ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------
Nguyễn Văn Hiếu
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------------------
Nguyễn Văn Hiếu
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CẤU TRÚC
QUẦN XÃ SAN HÔ CỨNG VÀ HÌNH THÁI RẠN SAN HÔ
VEN ĐẢO PHÚ QUÝ TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Thuỷ sinh vật học
Mã số: 60.42.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN HUY YẾT
1.2.3. Đặc điểm cấu trúc và hình thái rạn san hô. .................................................9
1.2.4. Hiện trạng rạn san hô Việt Nam ...............................................................11
1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên và tình hình nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn
san hô ven đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. ............................................................14
1.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên.....................................................................14
1.3.1.1. Vị trí địa lý .......................................................................................14
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng ....................................................16
1.3.1.3. Điều kiện khí tượng, thuỷ văn............................................................17
1.3.2. Tổng quan một số nghiên cứu nguồn lợi hải sản và rạn san hô ven đảo Phú
Quý....................................................................................................................18
CHƯƠNG 2. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................20
2.1. Thời gian và phạm vi nghiên cứu....................................................................20
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ...............................................................................20
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................20
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................22
2.2.1. Phương pháp thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường........................22
2.2.2. Phương pháp điều tra và nghiên cứu san hô cứng và rạn san hô................22
2.2.2.1. Thiết kế điều tra, nghiên cứu..............................................................22
2.2.2.2. Phương pháp Manta - tow..................................................................23
2.2.2.3. Phương pháp xác định độ phủ san hô và các hợp phần đáy khác ........24
2.2.2.4. Phương pháp xác định cấu trúc rạn ....................................................24
2.2.2.5. Phương pháp xác định diện tích rạn san hô ........................................26
2.2.2.6. Phương pháp phân loại san hô cứng...................................................27
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu .........................................................................27
2.2.3.1. Hệ số tương đồng Sorensen (S) .........................................................27
2.2.3.2. Độ phủ san hô cứng sống và các hợp phần đáy khác ..........................27
2.2.3.3. Xác định diện tích rạn san hô .............................................................28
2.2.3.4. Xử lý các yếu tố môi trường ..............................................................29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................70
PHỤ LỤC..............................................................................................................76
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam…..............……...7
Bảng 2. Độ phủ san hô tại một số vùng chủ yếu ven biển Việt Nam ......................11
Bảng 3. Biến đổi độ phủ san hô cứng, san hô mềm và san hô chết ở một số địa điểm
xung quanh quần đảo Côn Đảo quan sát trước và sau cơn bão Linda năm 1997.....13
Bảng 4. Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch Long Vĩ
tháng 5/1998..........................................................................................................13
Bảng 5. Toạ độ mặt cắt tại các vùng rạn nghiên cứu san hô ven đảo Phú Quý .......23
Bảng 6. Giới hạn cho phép của một số thông số môi trường nước sử dụng đánh giá
tổng thể môi trường ...............................................................................................29
Bảng 7. Giá trị của một số thông số môi trường nước cơ bản ven đảo Phú Quý .....31
Bảng 8. Hàm lượng COD, dầu và xyanua trong nước biển ven đảo Phú Quý.........32
Bảng 9. Cấu trúc thành phần loài quần xã san hô cứng ven đảo Phú Quý ..............35
Bảng 10. Đa dạng thành phần loài san hô cứng vùng biển Đông Nam Bộ..............37
Bảng 11. Danh sách thành phần loài san hô cứng và phân bố ven đảo Phú Quý....38
Bảng 12. Chỉ số Sorensen về sự tương đồng của loài giữa các vùng rạn khảo sát san
hô ven đảo Phú Quý ..............................................................................................44
Bảng 13. Giới hạn phân bố theo độ sâu của quần san hô ven đảo Phú Quý ............47
Bảng 14. Phân bố diện tích tại các vùng rạn san hô chủ yếu ven đảo Phú Quý.......51
Bảng15. Độ phủ trung bình san hô sống, hợp phần đáy tại 9 vùng rạn ven đảo Phú
Quý .......................................................................................................................53
iv
MỞ ĐẦU
San hô cứng thuộc ngành động vật Ruột khoang (Coelenterata) chỉ sống ở
biển, có thành phần loài rất phong phú. Cho tới nay trên thế giới có khoảng 2000
loài thuộc 172 giống, 22 họ san hô hiện đại đã được công bố [49]. Đa số các loài
san hô cứng đều sống thành tập đoàn ở vùng biển nông nhiệt đới, chỉ một số ít loài
sống đơn độc. Chúng có thể phân bố rộng, sống cả ở vùng nước lạnh, độ sâu lớn,
không có ánh sáng. Xét về vai trò tạo rạn, san hô cứng được chia thành hai nhóm:
nhóm san hô tạo rạn (Hermatypic) và nhóm san hô không tạo rạn (Ahermatypic).
Hai nhóm này có sự tương đồng về cấu trúc động vật, chỉ khác nhau cơ bản ở chỗ
san hô tạo rạn có tảo cộng sinh (Zooxanthellae) nằm trong mô thịt động vật, trong
khi đó nhóm san hô không tạo rạn không có. Vì vậy hai nhóm có sự khác nhau về
sinh thái và động thái dinh dưỡng. Nhóm thứ nhất vừa có khả năng dinh dưỡng
bằng quang hợp, vừa ăn cả động vật, nhóm thứ hai chỉ ăn thịt, phân bố không phụ
thuộc vào ánh sáng.
Về sinh thái, quần xã san hô là nhóm động vật sống bám đáy không di
chuyển, tạo thành các tập đoàn (colony) rất đông đảo, còn để lại nhiều di tích hoá
thạch được bảo tồn tại chỗ trong các lớp trầm tích trên khắp thế giới. Vì thế chúng
không chỉ có giá trị trong nghiên cứu địa tầng mà còn là đối tượng tốt cho nghiên
cứu biến đổi khí hậu trong những năm gần đây.
Ngoài ra hệ sinh thái rạn san hô có đặc tính đa dạng sinh học cao mà trước
hết là sự thể hiện giàu có về thành phần loài sinh vật trên rạn. Trên cùng một diện
tích phân bố ở từng vùng, không một hệ sinh thái biển nào có thành phần loài nhiều
hơn rạn san hô [53]. Rạn san hô là môi trường mà nhiều loài phụ thuộc vào đó. Nền
đáy cứng trên rạn là nơi mà nhiều loài sinh vật đáy sinh sống và sinh trưởng. Một số
lượng lớn các hang hốc trên rạn cung cấp nơi trú ẩn cho cá, đặc biệt là cá con và các
động vật không xương sống. Nhiều loài còn coi rạn san hô là nơi duy trì tồn tại của
chu trình sống và sử dụng rạn như là nơi kiếm ăn, đẻ trứng hoặc ương con và trú ẩn.
Vì vậy từ những năm 1991 trở về đây những chương trình nghiên cứu biển trên các
rạn san hô ở Việt Nam tập trung vào những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng
rạn san hô được quan tâm muộn như vậy vì một nửa đường bờ của Đại Tây Dương
nằm ở vùng nhiệt đới và 1/3 bờ biển nhiệt đới có san hô phân bố. Trong cuốn sách
“Rạn san hô” xuất bản năm 1842, Charles Darwin đã chỉ ra những vùng phân bố
chính của rạn san hô trên thế giới. Bản đồ này được coi là khá tin cậy trong phạm vi
lớn. Sau đó James Dana cũng có một công trình lớn vào năm 1872, tuy nhiên tác
phẩm đó lại bị Darwin phê phán do quan điểm về sự hình thành các đảo san hô
vòng. Darwin đã đúng và được nhiều nhà khoa học cùng thời ủng hộ. Tuy nhiên,
mối quan tâm của giới khoa học về cuộc tranh luận này đã dừng lại với bản đồ phân
bố và lý thuyết hình thái rạn của Darwin. Những quan tâm đối với san hô, một cách
tách biệt khỏi nghiên cứu về rạn, được thực hiện từ cuối thể kỷ thứ XVIII. Mẫu vật
san hô đã được thu thập trong nhiều chuyến khảo sát lớn và được định loại trưng
bày ở các bảo tàng Châu Âu và Mỹ. Trước khi có những tiến bộ về lặn có khí tài,
những vùng nghiên cứu chủ yếu giới hạn ở Biển Đỏ, Nhật Bản, Palau, Philippines,
Great Barrier Reef, Hawaii, đảo Marshall và vịnh Carribe. Tính ra đã có tới 400
công trình về phân loại san hô tạo rạn được xuất bản với 2000 tên gọi đã được đặt
và mô tả trước thời đại lặn có khí tài. Rất tiếc là nhiều mô tả thời đó rất sơ sài và tên
gọi thì khá lộn xộn. Về sau này, với các trang thiết bị hiện đại và qua nhiều chuyến
khảo sát lớn, hiểu biết về rạn san hô và san hô tạo rạn đã được cải thiện [21].
Cho đến nay, khoảng 700 loài san hô tạo rạn đã được ghi nhận trên thế giới với tính
đa dạng loài khác nhau giữa các vùng biển thế giới. Trong đó vùng đa dạng nhất là
nhiệt đới Tây Thái Bình Dương. Lý thuyết của Darwin cho rằng kiếu cấu trúc đảo
san hô vòng “là hình ảnh của một hòn đảo bị chìm ngập” đã được chứng minh bằng
các dẫn liệu về khoan sâu. Những nghiên cứu về rạn san hô trong thế kỷ hai mươi
đã tập trung đánh giá những tác động và hậu quả sinh thái do hoạt động của con
người gây nên đối với rạn và tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo tồn rạn san hô cho
3
thế hệ tương lai.
[3] và Krempf.A ([12]. Những khảo sát tiếp theo của Serene , R. [56] ; Dawydoff.
C.N., (1952) [54] ở nhiều vùng biển ven bờ cũng cho phép nêu lên những nhận định
về thành phần san hô cứng, cấu trúc và phân bố của một số rạn san hô ở vịnh Hạ
Long, vịnh Thái Lan, Côn Đảo và ven biển miền Trung.
Từ năm 1955 đến năm 1975, nghiên cứu về rạn san hô được tiến hành không
nhiều. Đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu ở vịnh Nha Trang của Trần
Ngọc Lợi (1955) [56] mô tả các quần xã sinh vật rạn san hô ở vùng nước nông và
tài liệu phân loại san hô mềm của Tixier - Durivault (1970)[45].
Từ năm 1975 đến năm 1990 là thời kỳ có nhiều chương trình nghiên cứu lớn,
tiêu biểu là các chương trình hợp tác với Liên Xô. Những nghiên cứu cơ bản về rạn
san hô được quan tâm trong các công trình khoa học biển của Nhà nước và nhất là
trong các chuyến khảo sát liên hợp Việt Xô. Các công trình xuất bản trong thời kỳ
này đã cung cấp những dẫn liệu cơ bản về phân bố, quần xã sinh vật rạn, thành phần
loài san hô tạo rạn và hiện trạng của nhiều rạn san hô ở vùng biển ven bờ miền
Trung và quần đảo Trường Sa. Những kết quả đáng chú ý của giai đoạn này được
xuất bản vào những năm sau đó, bao gồm các công trình của Latypov [5,6,7,8];
Nguyễn Huy Yết [26, 27, 28, 29,30, 31, 34]; Võ Sĩ Tuấn [17, 18, 19], [20].
Các nghiên cứu về san hô thực hiện sau năm 1990 chủ yếu tập trung vào
những vấn đề liên quan đến tiềm năng đa dạng sinh học, hiện trạng khai thác sử
dụng và cơ sở khoa học cho việc thành lập các khu bảo tồn biển. Trong đó, những
báo cáo điều tra của các đội khảo sát Quỹ bảo vệ động vật hoang dã Quốc tế
(WWF) và Viện Hải Dương học là cơ sở ban đầu để đề xuất hệ thống khu bảo tồn
biển Việt Nam. Song song với vấn đề bảo tồn thiên nhiên, việc tổng kết và nghiên
cứu cũng cho phép giải quyết một số vấn đề cơ bản như địa động vật, phân vùng đa
dạng sinh học dựa trên đặc tính khu hệ san hô tạo rạn [9]. Từ năm 2000 đến nay,
Viện Hải dương học Nha Trang phối hợp với một số tổ chức Quốc tế khác tiến hành
các chương trình nghiên cứu cơ bản về hệ sinh thái rạn san hô, nhưng tiêu biểu là 2
nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học làm cơ sở khoa học cho việc phân vùng và
phía Bắc và gần tương đương với các vùng giàu có san hô của thế giới như
Philippines (441 loài), Nam Papua New Guinea (282 loài), Biển Coral Sea (239
loài), Bắc Great Barrier Reef (324 loài), giữa Great Barrier Reef (343 loài) [50] và
Đông Indonesia (350 loài) [36]. Tổng số loài ghi nhận ở ven biển Việt Nam cho ta
nhận định rằng: Vùng biển Việt Nam là một trong những vùng có thành phần loài
san hô khá đa dạng của thế giới.
Trong 79 giống san hô cứng đã xác định ở Việt Nam, có 72 giống thuộc
nhóm san hô tạo rạn. Tuy nhiên, sự đa dạng loài san hô tạo rạn khá khác nhau giữa
các vùng phân bố (bảng 1).
6
Bảng 1. Số lượng loài san tạo rạn ở các vùng ven biển Việt Nam
Số lượng
Số lượng
Số lượng
Số lượng
giống san
loài san hô
giống san
loài san hô
77
400
71
350
Đông Nam Bộ
63
350
61
>300
Tây Nam Bộ
64
270
61
Trường Sa, Hoàng Sa
65
biệt nhiều so với vịnh Bắc Bộ. Trong khi đó luận điểm phân vùng địa động vật của
Gurjanova, (1976) cho rằng khu hệ động vật vịnh Bắc Bộ thuộc phân vùng Trung
Hoa- Nhật Bản, còn vùng biển phía Nam từ 13 độ vĩ tuyến Bắc trở vào thuộc phân
vùng Ấn Độ-Mã Lai.( trích Võ Sĩ Tuấn ctv, 2005). Dường như tính chất thành phần
loài san hô cứng không phù hợp với luận điểm này. Đây cũng là cơ sở để một số tác
giả Maliautin & Latypov, 1991[9] phủ nhận phân chia vùng địa động vật ở Biển
Đông. Vấn đề cần xem xét thêm là hầu hết san hô cứng tạo rạn mang tính chất
nhiệt đới rõ rệt và đều phát tán từ trung tâm ở vùng nhiệt đới thông qua vai trò của
dòng chảy trên biển. Yếu tố này thay đổi theo mùa rất phức tạp đối với các vùng
biển ven bờ và chi phối tính chất khu hệ san hô. Ngay cả ở vùng biển vĩ độ cao phía
Bắc như Okinawa cũng có khu hệ san hô cứng khá điển hình nhờ ảnh hưởng của
dòng chảy Kuroshio. San hô tạo rạn không có con đường phát tán ngược lại từ phía
Bắc như nhiều nhóm sinh vật có nguồn gốc hình thành đa dạng khác. Vì vậy, cần
phải thận trọng khi dựa vào tính chất thành phần loài san hô để xem xét phân vùng
địa động vật.
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái rạn san hô
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam nói chung khá
thuận lợi cho sự phát triển của san hô tạo rạn, trừ các vùng chịu ảnh hưởng của các
lưu vực sông với độ muối thấp và độ đục cao. Rạn san hô phân bố hầu hết tại các
vùng nước nông ven bờ, ven đảo có nền đáy chắc, rất giàu có ở các quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên tính chất phân bố và hình thái các rạn san hô
tương đối khác nhau giữa các vùng địa lý.[21]
Vùng ven bờ thuộc bờ Tây vịnh Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên ít thuận lợi nhất
trên phương diện sinh thái san hô tạo rạn. Các yếu tố bất lợi là nhiệt độ thấp vào
mùa đông và ảnh hưởng lớn của các dòng vật chất từ đất liền. Vùng có rạn san hô
phân bố thường chỉ ở phần ngoài của các vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Quần đảo Cô
Tô, Long Châu… Hầu hết vùng này đều có đáy biển nông , nhiều bùn. Vì vậy, rạn
8
9
Theo quan sát tổng quan đặc điểm hình thái rạn san hô ven bờ Việt Nam, rạn
riềm ven bờ chủ yếu tập trung từ Quảng Trị đến vịnh Cà Ná. Các rạn riềm ven bờ
đều không xuất hiện dọc đường bờ vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và Tây Nam Bộ, nơi
mà các đường bờ biển và ảnh hưởng của sông đều không thuận lợi cho chúng. Rạn
riềm ven đảo phổ biến nhất ở vùng biển Việt Nam gồm: Các cụm đảo trên thềm lục
địa như Hạ Long, Cát Bà, Cô Tô, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, các đảo nhỏ ở Khánh Hoà,
Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du. Các điều kiện chủ yếu thuận lợi
cho rạn tồn tại bao gồm nền đáy cứng xung quanh đảo, ảnh hưởng của sông ngòi từ
đất liền đến đảo không lớn.
Về mặt hình thái các rạn san hô riềm nói chung thuộc vào hai dạng khác nhau:
rạn riềm điển hình và rạn riềm không điển hình. Rạn riềm điển hình là giai đoạn
hoàn chỉnh của quá trình hình thành rạn san hô và các thành phần cấu trúc của rạn
được hình thành đầy đủ.
Rạn dạng nền theo Veron J.E.N. (1986), được gọi là rạn dạng đốm - thuật
ngữ của Stoddard là rạn phát triển trên các bãi cạn, đồi ngầm. Cùng với quá trình
phát triển của địa chất, chúng có thể hình thành nên các đảo san hô. Kiểu rạn này ở
Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều. Trong khi đó, sơ đồ địa hình thềm lục địa
Việt Nam cho thấy vùng biển nước ta phân bố nhiều bãi cạn, đồi ngầm. Những tư
liệu tập hợp được chỉ cho phép nêu lên nhận xét về hình thái rạn ở một số bãi cạn
[49].
Ví dụ: bãi cạn lớn (vịnh Nha Trang) được cấu thành bởi đá macma tuổi trước
Đệ Tam [16]. Diện tích của nó khoảng 10 km2, nhô lên từ độ sâu khoảng 20m. San
hô tạo rạn phát triển chủ yếu ở sườn dốc phía Đông Bắc và đạt độ phủ khá cao.
Thành phần san hô chủ yếu gồm các loài Seriatopira histrix, Porites lutea, P. rus,
Galaxea fascicularis, Lobophyllia corymbosa, Acropora valida. Trên đỉnh bãi cạn
thành phần loài san hô nghèo và tập đoàn có kích thước nhỏ. Rong mơ phát triển
mạnh ở vùng này và bao phủ gần hết diện tích nền đáy.
khảo sát
Khoảng giao động
độ phủ (%).
Độ phủ trung
bình (%).
Năm
khảo sát
1
Hạ Long – Cát Bà
21
12 - 65
40,6 ± 15,2
1998
2
Bạch Long Vĩ
5
2,7 - 4,7
Vịnh Nha Trang
8
5,6 – 44,4
26,4 ± 15,9
2002
6
Ninh Thuận
6
16,3 – 55,9
36,9 ± 13,5
2002
Stt
11
7
42,2 ± 8,6
2002
10
Nam Du
4
37,8 – 62,8
47,4 ± 11,7
2002
11
Thổ Chu
4
4,6 – 15,9
11,3 ± 4,80
2002
Độ phủ san hô sống trên rạn tại một số khu vực phân bố chủ yếu vùng ven bờ
Việt Nam đang bị giảm dần theo thời gian, có nhiều nơi độ phủ giảm đến trên 30%.
nghiên cứu
1994-1995 (Trước bão Linda)
4/1998 (Sau bão Linda)
SH cứng
SH mềm
SH chết
SH cứng
SH mềm
SH chết
Bến Đầm
44,7
0
11,4
31,56
0,31
Đất Dốc
37,5
0
20
19,69
1,25
58,20
Hòn Cau
52,0
0
42,0
0,63
0
74,38
Hòn Trọc
sản.
Bảng 4. Hàm lượng Cyanua trong môi trường nước xung quanh đảo Bạch
Long Vĩ tháng 5/1998
Đối tượng
Hàm lượng (Trung bình)
Nước biển
0,38-1,12 mg/l (0,704 mg/l)
Trầm tích đáy
2160-4190 mg/kg (2980 mg/kg)
Rong biển tươi
20,01-60,24 mg/kg (38,85 mg/kg)
Thịt bào ngư tươi
310,5-732,4 mg/kg (544,1 mg/kg)
Ghi chú
Hàm lượng vượt tiêu
chuẩn cho phép từ
7,6-22,4 lần
Nguồn: (Võ Sĩ Tuấn và Nguyễn Huy Yết, 2001)
1.3.1.2 Địa hình, địa mạo, địa chất địa tầng
* Địa hình, địa mạo
Huyện đảo Phú Quý với 10 đảo lớn nhỏ, bao gồm: nhóm đảo Phú Quý và nhóm
Hòn Hải [14],[15].
Nhóm đảo Phú Quý: Gồm đảo Phú Quý và 5 hòn đảo nhỏ khác.
Đảo Phú Quý: Đảo trung tâm.
Hòn Tranh: Cách cảng Phú Quý 600m, nằm về phía Đông Nam đảo Phú
Quý. Hòn Tranh có dạng hình chữ S, nơi rộng nhất 400m, nơi dài nhất 1000m với
diện tích gần 2,8km2. Hòn Tranh trước đây là một hoang đảo chủ yếu là cỏ tranh,
được nhân dân phá trồng hoa màu và hiện nay đang được trồng rừng phục hồi môi
trường. Hòn Tranh không có dân cư sinh sống và hiện là nơi đặt trạm ra đa quan sát
biển của lực lượng hải quân nhân dân Việt Nam.
Hòn Đen (Hòn Mực): Nằm về phía Đông Bắc, cách Phú Quý khoảng 100m,
gồm toàn đá mẹ bazan chưa phong hóa.
Hòn Trứng (Hòn Ngoài, Hòn Nghiên, Hòn Đá Cao, Hòn Đá Quý): Nằm ở
phía Tây Bắc, cách Phú Quý 3km. Hòn Trứng là điểm tựa của nhiều loại ghe
thuyền. Mùa gió Nam thuyền có thể neo đậu ở phía Bắc, mùa gió Bắc có thể neo
đậu ở phía Nam.
Hòn Giữa: Đây là một dãy ghềnh đá bén nhọn nằm cạnh Hòn Đen, nằm vắt
ngang như một nhịp cầu nối liền Hòn Đen và Hòn Đỏ.
Hòn Đỏ: Nằm phía Đông Bắc đảo Phú Quý. Sở dĩ có tên gọi là Hòn Đỏ vì ở
đây toàn là đá màu đỏ.
Đường bờ đảo Phú Quý cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ yếu là vành đai
đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô và xâm nhập. Đường bờ là đường phân cắt
giữa bề mặt biển và lục địa. Sự phân bố và vị trí đường bờ thường không cố định,
phụ thuộc vào thủy triều, bồi tụ và xói lở.
Các bãi triều ven đảo Phú Quý được chia làm 5 dạng chính [14],[15].
Bãi triều rạn đá gốc điển hình: Bãi triều được hình thành do các lớp đá gốc
nằm chồng chất lên nhau.
- Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Phú Quý có chế gió mùa với hai mùa rõ rệt:
mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9, mùa gió Bắc từ tháng 10 đến tháng 2
17
năm sau. So với nhiều vùng ở đất liền, khí hậu ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của
không khí biển nên quanh năm mát mẻ.
- Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 28-290C.
Nhiệt độ nước biển cũng khá ổn định, trung bình 270C. Độ ẩm không khí trung bình
từ 82-84% [2]
- Mưa và bốc hơi nước: Khí hậu ở đảo Phú Quý có tính chất cận xích đạo, nóng
quanh năm, có một mùa mưa và một mùa khô khá kéo dài. Mùa mưa kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa năm thấp (1.170 mm/năm), tổng lượng bốc hơi
năm xấp xỉ bằng tổng lượng mưa (1.059 mm). Mùa khô ở Phú Quý kéo dài từ tháng
12 đến tháng 4, sâu sắc nhất là vào tháng 1 và 2.
- Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Vùng biển đảo Phú Quý ít bị bão (trung
bình 0,66 cơn bão/năm), nhưng gió mạnh nhất là vào mùa gió Tây Nam có thể gây
sóng lớn làm phá hủy bờ biển, các công trình cảng, các đầm nuôi cũng như gây khó
khăn cho việc nuôi lồng trên biển. Ở phía Đông Bắc đảo thường chịu ảnh hưởng
trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, lại chỉ có các đảo nhỏ chắn sóng, nên hiện tượng
xói lở bờ đảo cũng diễn ra khá mạnh [2].
*Điều kiện thuỷ văn
Chế độ thuỷ triều mang tính chất chung của vùng biển Bình Thuận là nhật
triều không đều. Độ cao mực nước triều cường ở đây tăng lên 2,0 - 3,5m. Vùng
quanh đảo Phú Quý chịu ảnh hưởng của 2 dòng biển ven bờ giao nhau: Dòng biển
ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang theo nhiều chất dinh
dưỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp hơn và độ muối cao hơn, tạo ra
môi trường thuận lợi. Ngoài ra, nước biển quanh đảo Phú Quý còn chịu ảnh hưởng
của vùng nước trồi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam. Vì vậy, môi trường nước quanh