IH
TRƢ
QU
GI H N I
Ọ
Ọ T
-----------------------
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
Á
ÁT
C TR NG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ T I MỘT SỐ BỆNH VIÊN
TR
VÀ
ỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Ề XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
U
1.5.2. Thực trạng công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam ...............23
1.5.3. Biện pháp xử lý chất thải y tế ..................................................................27
ƢƠ
2. Ố TƢỢ
VÀ P ƢƠ
P ÁP
ỨU ...................32
2.1. ối tượng nghiên cứu .....................................................................................32
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................33
2.3. Nội dung đề tài ...............................................................................................34
2.4. Xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá ...............................................35
2.5. Xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí ................................................39
2.6. Xác định mức độ tuân thủ của từng hoạt động...............................................40
2.7. Công thức tính toán tổng hợp về công tác quản lý môi trường theo từng hoạt
động của tiêu chí ....................................................................................................40
2.8. Thiết kế thông tin yêu cầu của phiếu điều tra khảo sát ..................................40
ƢƠ
3.
ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LU N ..............................42
3.1. Giới thiệu chung về tỉnh Thái Nguyên ...........................................................42
3.1.1. Cơ cấu dân số ..........................................................................................42
nâng cấp các bệnh viện là một nhu cầu thiết yếu và cần thiết của xã hội đối với việc
chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân, song sự phát triển ồ ạt dẫn tới
việc không đồng bộ của hoạt động bộ máy, đặc biệt bảo vệ môi trường luôn là vấn
đề được đặt ra sau cùng trong quá trình phát triển này.
ể đáp ứng được nhu cầu phát triển các bệnh viện trên địa bàn tỉnh, các bệnh
viện, cơ sở y tế không ngừng được nhà nước và chính quyền địa phương trang bị và
nâng cấp về thiết bị, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực… Tuy nhiên, việc thực hiện
công tác bảo vệ môi trường dường như lại được ít quan tâm hơn cả. hính vì thế,
các bệnh viện trên địa bàn tỉnh hàng ngày vẫn luôn thải ra một lượng lớn các chất
thải đặc biệt là các chất thải nguy hại như: chất thải nhiễm khuẩn (chiếm khoảng
10%), chất thải gây độc hại như chất gây rối loạn nội tiết, chất gây độc tế
bào…(chiếm khoảng 5%), các loại dược phẩm (chiếm 5%) và các chất thải y tế…
Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây đã tiến hành
điều tra về thực trạng cũng như các ảnh hưởng của chất thải bệnh viện đối với môi
trường. ác nghiên cứu đó đã phần nào cho thấy được những tồn tại trong công tác
quản lý chất thải bệnh viện. Song việc đưa ra một bức tranh tổng quát để cho thấy
việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các bệnh viện vẫn còn chưa được rõ
nét. Là học viên cao học của tỉnh, tôi mong muốn đóng góp công sức của mình để
thực hiện công cuộc phát triển bền vững tại địa phương.
ề tài "Đánh giá thực
trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý” được đặt ra tập
chung vào nghiên cứu các bệnh viện đa khoa là phù hợp với chính sách bảo vệ và
khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải y tế của hính phủ ban hành
theo Quyết định số 64/2003/Q -TTg ngày 22/4/2003, về việc phê duyệt kế hoạch
xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng [13].
3
được đặc tính nghiêm trọng của chất thải y tế, và không có sự phân biệt với các loại
chất thải khác.
Do đó, khái niệm này đã được thay đổi vào năm 2007 và Chất thải y tế được
hiểu là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất
thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Theo cách nhìn này thì chất thải y tế
được nhấn mạnh gồm có cả chất thải nguy hại.
hất thải y tế nguy hại được định
nghĩa là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường
như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mũn hoặc có đặc
tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn. (nguồn:
Quy chế Quản lý chất thải y tế, ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
Mặc dù được phân thành 2 loại chính là chất thải nguy hại và chất thải thông
thường, tuy nhiên chỉ có khoảng từ 10-25% các chất thải y tế được xác định là chất
thải nguy hại theo Thông tư mới nhất số 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý
chất thải nguy hại ngày 14 tháng 4 năm 2011 thì chất thải y tế nằm trong danh mục
các chất thải nguy hại có mã số
4020 - Y1, chỉ trừ các loại chất thải sinh hoạt
thông thường. òn lại khoảng 75% - 90% chất thải y tế được phát sinh từ các cơ sở
y tế là không nguy hại còn gọi là chất thải y tế "chung" như chất thải sinh hoạt.
5
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
hất thải y tế có rất nhiều thành phần rất phức tạp nên cần được phân ra thành
khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
- hất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm
dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
6
- hất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại ): Là chất thải phát sinh trong các
phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
-
hất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
* Chất thải hoá học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- hất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế
- hất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc
gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu
- hất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi ( d) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ
bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình
ảnh, xạ trị).
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh
từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy,
O2, bình ga, bình khí dung.
ác bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
Việc phân loại theo thành phần có trong chất thải cũng được sử dụng để phù
hợp với một số mục đích như tách riêng các thành phần chất thải khi đem đi xử lý
hoặc để thống kê được lượng tiêu thụ từng loại. Phân loại theo cách này có thể chia
thành phân loại theo thành phần vật lý, thành phần hoá học và thành phần sinh học.
* Phân loại theo thành phần vật lý
- ồ bông vải sợi: Gồm băng, gạc, bông, quần áo cũ, khăn lau, vải trải
- ồ giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
- ồ thuỷ tinh: hai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thuỷ tinh, ống nghiệm
- ồ nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng
- ồ kim loại: Kim tiêm, hộp đựng, dao mổ, cưa…
- Thành phần tách ra từ cơ thể: Máu mủ dính ở băng gạc, bộ phận cơ thể cắt bỏ
- Rác rưởi lá cây, đất đá…
* Phân loại theo thành phần hoá học
- Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai thuỷ tinh, sỏi đá, hoá chất, thuốc thử
- Những chất hữu cơ: ồ vải, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa
- Nếu phân tích nguyên tố thì có những thành phần: , H, O, N
* Phân loại theo thành phần sinh học:
8
Theo thành phần sinh học gồn có các loại: máu, những loại dịch tiết, những
động vật thí nghiệm, phần cơ thể cắt bỏ và đặc biệt là những vi trùng gây bệnh…
1.2. guồn phát sinh chất thải y tế từ các hoạt động trong bệnh viện
Rác thải y tế là một loại chất thải đặc biệt sản sinh ra trong quá trình tiến hành
các hoạt động chữa bệnh và phòng bệnh. Rác thải y tế chủ yếu là loại chất thải nguy
hại cần được xử lý triệt để trước khi thải vào môi trường.
Rác thải y tế chủ yếu là rác thải bệnh viện hiện nay đang gây sự quan tâm lo
lắng cho nhân dân, đặc biệt là từ khi có sự xuất hiện của đại dịch
hất thải y tế nguy hại
(kg/giường bệnh/ngày)
0,16
0,14
0,11
0,14
(Nguồn [17])
Trong số các bệnh viện hiện nay có tới 815 bệnh viện không có hệ thống xử lý
chất thải hoặc có nhưng không hoạt động, hoặc hoạt động không thường xuyên,
không có hiệu quả. Trung bình một bệnh viện nhỏ thải ra vài trăm kg rác, một bệnh
9
viện trung bình thải ra 600 - 800kg rác, bệnh viện lớn có hơn 1 tấn một ngày. Khối
lượng chất thải của từng bệnh viện phụ thuộc vào các yếu tố của bệnh viện như:
chuyên khoa của bệnh viện, giường bệnh, lưu lượng bệnh nhân, kỹ thuật điều trị,
khí hậu thời tiết, phong tục tập quán v.v... [2].
Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát tại 280 tại bênh viện trên cả nước cho thấy tỷ lệ
phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau.
Lượng chất thải rắn bệnh viện phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh mỗi ngày
vào khoảng 429 tấn chất thải rắn y tế, trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại
phát sinh ước tính khoảng 34 tấn/ngày. Nếu phân chia lượng chất thải rắn y tế nguy
hại theo địa bàn thì 35% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và thành
phố Hồ
hí Minh; 65% còn lại ở các tỉnh thành khác. Mặt khác, nếu phân lượng
cộng đồng
ình 1.1. Sơ đồ tổng quan về nguồn phát sinh chất thải bệnh viện và tác động
của chúng đến môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời
Sự phát sinh Rác thải y tế từ các hoạt động chuyên môn của bệnh viện và các
nghiên cứu rất đa dạng song chưa được điều tra và thống kê đầy đủ. Sơ bộ có thể
liệt kê như sau:
-
hất thải khoa điều trị: gạc, bông băng dính máu mủ, mủ hoại tử, tổ chức
hoại tử đã cắt lọc, kim tiêm, bơm tiêm, ống thuốc, thuốc thừa. ác dịch, bệnh phẩm,
túi đựng.
- hất thải phòng mổ: bông nhiễm khuẩn, mủ, tổ chức hoại tử, các phần cắt bỏ
của cơ thể, máu, dịch, thuốc, hoá chất, kim tiêm, bơm tiêm.
- hất thải phòng khám: bệnh phẩm, mủ, các tổ chức hoại tử, bông băng, gạc
nhiễm khuẩn, dụng cụ, nẹp cố định, quần áo nhiễm khuẩn.
- hất thải khoa xét nghiệm huyết học: môi trường, máu, hoá chất chai lọ, kim
tiêm.
-
hất thải khoa xét nghiệm vi sinh, hoá sinh: bệnh phẩm, phân, nước giải,
máu mủ, đờm, hoá chất, môi trường nuôi cấy.
- hất thải phòng thí nghiệm: các xác động vật, các bộ phận cắt bỏ của động
vật, các chất thải của quá trình sản xuất văc - xin.
11
* Tác động đối với môi trường không khí
hất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu đến môi trường không khí. Khi phân loại tại nguồn, thu gom,
vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa
chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HX,
NOX,
ioxin, furan… từ lò đốt và
H4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp. ác khí này
nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng
dân cư xung quanh.
Mặt khác, ở bệnh viện, đặc biệt khoa truyền nhiễm là nơi có chứa rất nhiều
mầm bệnh như: Streptococcus, Corynebacterium diphteriae, Mycobacterium
tuberculosis, Staphylococcus và không khí là môi trường truyền mầm bệnh vi
khuẩn, ngoài ra còn là yếu tố truyền mầm bệnh virus như virus cúm, virus sởi, quai
bị, có thể gây nên các vụ dịch lớn trong cộng đồng.
Môi trường không khí bệnh viện còn chịu tác động rất lớn của công tác xử lý
chất thải y tế:
- Rác bệnh viện vứt bừa bãi, tồn đọng sẽ gây các mùi hôi thối cho bệnh viện,
khu vực dân cư xung quanh và là ổ truyền nhiễm các loại dịch bệnh.
- Nước thải bệnh viện gây ô nhiễm không khí do quá trình phát tán các chất
độc hại bay vào không khí, mùi hôi thối từ các bể chứa nước thải, đường ống dẫn
nước thải từ các nơi phát sinh đến nơi tập trung.
- Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa/ phòng trong bệnh viện như khoa chẩn
đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một trong những
13
trong quá trình bảo quản, sử dụng và tuỳ theo nguồn nước mức độ ô nhiễm khác
nhau. Nguồn nước giếng đào bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân như cấu tạo địa chất,
chiều sâu của giếng, điều kiện vệ sinh xung quanh giếng, gần công trình vệ sinh, ý
thức vệ sinh, hoặc do nước ngầm nông bị ô nhiễm bởi các chất thải. Nguồn nước
giếng khoan lấy mạch nước ngầm sâu hơn nên thường sạch hơn nước giếng đào
nhưng có thể bị ô nhiễm bởi cấu tạo địa chất hoặc do việc khai thác sử dụng chưa
đảm bảo.
ối với nguồn nước máy ít bị ô nhiễm, tuy nhiên do các bể chứa không
sạch, ý thức vệ sinh chưa tốt làm vi sinh vật xâm nhập, sinh sản và gây ô nhiễm một
phần hoặc toàn bộ màng lưới phân phối nước. Như vậy các loại chất thải phát sinh
14
trong sinh hoạt, trong đó có nguồn chất thải từ bệnh viện không được quản lý, xử lý
tốt; ý thức vệ sinh chưa tốt sẽ là những nguyên nhân gây ô nhiễm nước sinh hoạt.
Nước thải bệnh viện luôn có những nguy cơ tiềm tàng:
Nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella, Shigella, dạng
oli, phẩy khuẩn,
liên cầu, các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện, tụ cầu, phế cầu, các chủng này ở
bệnh viện thường có tỷ lệ kháng kháng sinh cao; Nguy cơ nhiễm virus chủ yếu các
virus đường tiêu hoá (bại liệt, E HO, oxsackie ...), virus viêm gan A, virus gây ỉa
lỏng ở trẻ em Rotavirus; Nguy cơ nhiễm ký sinh trùng như amip, Lamblia, trứng
giun, sán
bệnh, các chất độc hại như hoá chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ... ác tác
nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường sau:
- Tác động trực tiếp: Qua các vết da bị trầy xước hoặc bị thương; Qua niêm
mạc (màng nhầy); Qua đường hô hấp (do hít phải); Qua đường tiêu hoá
- Tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường trong và ngoài bệnh viện hoặc
tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột…, thực phẩm.
Những đối tượng phơi nhiễm với chất thải y tế
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có
nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong các cơ sở y tế, những người làm
nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi
nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong khâu quản lý và
kiểm soát chất thải, bao gồm: Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của
bệnh viện; Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; Khách tới thăm hoặc người
nhà bệnh nhân; Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ
cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận
chuyển bệnh nhân; Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi
đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác.
Các loại hình rủi ro:
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.
Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản
sau: hất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại có trong
rác thải y tế;
ác loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm;
Các chất chứa đồng vị phóng xạ; Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương; hất thải có
yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội.
Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
ác vật sắc nhọn không những gây thương tích (các vết xước, xuyên thủng da)
cho người phơi nhiễm mà còn có thể làm nhiễm khuẩn tại các vị trí gây xước hoặc
cholera trứng giun, sán
Nhiễm khuẩn hô hấp
Trực khuẩn lao, virus sởi,
phế cầu
Nhiễm khuẩn mắt
Herpes
Nhiễm khuẩn da
Phế cầu
Nhiễm khuẩn sinh dục
Neisseria
gonorrhoeae,
Herpes
Bệnh than
Bacillus anthracis
Viêm màng não
AIDS
Não mô cầu
meningitidis)
HIV
17
Dạng chất thải
Phân và chất nôn
hất tiết đường hô
hấp, nước bọt
hất tiết ở mắt
Mủ
Dịch tiết sinh dục
(Nguồn: [13])
Tỷ lệ các tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dịch
vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quan ăng
ký các
ộc chất và Bệnh tật Hoa Kỳ ( TSDR) đánh giá. Nhiều tổn thương gây ra
do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa đó không
kín hoặc được làm bằng những loại vật liệu dễ bị rách, thủng.
Như đã trình bày ở trên, y tá và những nhân viên bệnh viện là những nhóm
nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương hàng năm của những đối tượng này
vào khoảng 10 – 20 phần nghìn.
ác nhân viên lao công và nhân viên xử lý chất
thải là những đối tượng có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất trong số các nhân
viên làm tại các cơ sở y tế, tỷ lệ hàng năm ở Mỹ là 180 phần nghìn. ho đến thời
điểm hiện nay thì ở Việt nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào phản ảnh
được tình trạng tổn thương do nghề nghiệp của các nhân viên y tế.
Nguy cơ từ các chất thải gây độc tế bào:
ối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất
thải gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng
sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và
khoảng thời gian tiếp xúc. Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế
có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt
hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu. Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải
hóa chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua
da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc, hoá
chất hoặc chất bẩn có tính độc. Việc nhiễm độc qua đường tiêu hoá là kết quả của
Aclarubicin, Chlormethine, Cisplatin, Mitomycin
Carmustine, Cyclophosphamide, Dacarbazine,
Ifosphamide, Melphalan, Streptozocin, Thiotepa
Asacrine, Dactinomycin, Daunorubicin,
Doxorubicin, Epirubicin, Pirarubicin, Zorubicin
Mitoxantrone
Vinblastine, Vincristine, Vindesine, Vinorelbine,
Epipodophyllotoxins.
Teniposide
(*)
(Nguồn: [13])
Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng và vận chuyển chất thải
genotoxic, việc đào thải những chất thải như vậy vào môi trường có thể gây nên
những hậu quả sinh thái thảm khốc.
19
Trong khi không có tài liệu khoa học nào cho thấy mức độ phổ biến của bệnh
tật gây ra do chất thải hoá chất hoặc dược phẩm từ các bệnh viện đối với cộng đồng,
thì nhiều trường hợp nhiễm độc quy mô lớn do chất thải hoá chất công nghiệp đã
xảy ra.
Tác động của chất thải hoá học và dược phẩm
Rất nhiều hoá chất và dược phẩm dùng trong các cơ sở y tế là chất nguy hại
như độc dược, chất gây độc tế bào, chất ăn mòn, chất dễ cháy, chất gây phản ứng,
gây nổ. ác chất này có thể gây nhiễm độc, gây các tổn thương như bỏng, gây sốc
da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp. ác tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các
vết bỏng.
ác chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này,
chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn.
ũng cần phải lưu ý rằng những loại hoá chất gây phản ứng có thể hình thành nên
các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao.
ác sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây
nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc
gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn
nước này.
Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm của
quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các
kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và tẩy uế.
Nguy cơ từ chất thải phóng xạ:
Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại
chất thải đối tượng và phạm vi tiếp xúc. Nó có thể là hội chứng đau đầu, hoa mắt,
chóng mặt và nôn nhiều một cách bất thường. Chất thải phóng xạ, cũng như chất
thải dược phẩm, là một loại độc hại tới tế bào, gen. Tiếp xúc với các nguồn phóng
xạ có hoạt tính cao ví dụ như nguồn phóng xạ của các thiết bị chuẩn đoán như máy
Xquang, máy chụp cắt lớp… có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳng hạn như
phá hủy các mô, nhiều khi gây ra bỏng cấp tính. ác nguy cơ từ những loại chất thải
có chứa các đồng vị có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt
của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu giữ của loại chất thải
này. Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác
khi phải tiếp xúc với chất thải có chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những
người có nguy cơ cao.
Chất thải phóng xạ có khả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền và gây
ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, hoa mắt chóng mặt, nôn.
21
trong xe thùng có nắp đậy.
Theo Ogawa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường khu vực
hâu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt TYT, chưa có khả
năng phân loại TYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải. Từ những năm 90,
22
nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo,
ustralia, Newziland đã đi đầu trong công
tác xử lí TYT, Malaixia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các
hệ thống xử lý rác thải thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo.
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý TYT đáng tin cậy như đốt rác
bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các
nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước hâu Á đã tìm ra một số
phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương
pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí
thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng
có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho
các bệnh viện về mối nguy hại của
TYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa
chọn phù hợp.
1.5.2. Thực trạng công tác quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam trong quá trình thiết kế và xây dựng nằm
trong giai đoạn đất nước còn nghèo, trải qua chiến tranh lại chưa có nhận thức đúng
nên đều không có phần xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình và ngày nay vấn
màu trong việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải [4] [5].
Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của
inh Hữu Dung (2003)
cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng
chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y tế và việc phân
loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện.
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về TYT ở 175 bệnh viện tại
14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể
chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%,
rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm
bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn TR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh
viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện. Hầu hết các
TR trong bệnh viện đều
không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt TYT
nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường.
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và
bệnh phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4
bệnh viện được kiểm tra nhưng oàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có
thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân. Ở Bệnh viện Việt
ức tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng.
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân
loại TYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9%. Phương tiện thu gom TYT
như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ,
hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý
TYT.