1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập.
Tác giả luận văn
2
MỤC LỤC
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KCN
:
Khu công nghiệp
KCX
:
Khu chế xuất
UBND
:
Ủy ban nhân dân
TW
:
Trung ương
CNH – HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn, công nghệ, kiến thức quản lý và marketing là những điều kiện hàng đầu
để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mọi địa
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về các vấn đề có
liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở phạm vi quốc gia cũng
như ở địa bàn cấp tỉnh, luận văn đề xuất những phương hướng, giải pháp tăng
cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp tỉnh
Kiên Giang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là FDI, những lý luận và thực
tiễn về việc thu hút FDI vào tỉnh Kiên Giang.Đề xuất phương hướng, giải pháp
tăng cường thu hút FDI vào địa bàn tỉnh.
Luận văn nghiên cứu tình hình thu hút FDI từ trước đến nay vào địa bàn tỉnh,
và đề ra các biện pháp tăng cường thu hút FDI.
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập, phân tích các tài liệu, chính sách, số liệu có liên quan đến đề tài
làm cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài. Tiếp theo là thu thập các số
liệu, báo cáo về FDI ở các khu công nghiệp tỉnh Kiên Giang để phân tích, đánh
giá hiện trạng của nguồn vốn này. Ngoài các phương pháp cơ bản thường được
sử dụng trong nghiên cứu kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin (duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử), luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát thực tế. Đồng thời nghiên
cứu và học hỏi các công trình khoa học có liên quan.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
8
tư) có một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý
tài sản đó. Phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác.Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở
nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư
thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi
nhánh công ty”.
Tại Việt Nam, theo Luật đầu tư 2005 thì: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác
vào Việt Nam và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.”
10
1.1.1.2. Đặc điểm
- Đây là hình thức đầu tư được thực hiện chủ yếu bằng nguồn vốn tư nhân,
chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, về
lỗ, lãi. Là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả cao, không có những ràng
buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần trực tiếp cho nền kinh tế.
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư (doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài) hoặc tham gia điều hành (doanh nghiệp liên
doanh) tùy theo tỷ lệ vốn góp của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ
đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh
vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước
ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% còn lại do nước nhận đầu tư nắm giữ. Trong
khi đó Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình
thức 100% vốn nước ngoài và quy định phía nước ngoài phải góp tối thiểu 30%
vốn pháp định của dự án (đối với hình thức liên doanh).
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận
được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…là những mục
tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
thành lập theo hình thức công ty TNHH có tư cách pháp nhân theo luật pháp
nước chủ nhà.
- Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,
thực hiện những hợp đồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (B.O.T). Những
dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện
thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
12
1.1.2.2. Phân theo bản chất đầu tư
- Đầu tư phương tiện hoạt động: Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới
ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.
- Mua lại và sát nhập: Là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó hai
hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sát nhập vào nhau hoặc một
doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động của nước nhận đầu tư hay ở nước
ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này
không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.
1.1.2.3. Phân theo tính chất dòng vốn
- Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công
ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết
định quản lý của công ty.
- Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dung lợi nhuận thu được
từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty
con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua
cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.1.2.4. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
- Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài
được thì trường cung cấp nguyên liệu dồi dào ổn định với giá rẻ.
đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư, các
chủ đầu tư trực tiếp sản xuất được sản phẩm với giá thành hạ thấp hơn so với sản
xuất trong nước.
14
Xét cho cùng thì mục tiêu chủ yếu của các chủ đầu tư ra nước ngoài là
làm cho đồng vốn được sử dụng với hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội cao nhất.
Cũng chính vì thế, ngay cả ở các nước đi đầu tư tình trạng thất nghiệp tăng mạnh
nhưng họ vẫn tìm kiếm lao động ở nước ngoài, vẫn đem vốn đi đầu tư trong khi
lại thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.
1.1.3.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư
Các nước đang phát triển đều thiếu vốn cho công cuộc xây dựng đất nước
và phát triển kinh tế. Việt tiếp nhận đầu tư nước ngoài đem lại những lợi ích to
lớn cho nước nhận đầu tư
Đầu tư nước ngoài giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã
hội do tích lũy nội bộ thấp. Điều này đã hạn chế quy mô đầu tư và đổi mới kỹ
thuật trong điều kiện nền khoa học kỹ thuật thế giới đang phát triển mạnh. FDI là
nguồn bổ sung quang trọng, khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài, giúp cho các
nước thoát khỏi cảnh nghèo đói và góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển.
Cùng với việc cung cấp vốn thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, các công ty đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc các nước khác
sang nước nhận đầu tư. Chính nhờ sự chuyển giao này mà các nước chủ nhà tiếp
nhận được kỹ thuật tiên tiến (trong đó có những công nghệ không thể mua được
bằng quan hệ thương mại đơn thuần), kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing,
đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật,
phương pháp làm việc, kỷ luật lao động …).
chủ nhà. Còn nước chủ nhà chưa có kinh nghiệm, còn có nhiều sơ hở trong quản
lý hoạt động các cơ sở có vốn FDI.
16
- Lợi dụng sự yếu kém, thiếu kinh nghiệm quản lý và trong luật pháp của
nước chủ nhà, tình trạng gian lận, trốn thuế, khai thác tài nguyên bừa bãi, nạn ô
nhiễm môi trường cùng với những lợi ích khác của nước chủ nhà bị vi phạm.
1.2. Những vấn đề chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và bản chất của việc
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thu hút FDI là hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào
một quốc gia. Hoạt động FDI được thực hiện thông qua các dự án FDI mà người
ra quyết định đầu tư chính là các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy bản chất của
hoạt động thu hút FDI là hoạt động thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vốn và trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại quốc gia
nước sở tại.
1.2.2. Đặc điểm của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm 5 đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đây là một hoạt động có định hướng dựa trên chiến lược phát
triển và mục tiêu thu hút FDI. Dựa trên cơ chế chính sách và pháp luật để thực
hiện thu hút FDI.
Thứ hai, hoạt động này được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và
phong phú và được thực hiện bởi nhiều cấp, ngành của nước sở tại.
Thứ ba, “cùng có lợi” được coi là nguyên tắc cơ bản để giải quyết các
quan hệ giữa các bên trong quá trình thu hút FDI.
Thứ tư, có sự gặp gỡ, cọ xát giữa các nền văn hóa khác nhau trong quá
trình thực hiện hoạt động.Có sự tham gia của nhiều bên với nhiều ngôn ngữ và
quốc tịch khác nhau.
hoặc thông qua sự tác động tới các lĩnh vực có liên quan khác của nền kinh tế
như lĩnh vực thương mại, lĩnh vực tài chính-ngân hàng…Khủng hoảng cũng có
tác động rất khác nhau tới môi trường đầu tư, tác động tới đầ vào và đầu ra của
mỗi dự án FDI. Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới hoặc khu vực tiếp tục tăng trưởng
18
cao làm cho các hoạt động giao dịch trong khu vực và thế giới sôi động, thì kim
ngạch đầu tư sẽ đạt mức tăng trưởng cao¸tạo cơ hội tốt cho các nước thu hút
FDI.
* Hướng chuyển dịch của dòng FDI quốc tế.
Một quốc gia có nằm trong hướng chuyển dịch của dòng vốn FDI quốc tế
không là nhân tố bên ngoài đầu tiên có ý nghĩa quyết định khả năng thu hút FDI
của một quốc gia. Hướng chuyển dịch của FDI thế giới nói chung quyết định
mức độ tăng giảm sự phát triển của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài của các
nước trên thế giới.
Hiện nay, cơ cấu kinh tế trên thế giới đang dịch chuyển nghiêng về xu thế
phát triển mạnh kinh tế dịch vụ, lĩnh vực FDI cũng thay đổi theo từ lĩnh vực
truyền thống (trong đầu thế kỷ XX) sang lĩnh vực dịch vụ và các ngành có hàm
lượng công nghệ cao (từ những năm 80 đến nay). Trong đó, hoạt động đầu tư
vào các ngành dịch vụ có xu hướng tăng nhanh hơn so với đầu tư vào các ngành
công nghiệp chế tạo. Trước sự thay đổi này của dòng FDI trên thế giới buộc các
nước tiếp nhận đầu tư phải tính đến cơ cấu ngành thích hợp khi thu hút dòng vốn
này.
1.2.3.2.Các nhân tố liên quan đến nước tiếp nhận đầu tư
Đây là các nhân tố cơ bản quyết định đến khả năng thu hút FDI của một
quốc gia. Những nhân tố này được coi như là những nhân tố bên trong tác động
trực tiếp tới sự di chuyển của dòng FDI vào một quốc gia.
* Chiến lược thu hút vốn phục vụ phát triển kinh tế.
* Các nhân tố thuộc môi trường đầu tư quốc gia.
20
Trong các nhân tố của môi trường đầu tư quốc gia nói trên, các nhân tố chính
ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút FDI đó là:
•
Nhân tố về mặt pháp lý:
Đây là một trong những nhân tố quan trọng của môi trường đầu tư, nó bao
gồm các văn bản pháp luật, văn bản quản lý hoạt động đầu tư (VD như: hướng
dẫn đầu tư, thẩm định dự án, cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý các hoạt
động đầu tư,…) nhằm tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ và thuận lợi nhất cho
hoạt động FDI.
•
Nhân tố về cơ sở kết cấu hạ tầng
Một trong những công cụ quan trọng nhất để thu hút FDI chính là cơ sở hạ
tầng. Trừ các nhà đầu tư nước ngoài chuyên kinh doanh trong lĩnh vực hạ tầng
thì sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia tiếp nhận FDI luôn
là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua
các quyết định để tiến hành triển khai trên thực tế các dự án đầu tư. Hệ thống cơ
sở hạ tầng phát triển phải bao gồm: hệ thống giao thông vận tải phát triển với các
cầu, cảng, đường xá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia
và đủ tầm hoạt động quốc tế; hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với
các phương tiện nghe-nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và
toàn cầu; hệ thống điện nước dồi dào và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh cũng như đời sống và một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại
nhiều và hiệu quả hơn dòng vốn nước ngoài. Hệ thống các doanh nghiệp đó phải
bao gồm cả những doanh nghiệp sản xuất lẫn dịch vụ ở tất cả các lĩnh vực, ngành
nghề và thành thạo các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, đủ sức giữ được thị phần
thích đáng tại thị trường trong nước và ngày càng có sức cạnh tranh quốc tế.
•
Nhân tố thuộc về vị trí địa lý và tự nhiên.
Các nhân tố này bao gồm: yếu tố sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên,
nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, vị trí thuận lợi cho hoạt động vận chuyển,
giao thương, điều kiện về khí hậu thời tiết… Những nhân tố này có ảnh hưởng
22
thuận lợi hoặc khó khăn trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất.Vì vậy, nó
cũng có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư.
1.3.Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp
1.3.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của khu công nghiệp
1.3.1.1.Khái niệm khu công nghiệp
Theo luật Đầu tư 2005 định nghĩa:
“Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo quy định của Chính phủ”
Theo quy chế KCN, KCX ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN, KCX được hiểu như sau:
“Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanh
doanh nghiệp khác thuê lại.
Cuối cùng, KCN chịu sự quản lý trực tiếp của Ban quản lý các KCN cấp tỉnh
nằm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đây là cơ quan trực tiếp thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với sự hoạt động sản xuất kinh doanh
trong các KCN, ngoài rat ham gia vào quản lý các KCN tập trung còn có nhiều
Bộ như Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Bộ Thương Mại, Bộ Xây Dựng…
24
1.3.1.3.Vai trò của khu công nghiệp
Thứ nhất, KCN phát triển thúc đẩy các vùng kinh tế mới của mỗi quốc gia,
tạo lập và thúc đảy các mối liên kết tích cực, trực tiếp và gián tiếp giữa các cơ
sở kinh doanh trong và ngoài KCN để tọa ra những xung lực mới cho nền kinh
tế. Chính sự liên kết này đã tạo cho KCN một khả năng tận dụng các nguồn lực
trong nước, những nguồn lực được dử dụng kém hiệu quả ở nơi khác. KCN sẽ là
đầu tầu kéo theo sự phát triển của vùng lân cận và các vùng khác của mỗi quốc
gia. Như vậy, KCN có tác động lan tỏa đối với các vùng lân cận và cả nền kinh
tế chứ không chỉ ở năng suất lao động, hay thu nhập của người lao động tăng cao
hơn.
Thứ hai, KCN thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần hiện đại hóa hệ
thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN.
Thứ ba, KCN góp phần giải quyết việc làm thông qua việc sử dụng một lực
lượng lướn lao động tại chỗ, tại thêm nhiều việc làm mới, tạo thu nhập cho người
lao động và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động, đào tạo kỹ năng, tay nghề cho
người lao động, tạo cầu cho sự phát triển nhiều ngành nghề dịch vụ.
Thứ tư, với việc ứng dụng công nghệ cao, mô hình sản suất, quản lý khoa
học trong KCN sẽ giúp nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản
lý sản xuất.
hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư, thời gian trung bình để được cấp giấy
chứng nhận đầu tư, sự hỗ trợ của Chính phủ, chính quyền địa phương cũng như
các tổ chức môi giới…Trong việc triển khai dự án, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới