lầy sú vẹt và những cây nƣớc mặn mọc. Phần sát núi là những dãy đồi
hoa cƣơng. Phía Tây của vùng là khối núi Nam Trung Bộ đồ sộ cao vƣợt 1500 –
2000m nằm án ngữ, với những nhánh núi ngang tiến ra sát biển ôm lấy cánh đồng
Khánh Hòa và cánh đồng Phan Rang.
Đặc điểm quan trọng nhất và rất độc đáo của khí hậu vùng Nam Trung Bộ là
tình trạng khô hạn cao trong toàn bộ chế độ mƣa - ẩm, liên quan với vị trí che khuất
của vùng này bởi các vòng cung núi bao bọc khắp các phía Bắc, Tây, Nam với các
luồng gió trong cả hai mùa.
Lƣợng mƣa năm chỉ vào khoảng 1300 – 1400mm ở vùng Bắc (Khánh Hòa),
giảm xuống dƣới 1000mm ở phía Nam (Ninh Thuận) với trung tâm khô hạn nhất
toàn quốc là Phan Rang với lƣợng mƣa trung bình năm không tới 700mm. Độ ẩm
rất thấp, mƣa ít nắng nhiều, nhiều nhất toàn quốc với số giờ nắng năm lên tới 2500
giờ.
Khí hậu khô hạn, số giờ nắng cao vùng Nam Trung Bộ rất phù hợp cho việc
ứng dụng các thiết bị năng lƣợng mặt trời. Ninh Thuận, Bình Thuận cũng là vùng
đƣợc đầu tƣ nghiên cứu các loại hình năng lƣợng khác nhƣ, năng lƣợng gió (phong
điện), năng lƣợng hạt nhân.
1.2.8. Tổng quan vùng Nam Bộ
Khu vực Nam Bộ gồm các tỉnh Bình Phƣớc, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh,
Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Mỹ Tho. 23 trạm thuộc Đài Khí
tƣợng thủy văn khu vực Nam Bộ có vị trí địa lý, kinh độ từ 103058 (Phú Quốc) đến
107014 (Long Khánh), vĩ độ từ 8001 (DK1-7) đến 11050 (Phƣớc Long).
Vùng này bao gồm toàn bộ đồng bằng Nam Bộ, cộng thêm với phần đồng bằng
3-40C (biên độ nhỏ nhất so với cả nƣớc).
Điều kiện tự nhiên thuận lợi, hiện nay bộ mặt kinh tế của Nam Bộ rất khởi sắc, là
vựa lúa lớn, trung tâm kinh tế lớn của cả nƣớc.
Các thiết bị sử dụng năng lƣợng mặt trời đƣợc ứng dụng khá nhiều ở vùng
này, nhiều nhất cả nƣớc.
1.2.9. Tổng quan vùng Tây Nguyên.
Khu vực Tây nguyên gồm các tỉnh: Lâm Đồng, Đắc Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk
Nông. 17 trạm thuộc đài khu vực Tây Nguyên có vị trí địa lý, kinh độ từ 107041
(Đắk Nông) đến 108046 (M’ Đrak), vĩ độ từ 11032 (Bảo Lộc) đến 14039 (Đắk Tô).
Tâu Nguyên là vùng cao nguyên có độ cao trung bình các trạm 641,918m. Cao nhất
là trạm Đà Lạt với độ cao 1508,563m. Thấp nhất là trạm A Jun Pa với đọ cao
159,697m.
Trên nền chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo của Miền khí hậu
phía Nam, khí hậu Tây Nguyên biểu hiện những nét đặc sắc liên quan với ảnh
hƣởng của độ cao địa hình và ảnh hƣởng chắn gió của dãy Trƣờng Sơn. Khí hậu
Tây Nguyên có sự hạ thấp nền nhiệt độ nói chung theo quy luật giảm nhiệt độ theo
độ cao địa hình. Tuy nhiên hàng năm giữa mùa nóng và lạnh không có sự chênh