Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu - Pdf 27


1
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích vùng biển gấp ba lần diện
tích đất liền, có bờ biển dài trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa
khoảng một triệu km2. Ở biển Đông, Việt Nam có khoảng 4.000 đảo, phân bố
không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc bộ và Nam bộ. Những
đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng
Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa),
Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu),
Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang), quần đảo Hoàng Sa (TP Đà
Nẵng), quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) … cùng nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi
cát ngầm, bãi đá, bãi san hô.
Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta. Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo
không chỉ là giá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là vị trí chiến lược, là
cầu nối vươn ra biển cả, là điểm tựa khai thác các nguồn lợi biển, là những
điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc. Nhờ có hệ thống đảo ven bờ được vận dụng
làm các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở thẳng nên đã tạo ra vùng nội
thủy rộng lớn, do đó vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
cũng được mở rộng ra hướng biển.
Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, quy hoạch
khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phải "bảo đảm việc khai thác
nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt
quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; đồng thời "bảo
đảm gắn kết quy hoạch phát triển bền vững tài nguyên nước với các quy
hoạch bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do

3
Hiện tại các công trình khai thác nước ngầm phần lớn được bố trí ven
biển chỉ cách mép nước khoảng 100m đến 300m. Mực nước hạ thấp của các
giếng đến 2m so với mực nước biển (ở khu vực các giếng khai thác của các
doanh nghiệp chế biến hải sản) mới khai thác từ những năm 2003 trở lại đây.
Hiện nay các giếng của khu vực này đã có dấu hiệu nhiễm mặn đặc biệt về
mùa khô các giếng đào khai thác ở chiều sâu khoảng 5m đến 7m ở khu vực
sát biển (ở khu vực Ủy Ban Nhân dân huyện) có dấu hiệu nhiễm mặn.
Vì vậy nghiên cứu ”Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài
nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện
pháp giảm thiểu” là rất cần thiết, bảo đảm việc khai thác và sử dụng tài
nguyên nước hợp lý trên đảo, góp phần phát triển bền vững kinh tế, xã hội,
môi trường của huyện đảo Phú Quý. Vấn đề xâm nhập mặn đang được rất
nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cũng như người dân trên vùng biển đảo này
rất quan tâm.
2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm
của đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiểu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: xâm nhập mặn nguồn nước ngầm
Phạm vi nghiên cứu: khu vực đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
* Cách tiếp cận:
- Tiếp cận tổng hợp
- Tiếp cận hệ kinh tế – sinh thái – môi trường
- Tiếp cận tích hợp thông tin (ảnh viễn thám, bản đồ và hệ thống GIS)
- Tiếp cận kế thừa, phát triển các kết quả nghiên cứu và tiếp thu công nghệ 4

kiện phát triển các dịch vụ sửa chữa tàu thuyền, cung cấp các dịch vụ hải cảng
quốc tế và các dịch vụ thăm dò và khai thác dầu khí.
Địa hình của đảo Phú Quý bao gồm núi đồi ở khu vực phía Bắc và đất
bằng ở khu vực phía Nam, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam. Ở phía Bắc
có núi Cấm cao 106m, núi Cao Cát cao 86m; ở phía Nam có đồi Ông Đụn cao
46-48m. Trung tâm đảo có những dãy đồi cao 20-30m bị ngăn cách bởi những
dãy đất bằng cao 10-20m. Vùng rìa đảo là những dãy thềm cao 5m, ở đây có
nổi lên những đụn cát cao 7-8m và nơi thấp nhất là bãi Triều Dương với độ
cao 2m.

6 Hình 1.1: Vị trí đảo Phú Quý

7
Địa hình đảo không bị phân cắt mạnh, không có sông suối, biển không
cắt vào phần đất nổi của đảo. Đặc điểm này đã hạn chế được sự xâm nhập
mặn đến nguồn nước ngọt trên đảo. Hình 1.2: Sơ đồ địa hình đảo Phú Quý

8
1.1.2. Thực vật rừng
Trước đây, trên đảo rừng cây rậm rạp, có nhiều gỗ quý. Nhưng hiện nay, do
không được quản lý và bảo vệ nên số rừng này đã bị khai thác hết. Phần lớn cây
trên đảo hiện nay là cây chắn gió trồng trên đất cát ven biển (phi lao), cây công
nghiệp lâu năm (dừa), cây lương thực (ngô, khoai lang, sắn) và rau đậu trồng
trên đất nâu đỏ.

- Nhiệt độ nước biển ven bờ khoảng 25-29
0
C; trung bình nhiều năm là 27,5
0
C.
Độ mặn nước biển trung bình từ 31,8-33,8‰; độ mặn trung bình nhiều năm ở
ven bờ đảo Phú Quý là 32,3‰ 10
Bảng 1.1: Tổng hợp các yếu tố khí tượng chính tại trạm Phú Quốc
từ 1990 đến 2005
STT

Chỉ tiêu
Tháng
Năm
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
1
Tổng lượng
mưa, mm
9,0 4,0 21,3 33,2
127,5

156,0

136,7

116,8


102,4

81,4 93,3 116,2

1.291

3 Nhiệt độ TB,
0
C

25,2 25,5 26,8 28,5 29,2 28,7 28,4 28,2 28,1 27,4 26,7 25,7 27,4
4
Nhiệt độ KK
cao nhất,
0
C
30,7 31,7 33,3 34,8 35,3 33,8 34,7 34,0 33,4 32,8 31,7 31,4 35,3
5
Nhiệt độ KK
thấp nhất,
0
C
19,7 21,0 21,1 22,8 23,2 22,7 23,2 23,2 22,7 22,2 20,4 20,8 19,7
6 Độ ẩm TB, % 80,9 82,7 83,2 82,6 83,7 85,8 85,7 86,6 87,2 86,3 84,6 83,3 84,4
7
Tổng số giờ
nắng, giờ
250,6

252,4

hành
ĐB ĐB ĐB ĐB TN T TN T T ĐB ĐB ĐB
10
Tốc độ gió lớn
nhất, m/s
23 20 18 19 18 28 24 24 24 24 34 24 34
11 Hướng BĐB

BĐB

BĐB BĐB

TN TTN T TN TN TN T BĐB

T
12
Số cơn bão và
ATNĐ, cơn
0 0 2 1 1 0 0 0 1 7 9 4 25
13
Tỷ lệ bão trong
năm, %
0 0 8 4 4 0 0 0 4 28 36 16 100
14
Độ cao sóng lớ
n
nhất, m
4,0 4,0 4,0 3,5 3,0 5,0 5,0 5,0 4,0 5,0 10,0 4,0 10,0

(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn tỉnh Bình Thuận).

lượng nước trong mùa mưa chiếm khoảng 86,6% lượng mưa năm, còn lại là
lượng mưa trong mùa khô từ tháng XII-IV. Mùa hè thường có mưa rào, mưa
dông. Lượng mưa tuyệt đối cao nhất các tháng là 538,5mm (tháng X/1998),
còn vào mùa khô có nhiều tháng không có mưa.
Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm trên toàn huyện đảo khoảng
1.314mm/năm, thấp hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh
(1.513mm/năm), song vẫn cao hơn một số khu vực trong tỉnh như: Phan Thiết
(1.157mm), Ma Lâm (1.161mm), Mũi Né (893mm), Bàu Trắng (755mm),

12
Sông Luỹ (1.091mm), Sông Mao (1.027mm), Liên Hương (720mm). Một số
khu vực trong tỉnh có lượng mưa rất lớn trên 2.000mm như Đông Giang
(2.080mm), Suối Kết (2.026mm), Tà Pao, La Ngâu, Võ Xu trên 2.200mm, Mê
Pu lên đến 2.651mm.
Mưa biến đổi về lượng theo mùa rất lớn và có sự phân bố không đều
theo thời gian. Năm 2003 có tổng lượng mưa năm lớn nhất (1.857mm) nhưng
đến năm 2004 tổng lượng mưa năm lại giảm xuống thấp nhất trong vòng 15
năm trở lại đây (810mm).
Tháng II có lượng mưa trung bình tháng thấp nhất, khoảng 4,0mm
(chiếm 0,17% tổng lượng mưa năm); tháng X có lượng mưa trung bình tháng
lớn nhất khoảng 242,9mm (chiếm 18,5% tổng lượng mưa năm).

Bảng 1.2: Tổng lượng mưa tại đảo Phú Quý
(Đơn vị: mm)
Năm
Tháng
Tổng
năm
I
II

36,4
26,3
54,4
369,9
292,8
85,8
100,9
250,3
123,5
11,2
1.359
1992
1,6
7,3
9,2
0,3
26,7
147,8
132,6
140,3
118,0
197,9
236,4
24,1
1.042
1993
0,4
-
1,1
12,3

61,6
201,0
186,9
216,3
46,9
53,6
1.223
1996
2,7
-
2,7
18,6
57,2
147,5
116,2
182,3
459,0
282,5
250,2
198,0
1.717
1997
-
-
0,3
6,5
147,0
132,4
120,2
185,4

261,4
140,6
1.612
2000
27,0
-
43,0
32,8
147,3
110,3
239,9
116,8
177,8
310,8
259,6
199,8
1.665
2001
13,8
0,1
96,6
105,0
141,9
139,0
118,0
153,4
249,2
297,4
203,2
106,4

1,5
-
0,1
3,0
200,6
158,8
33,2
139,0
153,8
66,2
52,1
2,0
810
2005
1,3
0,0
2,0
2,0
182,7
32,8
121,6
92,4
73,9
100,9
49,6
240,5
899
(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn tỉnh Bình Thuận)

13

Trung
bình
80,9 82,7 83,2 82,6 83,7 85,8 85,7 86,6 87,2 86,3 84,6 83,3 84,4
1990
78
82
80
81
82
86
83
87
93
93
88
85
85
1991
84
86
86
88
90
89
90
86
86
83
77
78

78
84
82
83
84
85
86
85
85
82
82
82
83
1995
78
78
79
76
79
84
84
83
87
86
85
82
82
1996
78
80

79
83
85
86
87
89
88
87
84
1999
85
83
87
88
88
89
89
90
89
92
90
86
88
2000
88
87
88
91
89
89

90
88
91
89
86
2003
83
85
87
86
87
87
85
87
86
85
82
79
85
2004
80
82
84
83
84
88
84
87
84
79

XII đến tháng IV.
- Tổng lượng bốc hơi hàng năm dao động từ 1.091mm (1996) đến
1.419mm (1995), lượng bốc hơi tháng thấp nhất 81mm (tháng X) cao nhất
131mm (tháng I). Lượng bốc hơi tuyệt đối tháng thấp nhất là 58mm (tháng
X/2002) và lượng bốc hơi tuyệt đối tháng cao nhất là 165mm (tháng II/1995).
Bảng 1.4: Lượng bốc hơi tại đảo Phú Quý
(Đơn vị: mm)
Năm
Tháng
Năm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Trung
bình
131,4 115,2 112,2 109,1 105,6 102,8 112,1 109,5 102,4 81,4 93,3 116,2 1.291,2

1995
152,4
165,4
136,6

117,4
121,9
96,9
97,9
80,0
102,4
137,4
1.368,4
1998
112,8
85,7
137,7
113,2
129,8
120,9
116,1
115,7
99,6
73,7
74,1
96,9
1.276,2
1999
110,5
113,9
98,9
85,1
86,3
112,0
121,3

74,5
139,7
132,2
1.390,3
2002
161,4
135,7
133,4
129,8
140,8
125,4
115,9
115,7
102,8
57,7
71,2
92,9
1.382,7
2003
137,4
104,2
97,5
108,7
94,2
85,7
108,9
112,1
104,4
79,3
104,7

(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn tỉnh Bình Thuận).

15
Hình 1.4 : Lượng bốc hơi trung bình các tháng giai đoạn 1990-2005

e) Thủy triều
Nằm ở khu vực Nam Biển Đông, Phú Quý chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ
triều chuyển tiếp từ chế độ nhật triều không đều ở phía Bắc sang chế độ bán nhật
triều không đều ở phía Nam. Qua số liệu quan trắc từ năm 1980 - 2000 cho thấy
mực nước triều trung bình nhiều năm là 216cm, cao nhất là 326cm, thấp nhất là
29cm, biên độ triều lớn nhất là: 297cm.
f) Độ mặn nước biển
Độ mặn nước biển trung bình nhiều năm vùng ngoài khơi Phú Quý dao
động từ 31,8 - 33,8‰, ven bờ là 32,3‰.
Nhận xét ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến nguồn nước ngọt:
Từ các đặc điểm địa lý tự nhiên nêu trên cho thấy:
- Đảo Phú Quý có mùa khô kéo dài 5 tháng, lượng mưa mùa khô không
lớn (1.137mm); diện tích đảo nhỏ (khoảng 16 km
2
); đất đá có tính thấm nước
tốt; lượng bốc hơi tương đối lớn. Do đó, trên đảo không hình thành dòng chảy

xâm nhập mặn đến nguồn nước dưới đất do các hoạt động khai thác.
1.1.4 Đặc điểm địa chất
Trong khu vực đảo Phú Quý có 4 phân vị địa tầng địa chất có tuổi Đệ tứ
phân bố ở độ sâu từ 0 đến 100m đã được nghiên cứu theo thứ tự từ già đến trẻ
bao gồm:
- Thống Pleistocen:
+ Phụ thống Pleistocen trung, trầm tích biển (mQ
1
2
);
+ Phụ thống Pleistocen trung-thượng, phun trào bazan Pleistocen (βQ1
2-3
);
+ Phụ thống Pleistocen thượng, trầm tích biển (mQ
1
3
);
- Thống Holocen:
+ Phụ thống Holocen, phun trào bazan(βQ
2
);
+ Phụ thống Holocen hạ - trung;
+ Phụ thống Holocen thượng;
Các phân vị địa tầng trên
hầu hết lộ ra trên mặt, trừ phụ
thống Pleistocen trung (mQ
1
2
) bị
phủ hoàn toàn.

(βQ
1
2-3
) có diện lộ 4,65km2 chiếm 28%; phụ thống Pleistocen thượng, trầm
tích biển (mQ
1
3
) diện lộ 2,03 km
2
chiếm 12% diện tích; phụ thống Holocen-
phun trào bazan (βQ
2
) có diện lộ 2,25km2 chiếm 14%; phụ thống Holocen hạ
- trung trong trầm tích biển (mQ
2
1-2
) có diện lộ 3,04km2 chiếm 18%; phụ tầng
Holocen hạ - trung trong trầm tích gió(vQ
2
1-2
) có diện lộ 3,56 km2 chiếm
21%; phụ thống Holocen thượng trong trầm tích biển(mQ
2
3
) có diện lộ
0,95km2 chiếm 6%; phụ thống Holocen thượng trong trầm tích gió (vQ
2
3
) có
diện lộ 0,12km2 chiếm 1% diện tích toàn huyện.

giường bệnh.

18
1.2.3. Giáo dục
- Mẫu giáo: Năm học 2007-2008, toàn huyện đảo có 3 trường mẫu giáo
với 38 giáo viên chăm sóc cho 1168 em.
- Tiểu học: trên đảo hiện có 6 trường tiểu học với 69 phòng học. Có 131
giáo viên giảng dạy cho 2600 học sinh.
- Trung học cơ sở với 3 trường và 25 phòng học, có 122 giáo viên giảng
dạy cho 2.122 học sinh.
- Phổ thông trung học: trên đảo chỉ có một trường PTTH, tổng cộng có
36 giáo viên giảng dạy cho 780 học sinh.
1.2.4. Văn hóa - xã hội
Toàn đảo đã được phủ sóng phát thanh - truyền hình TW. Phong trào văn
hoá, văn nghệ quần chúng cũng đã phát triển, tuy nhiên cơ sở vật chất còn yếu
kém, chưa có rạp chiếu bóng, trung tâm sinh hoạt văn hoá Nhìn chung nhu
cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân còn chưa được đáp ứng.
Quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững.
Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc ngày càng được các
tầng lớp nhân dân tham gia. Năng lực quản lý điều hành của các cấp chính
quyền có bước chuyển biến tiến bộ; phương thức, lề lối làm việc, tinh thần
trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức ngày càng được nâng lên.
1.2.5. Hiện trạng kết cấu hạ tầng
* Hệ thống cấp nước
Hiện tại, ở đảo có 8 trạm cấp nước tập trung (khai thác nước dưới đất) do
nhân dân tự đầu tư và nhà máy nước Ngũ Phụng - Long Hải do nhà nước
quản lý.
Theo số liệu kiểm kê sơ bộ hiện trạng khai thác, sử dụng nước trên đảo năm
2008, tổng số công trình khai thác nước dưới đất hiện có ở đảo khoảng 2064
công trình (trong đó, có 95 công trình dùng giếng khoan khai thác nước ngầm).

20
b) Nông nghiệp
Nông, lâm nghiệp giữ một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế,
chiếm 8,7% GDP của huyện, là nguồn thu nhập chính của 4.100 nhân khẩu và
1.937 lao động, chiếm 18% dân số và 17% lao động của huyện.
c) Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp của huyện đảo chủ yếu là trồng rừng để tạo không
gian xanh và tăng độ che phủ. Công tác trồng rừng trong những năm qua được
quan tâm, thực hiện có kết quả tốt. Tuy nhiên, nhiều người dân huyện đảo còn
chưa nhận thức được vai trò quan trọng của cây xanh có tác dụng vừa chắn
gió, vừa lưu giữ nguồn nước ngầm và tạo cảnh quan môi trường đảm bảo sự
phát triển bền vững trên đảo và trong khu vực quanh huyện đảo Phú Quý.
d) Công nghiệp
Trên địa bàn huyện đảo đã hình thành một số cơ sở sản xuất công nghiệp
làm tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp của huyện. Tính đến năm
2008 có 58 doanh nghiệp với khoảng 904 lao động (nguồn niên giám thống kê
Bình Thuận 2008).
Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp giai đoạn 1991-2000 bình quân
36,13%/năm, thời kỳ 2001-2005 đạt 30%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp
năm chiếm tỷ trọng 29,8% trong cơ cấu kinh tế của huyện đảo.
e) Thương mại, dịch vụ, du lịch
Hoạt động thương mại, dịch vụ trên huyện đảo chủ yếu phục vụ cho hoạt
động kinh tế biển như cung cấp xăng dầu, vật tư ngư lưới cụ, phụ tùng phục
vụ đánh bắt hải sản, cung cấp lương thực thực phẩm
Hoạt động du lịch mặc dù có tiềm năng lớn song hiện tại hầu như chưa
có gì do cơ sở hạ tầng yếu kém, tầu vận tải hành khách thiếu, việc đi lại khó
khăn, mất nhiều thời gian (trung bình mất 4-5 giờ cho một chuyến hành trình
từ Phan Thiết đến Phú Quý) và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết.

21

hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến và dịch vụ du lịch.
- Đẩy mạnh chương trình xuất khẩu, trong đó tập trung cho nhóm hàng
chủ lực là hải sản.
- Ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội như cảng, giao thông, điện nước, trường học với mọi nguồn lực đầu tư
phát triển.
- Phát triển xã hội, phấn đấu nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của
dân cư, đi cùng với việc bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững.
1.3.3. Định hướng các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của vùng đảo Phú Quý
- Định hướng phát triển chung của đảo Phú Quý là trung tâm chính trị –
kinh tế – văn hóa – xã hội – khoa học kỹ thuật của huyện Phú Quý. Là khu
vực tập trung dân cư duy nhất của huyện đảo Phú Quý.
- Là trung tâm giao dịch buôn bán và dịch vụ khai thác – chế biến hải sản
của tỉnh và khu vực Đông Nam bộ.
- Là khu hậu cư quan trọng về an ninh quốc phòng vùng biển – hải đảo
của tỉnh Bình Thuận và cả nước.
- Căn cứ vào yêu cầu thực hiện phát triển kinh tế đảo Phú Quý đã được
thủ tướng chính phủ phê duyệt, đề ra một số phương án tăng trưởng kinh tế
của huyện đảo Phú Quý.

23
Bảng 1.5: Dự báo một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu theo phương án chọn
Chỉ tiêu
Đơn vị
2000
2005
2010
2015
2020
Dân số trung bình

8.255
19.848
45.833
102.842
Cơ cấu kinh tế
Chia ra theo 3 khu vực

100
100
100
100
100
CN-XD
%
25,05
35,70
49,47
57,89
62,83
NLNN
%
55,03
44,60
30,29

Chia theo SX-dịch vụ

100
100
100
100
100
Sản xuất
%
79,99
71,30
79,77
79,30
76,54
Dịch vụ
%
20,01
19,70
20,23
21,70
23,46
So sánh với năm 200
Dân số
Lần

1,00
1,83
3,29
GDP/đầu người (giá 94)
Lần
0,36
0,58
1,00
1,71
2,90
( Nguồn: QH phát triển kinh tế xã hội huyện Phú Quý thời kỳ 2006 – 2020)
Nhận xét về ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội đến nguồn nước
ngọt vùng huyện đảo Phú Quý
Với thực trạng và định hướng phát triển kinh tế đảo Phú Quý với mục
tiêu là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa - xã hội – khoa học kỹ thuật của
huyện Phú Quý.
Đảo Phú Quý với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân dự kiến qua các
giai đoạn từ năm 2006-2010 là 13,2%, giai đoạn từ năm 2011-2015 là 12,8%,
giai đoạn từ năm 2016-2020 là 12,5%. Nền kinh tế chuyển dịch theo hướng

24
tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành
nông nghiệp. Sự tăng trưởng kinh tế cùng với chất lượng cuộc sống được
nâng cao có ảnh hưởng tốt đến ý thức bảo vệ chất lượng các nguồn nước
trong vùng.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh của nền kinh tế kéo theo các nhu cầu phát
triển khác lại trở thành áp lực lớn đối với nguồn nước do nhu cầu nước cung cấp
phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng. Nguồn nước khan hiếm đã khiến
cho quá trình quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng gặp nhiều khó
khăn. Thêm nữa, cùng với lượng nước sử dụng trong sinh hoạt cũng như trong

1137,
87%
Mïa kh«,
177, 13%

Hình 1.7: Cơ cấu phân bố mưa theo mùa

Trích đoạn Một số mụ hỡnh nghiờn cứu lan truyền chất lỏng chảy ngầm Chỉnh lý mụ hỡnh khụng ổn định Biện phỏp cụng trỡnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status