Lược sử ngoại giao việt nam các thời trước - Pdf 40

Tên sách: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 1996
LỜI GIỚI THIỆU
Hoạt động ngoại giao là một bộ phận quan trọng của đấu tranh dựng nước, giữ nước lâu
dài và anh dũng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu hoạt động đó trong sự phát triển phong
phú qua các thời kì lịch sử để rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết có thể vận dụng
kết quả cho hiện tại đó là một việc làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Tiếc rằng cho tới nay vẫn chưa có một công trình giới thiệu một cách có hệ thống và
tương đối toàn diện họat động ngoại giao Việt Nam trong tiến trình lịch sử, kể cả một
giáo trình về lịch sử ngoại giao nước ta để giảng dạy cho sinh viên ở Học viện Quan hệ
quốc tế cũng mớỉ bắt đầu được xây dựng.
Với “Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước”, nhà sử học Nguyễn Lương Bích đã
đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta muốn tìm hiểu lịch sử dân tộc nói
chung, lịch sử ngoại giao của dân tộc nói riêng.
Trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu gốc về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam và Trung
Quốc, nhà sử học Nguyễn Lương Bích vốn là chuyên gia có nhiều công trình nghiên cứu
giá trị về thời kì lịch sử này, đã giới thiệu khá cụ thể hoạt động ngoại giao của Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử, từ những ngày đầu các vua Hùng lập quốc đến khi thực dân Pháp
phát động chiến tranh xâm lược và hoàn thành đánh chiếm Việt Nam vào cuối thê' kỉ
XIX.
Thông qua các câu chuyện kể sinh động về những con người và những việc làm cụ thể,
người đọc ngày nay có điều kiện và cơ hội nhận rõ tâm lực, tài trí, bản lĩnh rất đáng tự
hào của cha ông xưa. Cũng qua đó nhận thức sâu sắc hơn về truyền thống tốt đẹp của
ngoại giao Việt Nam, một truyền thống được định hình ngay từ buổi đầu dựng nước,
ngày càng củng cố và phát triển, để đến khi bắt gặp ánh sáng của cách mạng thì càng có

1



Hậu Hán thư, Thiếu vi thống gián, Phương dư kỉ yếu, Việt kiệu thư, Cương mục tiền biên,
Ngự phê thông giám tập lãm.
Dựa theo truyền thuyết và theo sử sách của Trung Quốc, các sử gia Việt Nam cũng ñaõ
ghi lại những sự kiện trên trong: Lĩnh nam trích quái, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn
thư, Việt sử thông giám cương mục, Việt sử thông giám khảo lược)
Những sự tiếp xúc đối ngoại của dân tộc ta mà sử sách Trung Quốc ghi lại được chứng
minh rằng dân tộc ta đã dựng nước sớm, tiến hành ngoại giao cũng sớm và rất chủ động
trong ngoại giao. Với những dân tộc ở xa như Trung Quốc thời ấy, dân tộc ta cũng chủ
động cho sứ tới giao thiệp, không ngoài mục đích tỏ tình thân thiện giữa hai dân tộc.
Phong cách ngoại giao của ta thời Hùng Vương còn cho thấy dân tộc ta là một dân tộc
sớm có văn hiến, hiểu biết được những biểu tượng cao đẹp của tình cảm con người với
con người, của dân tộc này với dân tộc khác và biết sử dụng những biểu tượng đó làm
quà tặng trong giao tiếp đối ngoại. Từ thời bấy giờ, dân tộc ta đã có ý thức đoàn kết, hữu
nghị trong sáng, nhiệt tình và chân thành với tất cả các dân tộc, dù ở xa ta hàng vạn dặm.
Đường lối, chính sách và phong cách ngoại giao vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc
đã trở thành truyền thống đối ngoại của dân tộc ta. Trong quá trình phát triển lịch sử, mối
quan hệ của dân tộc ta với các dân tộc khác không phải lúc nào cũng hòa bình, phẳng
lặng, yên tĩnh; trái lại, ta cũng luôn luôn bị dân tộc này, dân tộc khác gây xung đột bằng
vũ lực, nhiều khi rất quyết liệt, tàn khốc. Nhưng khi xung đột chấm dứt, ta lại chủ động
giao hảo với những dân tộc thù địch để thiết lập lại quan hệ hòa bình hữu nghị, xóa bỏ
những hận thù dân tộc, có hại cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người.
Trong các thời đại xã hội có giai cấp, nhất là thời phong kiến, quan hệ đối ngoại giữa các
nước phổ biến là một thứ quan hệ bất bình đẳng "cá lớn nuốt cá bé", nước lớn xâm lược
nước nhỏ, xâm lược chưa được thì bắt nước nhỏ phải làm chư hầu, phiên thuộc, phải nộp
cống, phục dịch nước lớn. Nước lớn muốn gì, nước nhỏ phải cung phụng không dám trái:
vàng bạc, châu báu, những thú vật quý hiếm, kể cả bắt người làm nô lệ . . . đủ thứ. Giữa
các nước nhỏ với nhau, quan hệ tuy không căng thẳng lắm, nhưng cũng không tránh khỏi
diễn ra cảnh khiêu khích, xung đột, lấn chiếm lẫn nhau. Quan hệ đối ngoại của nước ta

4

5


Bộ nước ta ngày nay), quận Cửu Chân là miền Thanh - Nghệ - Tĩnh và quận Nhật Nam là
từ dãy Hoành Sơn trở vào.
Ngay từ khi quân nước ngoài bắt đầu xâm lược nước ta tới khi chúng đặt ách đô hộ, nhân
dân ta đã liên tiếp nổi dậy chống lại ách đô hộ của chúng khiến quân giặc phải tổn thất
nặng nề. Chúng phải luôn luôn đưa quân sang đàn áp các phong trào cứu nước của ta.
Sánh của Trung Quốc thời bấy giờ phải ghi nhận rằng “Quân lính miền Kinh Sở phải mệt
mỏi vì Âu Lạc” (Viên Khoan: Diêm thiết luận). Âu Lạc là tên nước ta thời An Dương
Vương (từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên). Kinh Sở là miền Hồ Bắc, Hồ Nam của
Trung Quốc ngày nay.
Từ những thế kỷ đâu Công nguyên, phong trào chống ngoại xâm, cứu nước của nhân dân
ta ngày càng sôi nổi. Các hoạt động vũ trang chống ngoại xâm, cứu nước diễn ra khắp
nơi. Có phong trào ở miền ngược, có phong trào ở miền xuôi, có phong trào do nam cầm
đầu, có phong trào do nữ lãnh đạo.
Những năm đầu Công nguyên, hai vị nữ anh hùng dân tộc là Hai Bà Trưng (Trưng Trắc,
Trưng Nhị) đã liên kết được phong trào yêu nước của nhiều địa phương, tạo thành một
phong trào cứu nước rộng lớn, đánh đuổi quân thù, giành được chủ quyền dân tộc trong
một thời gian.
Thế kỷ thứ II sau Công nguyên, phong trào cứu nước càng sâu rộng. Các thế lực đô hộ
Trung Quốc đã xóa bỏ chế độ lại tướng ở nước ta, nhưng chúng phải thừa nhận rằng
“Những thủ lĩnh người Việt vẫn hùng cứ nông thôn". Nhân dân bảy quận luôn luôn khởi
nghĩa. Có những phong trào tương đối lớn: của Chu Đạt ở Cửu Chân, của Chu Bá ở Giao
Chỉ. Có phong trào mở rộng ở cả bốn quận miền Bắc, quân số hàng vạn người, liên kết
được với một số quan lại người Trung Quốc cùng chống lại chính quyền đô hộ. Đặc biệt
là phong trào cứu nước của nhân dân ta ở vùng huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam.
Nước ta, từ thượng cổ đã có nhiều dân tộc. Nhân dân huyện Tượng Lâm, gồm có người
Việt, người Chàm và nhiều dân tộc khác ở dọc dải Hoành Sơn, người Chàm là đông hơn
cả. Huyện Tượng Lâm và cả quận Nhật Nam đều ở xa thủ phủ đô hộ của giặc đặt tại vùng

Nam, An Đông, An Tây, An Bắc, có nghĩa là dẹp yên phía Nam, phía Đông, phía Tây,

7


phía Bắc. Tên “An Nam” mà người nước ngoài trước đây dùng gọi có từ khi nhà Đường
xâm lược, thôn tính nước ta.
Chống lại một tập đoàn thống trị bành trướng, hiếu chiến cuồng bạo là rất khó khăn. Vậy
mà nhân dân ta vẫn luôn luôn khởi nghĩa. Trong thế kỷ thứ VII có các phong trào khởi
nghĩa do Lý Tự Tiên, Đinh Kiến lãnh đạo. Sang thế kỷ thứ VIII xuất hiện một phong trào
cứu nước lớn mạnh do Mai Thúc Loan lãnh đạo. Mai Thúc Loan là người anh hùng xuất
thân cùng khổ, nhưng anh dũng kiên cường và rất mực thông minh, tài trí. Đường lối,
phương châm tổ chức và lãnh đạo chiến đấu của Mai Thúc Loan có nhiều điểm khác với
các phong trào đã có từ trước. Nhân dân vùng Hoan - Diễn (tức vùng Nghệ - Tĩnh) là quê
hương Mai Thúc Loan đã có thơ ca ngợi người anh hùng họ Mai là:
"Anh hùng độc đáo
Thiên cổ lạ kỳ
Ngàn năm ít thấy
Vạn đại vẫn còn...”
Nhân dân đã nhận định rất đúng. Ở người anh hùng áo vải Mai Thúc Loan có rất nhiều
điểm độc đáo. Trước khi phất cờ khởi nghĩa, ông tập hợp một số bạn chiến đấu, cùng họ
lo xây dựng căn cứ địa, dựng thành đắp lũy và truyền hịch cứu nước đi khắp vùng Hoan Diễn. Người yêu nước ơû khắp nơi theo về ngày càng đông. Theo sách sử Trung Quốc và
truyền thuyết của ta thì mùa hè năm Quý Sửu (năm 713) (Tân Đường thư (sách sử Trung
Quốc), q.207, Dương Tư Húc truyện) Mai Thúc Loan bắt đầu ra quân đánh địch và thu
phục ngay được Châu Hoan (tức vùng Nghệ - Tĩnh ngày nay).
Trước thắng lợi rực rỡ ban đầu, các tướng lĩnh và toàn thể nghĩa quân yêu cầu vị anh
hùng trẻ tuổi Mai Thúc Loan lên ngôi Hoàng đế và họ tôn lên là Mai Đại Đế (tức ông vua
lớn họ Mai). Sau này, sử sách ghi ông là Mai Hắc Đế, tức ông vua đen họ Mai (vì da

8

của vị anh hùng trẻ tuổi Phùng Hưng vào đường lối chiến tranh giải phóng dân tộc của ta.

10


Đường lối đó là: bước đầu xây dựng căn cứ địa, từ căn cứ địa phát triển thành khu giải
phóng ngày càng mở rộng ra nhiều vùng, tới khi so sánh lực lượng giữa ta và địch đã thay
đổi, thế và lực của ta mạnh hơn địch, thì tiến hành một cuộc tổng công kích để giành
thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh.
Trong 25 năm liền, nghĩa quân Phùng Hưng kiên trì đánh giặc theo đường lối đó, càng
đánh càng mạnh. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng khác trước. Tới cuối năm 791,
nghĩa quân Phùng Hưng có thế mạnh hoàn toàn áp đảo địch. Mùa hè năm ấy, Phùng
Hưng quyết định mở trận tổng công kích. Quân giặc thất bại hoàn toàn. Cuộc tổng công
kích thành công nhanh chóng. Chính quyền độc lập trên cả nước được thành lập Phùng
Hưng lên ngôi vua, giữ nước một thời gian. Nhân dân suy tôn ông làm Bố Cái Đại
Vương.
II- NGOẠI GIAO HÒA HOÃN THỜI HỌ KHÚC, HỌ DƯƠNG
Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương, trong nửa đầu thế kỷ thử IX, phong
trào giải phóng ở ta lại nổ ra liên tiếp. Nhiều viên quan đô hộ nhà Đường bị giết hoặc bị
đuổi về nước . Giữa thế kỷ thứ IX, nhà Đường tăng cường bộ máy đàn áp. Chúng cho
một võ quan cao cấp của triều đình làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ để cầm đầu toàn bộ binh
quyền và chính quyền của chúng trên đất nước ta. Nhưng tiết độ sứ cũng không làm gì
được. Thế và lực của nhà Đường sụp đổ tới nơi. Từ thế kỷ thứ VIII, phong trào nông dân
Trung Quốc khởi nghĩa chống nhà Đường đã liên tiếp nổ ra, mạnh nhất là ở các vùng
biên cương. Tại các nước bị nhà Đường đô hộ, không phải chỉ có nước ta chống đối lại,
mà ở các nước bị đô hộ khác là An Đông, An Tây, An Bắc phong trào đấu tranh giành
độc lập cũng rất quyết liệt. Cho nên từ giữa thế kỷ thứ VIII, triều đình nhà Đường đặt ra
chức tiết độ sứ là một chức võ quan cao cấp có quyền tổng chỉ huy tất cả quân đội ở khu
vực biên cương Trung Quốc và những nước ở gần biên cương bị nhà Đường đô hộ. Tiết
độ sứ có toàn quyền về quân sự để chỉ huy dập tắt những phong trào khởi nghĩa của nông

11 năm 938. Vua Nam Hán - Lưu Cung đóng quân tại Hải Môn được tin con chết tại trận,
quân sĩ tan hết, chỉ còn biết khóc thương con, không dám tiếp tục gây chiến, đành đem
quân trở về Phiên Ngung (Quảng Châu).
Sử của ta ghi rằng: sau trận thua đau này, vua Nam Hán - Lưu Cung cho là tên Lưu Cung
của hắn xấu và xui quá, nên đổi là Lưu Yểm. Trận thua đau ở Việt Nam thật là thấm thía

15


đối với vị vua bại trận. Nhưng dù đổi tên hay không thì nhà Nam Hán cũng không thể tồn
tại lâu và cũng không còn sức để mưu đồ xâm lược Việt Nam.
Chương hai
NGOẠI GIAO CỦNG CỐ ĐỘC LẬP

I- NGOẠI GIAO THỜI NGÔ - ĐINH
Sau khi đánh thắng quân Nam Hán, đầu năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, cầm quyền trị
nước, bỏ danh hiệu tiết độ sứ, dứt khoát cắt đứt quan hệ lệ thuộc các vương quyền
phương Bắc. Ngô Quyền lập triều đình, đặt trăm quan (không rõ niên hiệu, tên hiệu là gì),
sau này sách sử ghi là Ngô Vương. Về đối ngoại, Ngô Quyền không giao thiệp với Nam
Hán mà ông vừa đánh cho đại bại và cũng không liên hệ với nước nào trong "Ngũ đại
thập quốc" lúc ấy. Nhưng ông cho phép những người Trung Quốc chạy loạn được sang
sinh cơ lập nghiệp ở lãnh thổ do mình cai quản. Ngô Quyền cũng tiếp nhận những tướng
sĩ Trung Quốc bị thất bại trong nội chiến xin sang trú ngụ ở nước ta. Một số tướng sĩ
Trung Quốc được Ngô Quyền thu dung cho làm việc tại triều hoặc tại các địa phương.
Ngô Quyền làm vua được 6 năm thì mất. Đáng lẽ con Ngô Quyền lên nối ngôi cha.
Nhưng em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi vua. Một số quan lại, tướng sĩ
của Ngô Quyền không chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha, mỗi người cầm quân
chiếm giữ một địa phương, lập thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát cứ, trước còn
ít, sau lên tới 12 sứ quân.
Dương Tam Kha làm vua được 6 năm. Tới năm 950, con của Ngô Quyền là Ngô Xương

Triệu Khuông Dận) tiến quân xuống phía nam đánh Nam Hán. Năm 971, Nam Hán bị
diệt. Từ đấy biên giới Tống sát với nước ta. Tống đặt quan hệ giao hảo với ta, chưa có ý
đồ gì khác, vì Trung Quốc chưa thống nhất, Tống còn phải lo đối phó với một số nước
"thập quốc” ở phía bắc và phía đông. Cho nên quan hệ buổi đầu giữa hai nước là hòa bình
hữu nghị. Có điều đặc biệt trong đường lối, phong cách ngoại giao của Đinh Tiên Hoàng
là ông vẫn làm vua, vẫn cầm quyền trị nước, nhưng trong các văn bản quan hệ ngoại giao
thì ông lại cho con trai là Đinh Liễn đứng tên, tức là ông cho con ông ra mặt giao thiệp

17


với hoàng đế nhà Tống. Thái độ đó của Đinh Tiên Hoàng, có thể triều Tống không bằng
lòng, nhưng nhà Tống chưa làm gì được.
Tới năm 979, nhà Tống diệt được nước cuối cùng trong “thập quốc" là nhà Bắc Hán ở
phía bắc, thống nhất được Trung Quốc rộng lớn. Do đấy, nhà Tống lúc này quân đông thế
mạnh. Trong khi đó ở ta, cũng năm 979 vua Đinh Tiên Hoàng và con lớn là Đinh Liễn
đều bị cận thần sát hại. Con nhỏ là Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi, vua Tống tính
ngay chuyện xâm lược nước ta. Thế là quan hệ ngoại giao giữa ta và Tống trở thành xấu.
Khoảng những tháng đầu năm 980, viên quan Tống coi Ung Châu (tức miền Quảng Tây
bây giờ) báo cáo về triều đình Tống rằng:
"An Nam quận vương và con là Liễn đều bị giết, nước đã gần mất, có thể nhân lúc này
đem quân địa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này không mưu sự sợ mất cơ hội...” (Đại
Việt sử ký toàn thư).
Tống triều vội nắm lấy cơ hội. Ngay tháng 7 năm 980, Tống triều quyết định "xuất kỳ bất
ý đem quân đánh úp. . . như sét đánh không kịp bưng tai " (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhà
Tống bắt đầu họp quân, tuyển tướng.
Sang tháng 8, vua Tống hạ lệnh cho các tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Khích
Thủ Tuấn (có sách viết là Hác Thủ Tuấn.), Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Giả
Thực, Vương Soạn... "họp quân bốn mặt, hẹn ngày cùng sang xâm lược" (Đại Việt sử ký
toàn thư). Khí thế Tống rất mạnh.

định làm một cuộc đảo chính vì lợi ích của nhà nước. Trong một buổi triều đình đương
họp, Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh nhung phục oai nghiêm, đem quân tiến thẳng
vào triều. Tại giữa điện đình, Phạm Cự Lạng nói với mọi người:

19


"Nay chúa thượng trẻ thơ, chúng ta dù hết sức liều chết chống kẻ địch bên ngoài, mong
lập được chút công thì ai biết cho. Chi bằng trước hãy tôn Thập đạo tướng quân làm
Thiên tử, rồi sau sẽ đem quân đi đánh giặc thì hơn” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Trăm quan tại triều và Dương Thái Hậu mẹ vua nhỏ Đinh Toàn đều “vui lòng quy phục"
(Đại Việt sử ký toàn thư).
Tháng 4 năm 981, cuộc kháng chiến chống nhà Tống xâm lược bắt đầu. Quân Tống theo
ba đường đánh sang ta. Một đường bộ vào Lạng Sơn (Có tài liệu viết đạo quân bộ vào
theo cửa ải Thông Quốc ở Quảng Ninh ngày nay). Một đường thủy theo ven biển vào
sông Bạch Đằng. Một đường thủy thứ hai vào Tây Kết. Nhưng trên cả ba đường hành
quân, giặc đều bị quân ta đánh cho bại trận.
Đạo bộ binh tiên phong của giặc đi tới Chi Lăng thì bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn. Chủ
tướng quân tiên phong là Hầu Nhân Bảo bị quân ta bắt và giết chết. Đạo bộ binh đi sau
khiếp sợ, quay đầu chạy về nước. Đạo thủy quân của giặc vào sông Bạch Đằng bị quân ta
đánh bật ra, tan vỡ gần hết. Tướng thủy quân của giặc phải đem tàn quân chạy về Quảng
Châu. Đạo thủy quân thứ hai của Tống bị quân ta đánh cho đại bại ở Tây Kết; quân sĩ
“chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng" (Đại Việt sử ký toàn thư). Hai tướng giặc là
Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị quân ta bắt sống. Với trận Tây Kết, cuộc
kháng chiến chống Tống lần thứ nhất kết thúc. Quân ta đại thắng. Các tướng Tống chạy
về nước đều bị vua Tống hành tội và giết chết. Chỉ có một tướng thoát tội xử tử, nhưng bị
giáng chức.
Cuộc chiến tranh xâm lược bị thất bại rất lớn là một đòn thấm thía cho nhà Tống, khiến
gần 100 năm sau, nhà Tống nhiều lần muốn xâm lược nước ta mà không dám tính đến
việc đem quân sang đánh. Không những thế, nhà Tống còn phải cố nén chịu đựng,



Nga, nga, nga
Khúc hạng hướng thiên ca
Bạch mao phù lục thủy
Hồng chúy bát thanh ba
Dịch:
(Ngỗng, ngỗng, ngỗng
Nghếch cổ lên trời kêu
Lông trắng phô nước biếc
Chân hồng quẫy sóng xanh)
Bốn câu thơ của Lý Giác và Đỗ Thuận hợp lại là:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngường diện hướng thiên nha
Bạch mao phô lục thủy
Hồng trạo bãi thanh ba
Dịch:
(Ngỗng ngỗng, hai con ngỗng .

23


Ngửa mặt nhìn chân trời
Nước xanh phô lông trắng
Chèo hồng đẩy sóng xanh).
Lý Giác rất khâm phục người lái đò thông minh, uyên bác, và qua tài trí của người lái đò,
Lý Giác rất khâm phục trình độ văn hiến và tài năng của nhân dân ta. Như thế là việc nhà
sư Đỗ Thuận chèo thuyền tiếp sứ đã đạt được mục đích của Lê Hoàn.
Khi tới Hoa Lư, Lý Giác làm một bài thơ gửi tặng người lái đò thi sĩ. Trong bài thơ có
câu "Thiên ngoại hữu thiên ửng viễn chiêú” (Ngoài trời lại có trời soi nữa), có ý nói:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status