Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------

Nguyễn Văn Hiếu

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, 2010

1


Mục lục
Lời
cảm
ơn
…………………………………………………………………………..Error!
Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ......................................6
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu rạn san hô trên thế giới. ............................................6
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam .....................................7
1.2.1 Thành phần san hô cứng và san hô tạo rạn.....................................................9
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô.....................................................11
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô. .................................................12
1.2.4. Hiện trạng rạn san hô Việt Nam ..................................................................14

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................33
3.1. Kết quả khảo sát một số yếu tố môi trƣờng biển ven đảo Phú Quý ...................33
3.1.1. Các thông số môi trƣờng nƣớc cơ bản ........................................................33
3.1.2. Hàm lƣợng dầu và xyanua (CN-) ................................................................35
3.1.3. Đánh giá tổng thể chất lƣợng môi trƣờng nƣớc biển ven đảo Phú Quý ......36
3.2. Thành phần loài san hô cứng .............................................................................37
3.2.1. Cấu trúc thành phần loài san hô cứng .........................................................37
3.2.2. Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố mặt rộng ....................41
3.2.3. Sự tƣơng đồng của tập hợp loài giữa các vùng rạn ven đảo Phú Quý ........47
3.3. Đặc trƣng phân bố của quần xã san hô cứng .....................................................48
3.3.1. Đặc trƣng phân bố quần xã san hô cứng theo mặt rộng ..............................48
3.3.2. Đặc trƣng phân bố quần xã san hô cứng theo độ sâu ..................................50
3.4. Đặc điểm hình thái và diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý .............51
3.4.1. Đặc điểm hình thái rạn san hô ven đảo Phú Quý ........................................51
3.4.2. Diện tích phân bố rạn san hô ven đảo Phú Quý ..........................................53
3.5. Hiện trạng phát triển của quần xã rạn san hô cứng ............................................56
3.5.1.Hiện trạng độ phủ san hô trên các vùng rạn nghiên cứu ..............................56
3.5.2. Đánh giá biến động độ phủ san hô sống theo thời gian ..............................57
3.6. Hiện trạng hệ sinh thái rạn san hô và các yếu tố tác động .................................58
3.6.1 Các tác động từ tự nhiên ...............................................................................58
3.6.2 Các tác động của con ngƣời .........................................................................59
3.7. Đề xuất việc bảo vệ quần xã san hô và nguồn lợi biển ven đảo Phú Quý .........62
3.7.1. Đề xuất các giải pháp sử dụng, bảo vệ và phát triển hợp lý hệ sinh thái rạn
san hô .....................................................................................................................62
3.7.2. Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng ................................63
3.7.3. Đề xuất phân vùng bảo tồn quần xã rạn san hô trong kế hoạch thiết lập khu
bảo tồn biển Phú Quý. ...........................................................................................64
KẾT LUẬN ...............................................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................73
PHỤ LỤC .............................................. ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.

chu trình sống và sử dụng rạn nhƣ là nơi kiếm ăn, đẻ trứng hoặc ƣơng con và trú ẩn.
Vì vậy từ những năm 1991 trở về đây những chƣơng trình nghiên cứu biển trên các
rạn san hô ở Việt Nam tập trung vào những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng

4


sinh học, hiện trạng khai thác sử dụng và cơ sở khoa học cho việc thiết lập các khu
bảo tồn thiên nhiên biển.
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện trạng các rạn san
hô tại Việt Nam và có chung nhận định về sự suy giảm độ phủ san hô cũng nhƣ đa
dạng nguồn lợi sinh vật trong rạn và đƣa ra các giải pháp bảo vệ nguồn lợi.
Để góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn biển. Chúng tôi thực hiện đề tài “
Nghiên cứu thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng và hình thái rạn san hô
ven đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận” với các nội dung chính:
- Xác định thành phần loài, cấu trúc quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý, tỉnh
Bình Thuận.
- Xác định đặc điểm hình thái, diện tích và phân bố rạn san hô cứng ven đảo Phú
Quý, tỉnh Bình Thuận.
Với những kết quả nghiên cứu này nhằm bổ sung tƣ liệu về đa dạng sinh học
quần xã rạn san hô nói riêng và đa dạng sinh học biển nói chung của vùng ven biển
đảo Phú Quý. Từ đó kết hợp với các luận cứ khoa học cơ bản về điều kiện tự nhiên,
đa dạng sinh học, môi trƣờng và xu hƣớng diễn thế của chúng trong mối tƣơng quan
mật thiết với điều kiện thực tiễn kinh tế-xã hội làm cơ sở cho việc thiết lập xây
dựng và quản lý các khu bảo tồn biển mà trong đó hệ sinh thái rạn san hô đóng vai
trò đối tƣợng trung tâm.

5



6


thế hệ tƣơng lai.
Hiện nay, cứ 4 năm một lần một hội thảo quốc tế về rạn san hô đƣợc tổ chức.
Đây là cơ hội để hàng ngàn nhà nghiên cứu và quản lý trao đổi thông tin và cùng
nhau hành động vì sự tồn tại bền vững của rạn san hô và nâng cao lợi ích mà con
ngƣời đƣợc hƣởng lợi từ rạn san hô[21].
Kết quả của chuyến khảo sát Ramble có thể đƣợc coi là công trình nghiên
cứu rạn san hô đầu tiên ở vùng Biển Đông trong đó đã nghi nhận 14 giống san hô
cứng ở quần đảo Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia ( thuộc quần đảo Trƣờng
Sa). Ngoài ra có những thông tin không chính thức cho rằng Darwin cũng đã ghé
qua các rạn san hô trong Biển Đông trên con đƣờng nghiên cứu học thuyết về sự
hình thành các đảo san hô vòng (atoll) [46]
Những nghiên cứu về phân bố rạn san hô thế giới ghi nhận có hàng ngàn rạn
san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trải từ
khoảng 30 độ vĩ tuyến Bắc đến 30 độ vĩ tuyến Nam nơi mà nhiệt độ nƣớc biển hiếm
khi xuống dƣới 180C. Diện tích bao phủ rạn san hô lên đến 6 x 105 km2 [48]. Sự
khác biệt về hình thái, thành phần sinh học, tính đa dạng và cấu trúc phản ánh đặc
trƣng địa-sinh học, tuổi, phân vùng địa động vật và điều kiện môi trƣờng. Tuy
nhiên, chúng không luôn luôn tồn tại nhƣ hiện nay mà đã trải qua một lịch sử thay
đổi, biến động liên quan chặt chẽ đến những sự kiện lớn về địa chất và khí hậu toàn
cầu.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu rạn san hô ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô Việt Nam ghi nhận những kết
quả nghiên cứu của Ramble nhƣ những công trình nghiên cứu đầu tiên ở vùng Biển
Đông. Trong đó Smith (1890) [46] đã ghi nhận 14 giống san hô cứng ở quần đảo
Macclesfield và đảo san hô vòng Tigia (Trƣờng Sa).
Trƣớc những năm 1954 các chƣơng trình nghiên cứu về san hô ở Biển Đông
nƣớc ta phần lớn đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu ngƣời Pháp thuộc Viện Hải

dạng sinh học dựa trên đặc tính khu hệ san hô tạo rạn [9]. Từ năm 2000 đến nay,
Viện Hải dƣơng học Nha Trang phối hợp với một số tổ chức Quốc tế khác tiến hành
các chƣơng trình nghiên cứu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, nhƣng tiêu biểu là 2
nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng và
thiết lập khu bảo tồn biển ở vịnh Nha Trang (Khánh Hòa) và Cù Lao Chàm (Quảng

8


Nam). Từ kết quả khảo sát đó, 2 khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam đã đƣợc thiết
lập vào các năm 2001 và 2003. Đối với rạn san hô miền Bắc, từ năm 2003-2004
Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp với Viện Tài nguyên Môi trƣờng Biển Hải
Phòng đã thực hiện chƣơng trình nghiên cứu đa dạng sinh học tại 2 đảo Cát Bà và
Cô Tô làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn biển. Gần đây 2 chƣơng
trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản do Đỗ Văn Khƣơng làm chủ nhiệm :
-

Năm 2006-2008 Đề tài“Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự

kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc
thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”.
-

Năm 2007-2009 Đề tài KC09 ”Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

các khu bảo tồn biển trọng điểm phục vụ cho xây dựng và quản lý”.
Nội dung nghiên cứu bao gồm các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học
biển, kết hợp với các nghiên cứu đánh giá kinh tế xã hội tại mỗi khu vực là những
tƣ liệu có giá trị cao trong định hƣớng thiết lập mạng lƣới khu bảo tồn biển Việt
Nam trong thời gian tới.

giống san

loài san hô

hô cứng

cứng

hô tạo rạn

tạo rạn

Tây vịnh Bắc Bộ

56

200

56

186

Trung Trung Bộ

64

246

61


Trƣờng Sa, Hoàng Sa

65

Vùng biển

256
65
256
(Nguồn: theo Võ Sỹ Tuấn, 2005)[21]

Về cấu trúc thành phần loài, trong thành phần loài đã xác định ở biển Việt
Nam, giống có số loài nhiều nhất là Acropora chiếm 16,8% tổng số loài đã ghi
nhận, sau đó là các giống Monipora (8,6%), Porites (4,5%), Fungia (3,7%),
Goniopora (3,5%), Pavona (2,4%). So sánh các vùng phía nam Việt Nam với vịnh
Bắc Bộ và một số vùng biển khác ở tây Thái Bình Dƣơng cho thấy tỷ lệ của số loài
thuộc các giống này trên tổng số loài ít thay đổi hoặc thay đổi không có quy luật
ngoại trừ đối với giống Favia – nhóm san hô dạng khối điển hình. Điều cần chú ý là
giống này có tỷ lệ số lƣợng loài khá cao ở vùng biển xung quanh đảo Amacusa và
Tanegashima – các vùng biển của Nhật Bản ít chịu ảnh hƣởng của các dòng nƣớc
ấm Kuroshio từ phía nam [50] và vịnh Bắc Bộ - Bắc Việt Nam. Trong khi đó, sự
khác nhau của thông số này giữa vùng biển phía Nam Việt Nam và các vùng còn lại
kể cả ở Okinawa ( Nhật Bản) không đáng kể.
Thống kê trên đây cho thấy, vịnh Bắc Bộ có thành phần loài nghèo hơn rõ rệt
so với các vùng biển ở phía Nam Việt Nam. Hơn nữa, sự phổ biến của rạn san hô ở
một số vùng trong Vịnh – nơi có nhiệt độ khá thấp vào mùa đông, còn bất ngờ ngay
cả đối với giới nghiên cứu. Vì vậy, liệu tính chất thành phần loài có sự khác biệt
giữa vịnh Bắc Bộ và các vùng biển phía Nam hay không.

10

Tô, Long Châu… Hầu hết vùng này đều có đáy biển nông , nhiều bùn. Vì vậy, rạn

11


san hô ở bờ Tây vịnh Bắc Bộ thƣờng rất hẹp và chỉ phân bố đến độ sâu khoảng 57m, chỉ những nơi xa rạn mới có thể xuống đến 10m. Tuy nhiên, với vị trí địa lý đảo
Bạch Long Vĩ là nơi thuận lợi nhất cho sự phát triển của rạn san hô vịnh Bắc Bộ.
Vùng ven bờ miền Trung và các đảo Đông Nam Bộ rạn san hô phát triển thuận
lợi hơn so với vùng biển phía Bắc. Đây là những vùng biển có nhiệt độ nƣớc thƣờng
xuyên cao trên 200C và chịu ảnh hƣởng lớn của biển khơi. Địa hình ven biển cũng
tạo thành nhiều các vũng vịnh và đảo tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh. Nhờ vậy, san
hô phân bố phổ biến ở dải ven bờ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, xung quanh hầu hết
các đảo từ Cù Lao Chàm đến Côn Đảo. Hình thái rạn cũng rất đa dạng có thể rộng
từ 50m đến 800m.
Ở vùng biển Tây Nam Bộ, vùng ven bờ không thuận lợi cho san hô phát triển
do đáy biển có nhiều bùn, nƣớc có độ trong thấp rạn phân bố xung quanh các đảo xa
bờ nhƣ Phú Quốc, Nam Du, Thổ Chu. So với các vùng biển khác, chế độ thuỷ văn,
động lực ít có những biến động lớn. Do vậy, rạn san hô tƣơng đối đồng nhất về hình
thái. Sự khác biệt chủ yếu do yếu tố nền đáy tạo nên. Các rạn thƣờng có chiều rộng
từ 50-100m và phân bố đến độ sâu 10-13m nƣớc.
Các Quần đảo Trƣờng Sa, Hoàng Sa gồm hàng trăm đảo, bãi ngầm hình thành
do quá trình phát triển sinh - địa học của rạn san hô. Rạn san hô hiện tại có thể phân
bố đến độ sâu 40-50m và có diện tích rất rộng. Các đảo san hô vòng (atoll) điển
hình có thể kéo dài tới 50km và bao gồm các vành khuyên đảo nổi và bãi ngầm.
Lagun bên trong đảo san hô vòng chỉ có độ sâu dƣới 50m, trong khi thềm ngoài dốc
đột ngột xuống hàng trăm mét. Một dạng hình thái khác là các đảo hoặc bãi ngầm
đơn độc chỉ rộng cỡ 2-3km với lagun nông ở bên trong chỉ sâu khoảng 5-7m [21].
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô.
Ở vùng biển Việt Nam, chỉ mới ghi nhận hai kiểu cấu trúc là rạn riềm (fringing
reef) và rạn dạng nền (plat-form reef). Ở vùng biển khơi xa, rạn san hô thuộc về một

Thành phần san hô chủ yếu gồm các loài Seriatopira histrix, Porites lutea, P. rus,
Galaxea fascicularis, Lobophyllia corymbosa, Acropora valida. Trên đỉnh bãi cạn
thành phần loài san hô nghèo và tập đoàn có kích thƣớc nhỏ. Rong mơ phát triển
mạnh ở vùng này và bao phủ gần hết diện tích nền đáy.
Vùng biển bắc Bình Thuận có nhiều bãi cạn ở vùng có độ sâu nhỏ hơn 20m.
Trong đó lớn nhất là bãi cạn Breda ( bắc Cù Lao Cau) có diện tích 22km2 và nhô

13


nên từ độ sâu 10m đến cách mặt biển 4m. Vật liệu tạo nên bãi cạn là các đá trầm
tích giàu carbonat tuổi Đệ Tam, trên bề mặt thƣờng có các trầm tích sinh lƣu chuyển
[18]. Nền đáy trên bãi cạn chủ yếu đƣợc bao phủ bởi san hô mềm giống
Sarcophyton. Xen kẽ với chúng là một số san hô cứng dạng khối Goniastrea,
Porites, Platygyra… Tuy nhiên, sự nghèo nàn của quần xã san hô cứng hiện nay và
nền đáy lộ đá đã phủ nhận nhận xét trên. Cấu trúc bãi cạn hoàn toàn do quá trình địa
chất hình thành [21].
Nhìn chung hầu hết các bãi cạn nghiên cứu, rạn san hô hiện đại kém phát
triển. Điều đó còn đúng với quá khứ. Chính sự kém phát triển suốt lịch sử phát triển
đã không cho phép hình thành các rạn nền điển hình với vật liệu tạo nên các bãi cạn
hoàn toàn là san hô chết nhƣ các vùng biển khác. Do vậy đến nay, rạn dạng nền trên
thềm lục địa không hình thành bất cứ một rạn san hô nào.
1.2.4. Hiện trạng rạn san hô Việt Nam
Trong những năm gần đây, gần 200 điểm rạn san hô đã đƣợc khảo sát ở dải
ven biển Việt Nam. Thông kê số liệu cho thấy hiện trạng độ phủ của san hô trên các
rạn không ở trạng thái tốt. Số liệu thống kê còn thể hiện các rạn ở xa bờ hoặc xa các
vùng tập trung dân cƣ thƣờng có độ phủ, chất lƣợng rạn tốt hơn các khu vực rạn
vùng ven bờ [37]. Tổng hợp dẫn liệu các công trình nghiên cứu cho thấy tình trạng
độ phủ san hô cứng sống tại một số khu vực chủ yếu vùng ven bờ Việt Nam.[21]
(bảng 2).


5

2,7 - 4,7

21,7 ± 15,7

1995

3

Hai Vân-Sơn Trà

7

35 – 62,7

50,5 ± 15,7

1996

4

Cù Lao Chàm

5

18,4 – 53,7

33,9 ± 12,4



7

Vịnh Cà Ná

6

18,4 – 68,4

40,5 ± 24,1

1996

8

Côn Đảo

8

1,6 – 50,3

23,3 ± 18,2

2002

9

Phú Quốc


2002

Độ phủ san hô sống trên rạn tại một số khu vực phân bố chủ yếu vùng ven bờ
Việt Nam đang bị giảm dần theo thời gian, có nhiều nơi độ phủ giảm đến trên 30%.
Điều này cho thấy rằng rạn san hô đang bị phá huỷ và có chiều hƣớng suy thoái.
Ngoài ra, bằng phƣơng pháp phân tích gián tiếp qua kỹ thuật bản đồ trong
mối tƣơng quan với các hoạt động kinh tế xã hội ở vùng ven biển, áp dụng mô hình
Reef at Risk, Bucke và ctv (2002)[37] đã chỉ ra mức độ bị đe dọa của các rạn san hô
Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo đó, hầu hết các rạn san hô ven
bờ Việt Nam bị đe doạ bởi hoạt động của con ngƣời, với 50% số rạn bị xếp ở mức
độ đe dọa cao và 17% ở mức độ rất cao. Đánh bắt huỷ diệt đƣơc đánh giá là rất phổ
biến và trầm trọng với trên 85% số rạn bị đe doạ ở mức độ trung bình và cao. Khai
thác quá mức đƣợc đánh giá là mức đe dọa lớn cho khoảng một nửa số rạn. Các mối
đe dọa đƣợc coi là thấp hơn gồm tiềm năng lắng đọng trầm tích (47% số rạn), phát
triển vùng ven biển (40% số rạn) và ô nhiễm trên biển (7%).
So sánh với tình trạng của các rạn san hô trong khu vực, mô hình tính toán
cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm có tỷ lệ các rạn bị đe doạ nhiều nhất (cùng với
Philippines, Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia). Chỉ có các rạn quần đảo
Andaman (Ấn Độ), biển Myanmar và Thái Lan có trên 20% số rạn còn ở mức chịu
đe doạ ít [37].
Một số dẫn liệu nghiên cứu tại đảo Côn Đảo, Bà Rịa –Vũng Tầu và Bạch
Long Vĩ, Hải Phòng của tác giả Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết là những nghiên
cứu cho thấy sự tác động mạnh mẽ từ tự nhiên và con ngƣời đến môi trƣờng và sự
sinh thái rạn san hô. Sự suy giảm độ phủ mạnh mẽ rạn san hô trƣớc và sau bão
Linda tại Côn Đảo (bảng 3).

15


Bảng 3. Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm


31,56

0,31

49,38

Bông Lan

55,4

2,3

29,2

10,73

0,63

50,31

Chim Chim

36,0

23,0

5,2

47,50


74,38

Hòn Trọc

51,5

8,3

6,8

8,76

4,15

65,60

Bãi Dƣơng

43,4

8,3

31,6

2,19

0,63

85,31

chuẩn cho phép từ
7,6-22,4 lần

Nguồn: (Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết, 2001)

16


1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và
rạn san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.
1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Huyện đảo Phú Quý là một quần đảo xa bờ của tỉnh Bình Thuận với 10 đảo
lớn nhỏ. Trong đó, đảo Phú Quý (bao gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác) có
diện tích 16,4 km2, nằm ở Nam Biển Đông, có tọa độ địa lý 10029’ - 10033’N và
108055’ - 108058’E.
Đảo Phú Quý còn có tên gọi khác là Cù Lao Thu, Cù Lao Khoai Xứ… cách
thành phố Phan Thiết 120km về hƣớng Đông Nam; cách quần đảo Trƣờng Sa
540km về phía Tây Bắc; cách thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phía
Nam); cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc); cách thành phố Vũng Tàu 200km
(về phía Đông) [14],[15].
Phú Quý đƣợc xác định là đảo trọng điểm trong hệ thống đảo ven bờ, nằm
giữa trung tâm khai thác hải sản lớn nhất Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ với
vùng ngƣ trƣờng rộng mở, có nguồn lợi hải sản dồi dào, phong phú, đa dạng. Từ
Phú Quý ngƣ dân có thể vƣơn ra các ngƣ trƣờng xa khơi.

17


Hình 1: Bản đồ đảo Phú Quý (tỷ lệ 1:40.000)

phụ thuộc vào thủy triều, bồi tụ và xói lở.
Các bãi triều ven đảo Phú Quý đƣợc chia làm 5 dạng chính [14],[15].
Bãi triều rạn đá gốc điển hình: Bãi triều đƣợc hình thành do các lớp đá gốc
nằm chồng chất lên nhau.

19


Bãi triều rạn đá - cát: Là loại hình có cấu trúc phần cao triều là đá gốc điển
hình, phần giáp ranh là vùng trung - cao triều là cát và đá gốc.
Bãi đá tảng - cát: Gồm các tảng đá lớn nhỏ có nguồn gốc từ các bãi đá gốc.
Bãi cát - san hô
Bãi cỏ biển - san hô
Đáy biển ven đảo: Vùng đáy có bề mặt tích tụ - mài mòn phân bố ở độ sâu từ
3-10m. Phần lớn bề mặt là cát và cát hạt mịn lẫn mảnh vụn sinh vật. Một số khu vực
bề mặt có các rạn san hô phát triển [14],[15].
* Địa chất địa tầng
Cấu trúc địa chất: Theo các nhà địa chất học, Phú Quý là dấu tích của một
hỏa diệm sơn (núi lửa) đã tắt qua nhiều lớp phún thạch của mỏm hỏa sơn chuỳ, núi
Cao Cát lộ khỏi mặt biển. Địa tầng Phú Quý đƣợc xác định gồm 5 thềm nối tiếp,
phản ánh những thời kì mực nƣớc thay đổi (quá trình biển tiến và biển lùi) đã để lại
những dấu ấn trầm tích trong giai đoạn lịch sử phát triển địa chất cách đây 3 triệu
năm. Đảo đƣợc bao quanh bằng một vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san
hô rộng và dày. Chính vành đai này đã góp phần chắn những cơn sóng mạnh xâm
thực giữ cho đảo tồn tại đến ngày nay.
Cấu trúc địa tầng: Địa hình của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn núi
chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44,9m). Trong số
những ngọn núi, núi Cấm với ngọn hải đăng đƣợc coi nhƣ một công trình thiên
nhiên rất quan trọng để ngƣ dân “bắt” đƣợc đảo trong những cuộc hải trình. Đất đai
Phú Quý phổ biến là loại đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma, bazơ đƣợc

ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang theo nhiều chất dinh
dƣỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp hơn và độ muối cao hơn, tạo ra
môi trƣờng thuận lợi. Ngoài ra, nƣớc biển quanh đảo Phú Quý còn chịu ảnh hƣởng
của vùng nƣớc trồi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam. Vì vậy, môi trƣờng nƣớc quanh
đảo Phú Quý có những nét đặc trƣng riêng biệt, thể hiện rõ nhất là yếu tố nhiệt độ
nƣớc thấp hơn so với các đảo khác trong cùng khu vực Trung Bộ [2].
1.3.2. Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo
Phú Quý
Các kết quả khảo sát san hô vùng biển ven đảo Phú Quý của đoàn điều tra
hợp tác Việt - Xô đã xác định đƣợc 134 loài thuộc 50 giống san hô cứng [8].

21


Năm 1995, đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và
kinh tế - xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội biển” mã số KT-03-12 do Lê Đức An [1] làm chủ nhiệm đã nghiên cứu, đánh
giá điều kiện tự nhiên và nguồn lợi tại một số đảo Việt Nam, trong đó có đảo Phú
Quý.
Trong khuôn khổ nhiệm vụ “Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi, điều kiện môi
trƣờng và khả năng phát triển nghề cá của những đảo lớn, vùng gần bờ (Lý Sơn,
Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc)” thuộc dự án Ven Bờ, [14,15] đã nghiên cứu đánh
giá điều kiện tự nhiên, môi trƣờng và nguồn lợi tại khu bảo tồn biển Phú Quý.
Đề tài cấp Bộ “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô tại một số vùng dự kiến
thiết lập khu bảo tồn biển và nguồn lợi hải sản vùng dốc thềm lục địa Việt Nam, đề
xuất biện pháp sử dụng hợp lý”, Đỗ Văn Khƣơng và ctv (2008)[11] đã nghiên cứu
về điều kiện môi trƣờng, sinh vật phù du, hệ sinh thái rạn san hô và nguồn lợi cá rạn
san hô. Có thể nói, đây là đề tài nghiên cứu đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện nay
về hệ sinh thái rạn san hô tại Phú Quý.
Ngoài ra, còn một số hoạt động nghiên cứu khác liên quan đến nguồn lợi tại
khu bảo tồn biển Phú Quý, song chỉ kết hợp với các chƣơng trình nghiên cứu chung



Hình 2. Vị trí mặt cắt khảo sát tại các vùng rạn ven bờ đảo Phú Quý

24


2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường
+ Phương pháp quan trắc ngoài hiện trường: Tiến hành quan trắc, phân tích
các mẫu môi trƣờng nƣớc trên hệ thống các điểm quan trắc đại diện cho tính toán,
xác định chất lƣợng môi trƣờng theo Quy định về phƣơng pháp quan trắc và phân
tích môi trƣờng của Cục Bảo vệ Môi trƣờng, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2002,
2004) và Quy phạm điều tra tổng hợp biển của Ủy ban Khoa học & Kỹ thuật Nhà
nƣớc (1981) [4].
+ Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Tiến hành phân tích các
thông số môi trƣờng nƣớc theo các tài liệu hƣớng dẫn; Sổ tay hƣớng dẫn quan trắc
phân tích môi trƣờng (Cục bảo vệ Môi trƣờng 2002) [4], các tiêu chuẩn Việt Nam
và tài liệu Standard Methods for the Examination of Water and Westewater, 19th ed.
Washington của APHA - AWWA - WPCF, 1995 [35].
2.2.2. Phương pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô
2.2.2.1. Thiết kế điều tra, nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu và nội dung nghiên cứu lựa chọn và áp dụng phƣơng pháp
khảo sát rạn san hô đang đƣợc phổ biến của Reefcheck, trên các dây mặt cắt 100m,
đặt song song với đới ven bờ. Ngoài ra, tham khảo các tài liệu nghiên cứu trƣớc đây
tại khu vực mà điển hình là nghiên cứu khảo sát của Latypov 1995 [8] tại đảo Phú
Quý và các nghiên cứu của Đỗ Văn Khƣơng, 2008 [11] là những tƣ liệu tham khảo
rất giá trị cho việc tiến hành lựa chọn khảo sát.
Tại khu vực ven bờ đảo Phú Quý tiến hành phƣơng pháp khảo sát Manta
tow tổng quan, phân tích điều kiện tự nhiên và hiện trạng chung của mỗi khu vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status