1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản, xuyên suốt, bao
trùm toàn bộ lịch sử vận động, phát triển của các hình thái kinh tế xã hội từ thấp lên cao. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất đã chỉ ra rằng, sự kết hợp đúng đắn giữa
các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, giữa các yếu tố cấu thành lực
lượng sản xuất, giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất sẽ đem lại những phương thức liên kết có hiệu
quả cao giữa người lao động với tư liệu sản xuất, thúc đẩy sản xuất
xã hội phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Để thực hiện được điều này thì
phương hướng cơ bản đầu tiên của nước ta trong giai đoạn hiện nay
là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường”.
Đây là lựa chọn phù hợp với lý luận về mối quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; phù hợp với thực tiễn
đất nước và hoàn cảnh quốc tế đang chuyển từ nền kinh tế công
nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Đó cũng là con đường duy nhất giúp
chúng ta “rút ngắn” quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Sau 20 năm thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, và 10 năm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức, nền kinh tế đất nước đã có bước phát triển,
đất nước đã thóat khỏi vạch nghèo để trở thành nước có thu nhập
trung bình thấp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết
“Kinh tế tri thức - xét từ góc độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất” của Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Triết học, số 3 - 2003); “Kinh
tế tri thức - thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam”
của GS.Đặng Hữu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004); “ Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Phát thảo lộ trình” của Trần
3
Đình Thêm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Quan điểm đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức - Bước phát triển mới trong đường lối tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng ta” của ThS. Lê Ngọc Anh
(Tạp chí Triết học, số 12 - 2006); “Biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất trong phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Thừa Thiên Huế (Luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Tuấn Ngọc, bảo vệ tại trường Đại học khoa học Huế năm
2008); “Thế nào là một nước công nghiệp” của GS.Đỗ Quốc Sam
(Tạp chí Cộng sản, số 5 - 2009); “Kinh tế tri thức và thực hiện phát
triển kinh tế tri thức ở nước ta” của GS.TS.Trần Ngọc Hiên (Tạp chí
Cộng sản, số 8 - 2010); “Luận điểm “Khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp” của C.Mác và sự vận dụng ở nước ta hiện nay”
của TS.Trần Đắc Hiến (Tạp chí triết học, số 1 - 2011); “Công nghiệp
hóa theo hướng hiện đại và sự phát triển bền vững” của
GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Cộng sản, số 9 - 2011)
Đây là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở, là nền tảng cho để tôi
hoàn thành đề tài luận văn của mình.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Phân tích và làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Trên cơ sở đó, vạch rõ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết.
5
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC HIỆN NAY
1.1. Phương thức sản xuất và quy luật vận động của nó
1.1.1. Khái niệm phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình
sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định của xã hội loài người.
Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản
xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng. Trong
đó, lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được con người sử
dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất
bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ; tư liệu sản
xuất, trước và khoa học, công nghệ. Trong các yếu tố cấu thành lực
lượng sản xuất thì con người hay người lao động giữ vị trí hàng đầu
và quyết định, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến cải xã hội.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất, bao gồm: các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; các
quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; các quan hệ trong phân
phối sản phẩm lao động. Ba mặt quan hệ cấu thành quan hệ sản xuất
thống nhất, gắn bó với nhau tạo thành một hệ thống tương đối ổn
định. Trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ chi
phối và quyết định các quan hệ còn lại. Bên cạnh đó, quan hệ tổ chức
quản lý sản xuất và quan hệ phân phối về mặt sản phẩm lao động với
ta, biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cơ sở lý
luận vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
gắn với phát triển kinh tế tri thức.
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Công nghiệp hóa
Trong thực tiễn tiến hành công nghiệp hóa đến nay vẫn tồn tại
nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù “công nghiệp hóa”. Nhưng
chúng ta có thể hiểu, theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình
7
chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang nền
kinh tế công nghiệp làm chủ đạo. Theo nghĩa rộng hơn, công nghiệp
hóa là quá chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp)
sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công
nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp.
Kể từ khi hình thành cho đến nay, có thể chia công nghiệp hóa
thành hai loại hình lớn: Loại hình thứ nhất là công nghiệp hóa kiểu
truyền thống và loại hình thứ hai là công nghiệp hóa kiểu mới (hay
công nghiệp hóa hiện đại) với nhiều mô hình khác nhau. Tuy quá
trình tiến hành công nghiệp hóa trên thế giới còn nhiều hạn chế
nhưng lịch sử khắc nghiệt của kinh tế thế giới đã chứng minh rằng:
Bất cứ một nước chậm phát triển nào muốn đạt tới trình độ phát
triển đều phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch sử là công
nghiệp hóa. Đó là yếu tố quan trọng và là con đường duy nhất để
thóat khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu.
Về bản chất, quá trình công nghiệp hóa có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, quá trình công nghiệp hóa không chỉ liên quan đến phát triển
công nghiệp mà là quá trình bao trùm cả các ngành, các lĩnh vực hoạt
động của một nước. Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai
của hiện đại hóa là công nghiệp hóa gắn liền với đổi mới căn bản về
công nghệ, phát triển mạnh mẽ các ngành có hàm lượng khoa học và
công nghệ cao. Tạo nên bước phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, từ đó thay đổi luôn quan hệ sản xuất, hình thành nên phương thức
sản xuất mới tiến bộ hơn.
Đối với một số quốc gia đi sau trong việc tiến hành công nghiệp
hóa, họ đã lựa chọn tiến hành công nghiệp hóa song song với hiện đại
hóa để có thể bắt kịp các nước đi trước. Ở các quốc gia này, xét toàn
cục, hiện đại hóa chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của
quá trình công nghiệp hóa mà thôi.
1.3. Kinh tế tri thức
1.3.1. Khái niệm và đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Ngay từ khi xuất hiện nền kinh tế tri thức, có rất nhiều quan điểm
khác nhau về khái niệm “kinh tế tri thức”. Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (OEDC) đưa ra định nghĩa: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong
đó sự sản sinh ra công nghệ, phổ cập và sử dụng tri thức giữa vai trò
quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra nhiều của cải, nâng
cao chất lượng cuộc sống. Ngân hàng Thế giới (WBI) cho rằng: Nền
9
kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa vào tri thức như là động lực chính cho
sự tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó tri thức được lĩnh hội,
sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển.
Do tính mới của nền kinh tế tri thức và thực tiễn nền kinh tế tri
thức chưa phát triển hoàn thiện nên các quan niệm về kinh tế tri thức
vẫn chưa hoàn chỉnh và thời gian tới sẽ còn nhiều biến đổi, mở rộng
hơn. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận diện nền kinh tế tri thức qua
các đặc trưng sau: trong nền kinh tế tri thức, tri thức cùng với khả
năng sáng tạo ra tri thức của con người, thông tin và khoa học công nghệ trở thành vốn quý nhất và là nguồn lực hàng đầu để tăng
là cơ sở khoa học của đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức
Đối với Việt Nam, Đảng ta xác định công nghiệp hóa là nhiệm
vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ
sở nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, vai trò của khoa học và công nghệ, của kinh
tế tri thức. Đại hội XI của Đảng một lần nữa có bước đổi mới về tư
duy khi khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên,
môi trường. Hướng đến mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất theo
hướng hiện đại, thực hiện xã hội hóa sản xuất về mặt kinh tế - kỹ
thuật, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp, đảm bảo tính
định hướng xã hội chủ nghĩa trong suốt tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại.. Tất cả vì dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Đây cũng chính là mục tiêu cao nhất
mà chúng ta hướng đến trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đã đề ra của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức, chúng ta cần thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau: Thứ
nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Thứ hai,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ ba, lấy
phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
11
nhanh bền vững.Bốn là, phát triển khoa học và công nghệ là nền
cực về mặt xã hội như khoảng cách giàu nghèo tăng lên, cạnh tranh
12
khiến nhiều doanh nghiệp bị phá sản, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, ô
nhiễm môi trường lan rộng.
2.2.2. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra với quy mô lớn
chưa từng có trong lịch sử, làm thay đổi kết cấu kinh tế thế giới. Đối
với nước ta, việc kết hợp tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội với những
thành tựu mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại mang lại
là một vấn đề quan trọng tạo ra cơ hội cho chúng ta đi tắt, đón đầu, rút
ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh chónh của khoa học và công
nghệ sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn không chỉ trên thế giới mà
còn ở trong khu vực. Đây là thách thức lớn nhất khi chúng ta tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh phát
triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.
2.2.3. Kinh tế tri thức
Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế tri thức là cơ hội chưa từng
có của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để Việt Nam
có thể “đi tắt, đón đầu” trên con đường phát triển kinh tế và thu hẹp
dần khoảng cách với các nước đi trước. Bởi nền kinh tế tri thức làm
xuất hiện khả năng phát triển đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Nền kinh tế tri thức cũng làm
biến đổi sâu sắc về sở hữu và phân phối, tạo nên sự bình đẳng trong
xã hội, góp phần tăng năng suất lao động - một nhân tố quyết định
thắng lợi cuối cùng của một chế độ xã hội. Kinh tế tri thức cho ta cơ
hội để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ cấp bách, bức xúc,
cũng như những nhiệm vụ cơ bản lâu dài trong quá trình công nghiệp
nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để phát triển một
số ngành công nghiệp quan trọng. Bên cạnh đó, truyền thống, bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam là nền tảng cho sự phát triển các khả năng
sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh
tranh quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những
ngành, những lĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn.
Bên cạnh những thuận lợi có được, Việt Nam cũng đang đứng
trước những khó khăn. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Nền kinh
tế phụ thuộc và sản xuất giản đơn, dựa trên lao động không có kỹ
năng, năng suất thấp và năng lực tiếp thu và phát triển công nghệ yếu
14
kém. Là nước tiến hành công nghiệp hóa muộn, Việt Nam gặp phải
những bất lợi trong cạnh tranh quốc tế, do năng suất thấp, chất lượng
sản phẩm thấp, hàm lượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao.
Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta
phải đối mặt với các vấn đề về tài nguyên - môi trường, dân số và
công ăn việc làm ngày càng gay gắt.
2.3. Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn
2011 - 2015
2.3.1. Thành tựu và hạn chế của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
* Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Trong những năm qua, có thể thấy tỷ trọng trong GDP của ngành
nông nghiệp đã giảm nhanh, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng
nhanh, tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều. Đây là dấu
tổng thể, nguồn lao động ở nước ta số lượng lớn, nguồn lao động qua
đào tạo và có trình độ chuyên môn cao ngày càng tăng. Việc phát
triển khoa học và công nghệ đã được quan tâm, đưa vào áp dụng
trong thực tế, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt. Tuy nhiên,
chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định đến trình độ của lực
lượng sản xuất, sự phát triển của khoa học và công nghệ vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, đang là điểm nghẽn cản trở
việc thực hiện các mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
* Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Các yếu tố thị
trường và các loại thị trường tiếp tục hình thành và phát triển. Góp
phần giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực; hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, trong cơ cấu và chuyển dịch
cơ cấu thành phần kinh tế cũng còn những hạn chế và đặt ra một số
vấn đề cần giải quyết. Khiến cho nền kinh tế thị trường hiện vẫn là
nhân tố cản trở quá trình phát triển.
* Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
16
kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường Dù đã có những bước
tiến trong công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường nhưng vấn đề về
suy thóai môi trường vẫn là nỗi bức xúc trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu
vẫn là mối quan ngại lớn nhất, là nhân tố đang đe doạ sự phát
triển bền vững của đất nước. Tất cả gây ảnh hưởng lớn đến các
17
nhanh và bền vững. Đảm bảo cho chất lượng cũng như tính bền vững
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức.
Trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất; những định hướng của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bối
cảnh trong nước cũng như quốc tế. Tôi xin đề xuất một số giải pháp
để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát
triển kinh tế tri thức như sau:
Thứ nhất, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế. Đây là “chìa khóa”
cho mọi phát triển của Việt Nam trong thời gian tới.
Thứ hai, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó phát triển kinh tế nhà
nước và kinh tế tập thể để chúng trở thành nền tảng của nền kinh tế.
Nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện hệ thống pháp
luật, hệ thống các chính sách, phát triển đồng bộ các loại thị trường
đặc biệt là thị trường vốn, khoa học - công nghệ và thị trường lao
động. Đây là những thị trường quan trọng góp phần đẩy nhanh quá
trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta.
Thứ ba, đẩy nhanh hơn nữa công cuộc đổi mới hệ thống giáo
dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; xây dựng nền giáo dục tiên
tiến, hiện đại, tạo điều kiện để mọi cá nhân được học tập suốt đời.
Quá trình giáo dục phải chú trọng đến việc bồi dưỡng, rèn luyện, xây
dựng năng lực tự học, chú ý đến phát triển năng lực sáng tạo hình
thành kỹ năng học tập suốt đời, kỹ năng phối hợp, chia sẻ và ứng
dụng những thông tin, tri thức. Gắn đào tạo lý thuyết với thực tế, tăng
cường tính thích ứng của giáo dục đại học với sự phát triển mạnh mẽ
môi trường, chú trọng công tác dự báo và ứng phó với quá trình biến
đổi khí hậu. Xử lý mạnh tay và triệt để những cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm môi trường.Nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý của Nhà
nước đối với công tác môi trường. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác
tuyên truyền nâng cao vai trò và nhận thức của toàn dân đối với vấn
đề bảo vệ môi trường.
19
Thứ bảy, chủ động hội nhập sâu vào quá trình phân công lao
động quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại. Chủ động và khẩn trương
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản
lý để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy tối đa lợi thế so sánh
của nước ta. Cải thiện môi trường kinh doanh, khẩn trương đổi mới
và xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp, xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch về phẩm chất, vững mạnh về chuyên môn. Xử lý
hài hoà mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
Các giải pháp này có mối gắn kết chặc chẽ với nhau, cần được
tiến hành đồng thời và lồng ghép mới có thể đem lại những kết quả
khả quan cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn
với phát triển kinh tế tri thức.
KẾT LUẬN
Qua quá trình nghiên cứu lý luận về mối quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và sự vận dụng lý luận
này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn
với phát triển kinh tế tri thức hiện nay, chúng ta có thể đưa ra những
kết luận sau:
Chủ trương thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn
với phát triển kinh tế tri thức của Đảng là sự vận dụng một cách sáng
gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Từ đó, phát huy được tối đa những lợi thế vốn có của đất nước,
phát huy cao độ tiềm năng trí tuệ nội sinh của dân tộc, khơi dậy được
những sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam, “cởi trói sức
dân”, tận dụng tốt những thời cơ của quá trình toàn cầu hóa kinh tế,
của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và nền kinh tế tri thức
mang lại. Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất sẽ phát triển một
cách toàn diện, quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện phù hợp với
trình độ mới của lực lượng sản xuất. Tất cả sẽ tạo nên sức mạnh tổng
hợp mở đường cho kinh tế tri thức phát triển, “rút ngắn” quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.