Nghiên cứu thành phần loài khu hệ cá, hiện trạng khai thác và giải pháp quản lý nguồn lợi cá tại hồ chứa hồ tây, tỉnh đắk nông - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ VIỆT PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI KHU HỆ CÁ,
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NGUỒN LỢI CÁ TẠI HỒ CHỨA HỒ TÂY, TỈNH ĐẮK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ VIỆT PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI KHU HỆ CÁ,
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NGUỒN LỢI CÁ TẠI HỒ CHỨA HỒ TÂY, TỈNH ĐẮK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành đào tạo: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60620301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS. TS Nguyễn Đình Mão
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG


1.3.2.3. Tôn giáo – tín ngưỡng ...................................................................................... 23
1.3.3. Ngành thủy sản của tỉnh Đắk Nông .........................................................................23
1.3.4. Khái quát và hoạt động khai thác tại Hồ Tây ...................................................... 25
1.3.4.1. Khái quát về Hồ Tây......................................................................................... 25
1.3.4.2. Hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản tại Hồ Tây ......................................... 26
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................... 28
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu ........................................................ 28
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 28
2.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp ...................................................................................... 28
2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp ........................................................................................ 29
2.2.2.1. Phương pháp thu thập mẫu cá .......................................................................... 29
2.2.2.2. Xử lý và bảo quản mẫu cá ................................................................................ 30
2.2.2.3. Phương pháp phân loại cá ................................................................................ 31
2.2.2.4. Tần số bắt gặp ................................................................................................... 33
2.2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................................ 33
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................................... 34
3.1. Thành phần loài khu hệ cá tại Hồ Tây.................................................................... 34
3.1.1. Danh mục thành phần loài ................................................................................... 34
3.1.2. Cấu trúc thành phần loài cá tại Hồ Tây ............................................................... 36
3.1.3. Các nhóm ưu thế .................................................................................................. 38
3.1.4. Tần số bắt gặp ...................................................................................................... 39
3.1.5. Giá trị kinh tế của các loài cá .............................................................................. 40
3.1.6. Đặc điểm hình thái các loài cá có trong hồ chứa Hồ Tây ................................... 41
3.1.6.1. Cá mè vinh - Barbonymus genionotus (Bleeker, 1850) ................................... 41
3.1.6.2. Cá trắm cỏ - Ctenopharyngodon idella Valencienes, 1844 ........................................42
3.1.6.3. Cá chép - Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758) ................................................... 43
vi


3.1.6.4. Cá trôi Ấn Độ - Labeo rohita Hamilton, 1822 ................................................. 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 68
vii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CPUE:

Catch per unit effort (Sản lượng khai thác/ ngư cụ)

ĐBSCL:

Đồng bằng sông Cửu Long

ICLARM:

The International Center for Living Aquatic Resources Management
(Trung tâm quốc tế về quản lý nguồn lợi thuỷ sản)

NTTS:

Nuôi trồng thủy sản

FAO:

Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức
nông lương thế giới)

viii


Hình 3.10. Cá lìm kìm sông - Zerarchopterus ectuntio (Hamilton, 1822) ................... 47
Hình 3.11. Lươn đồng - Monopterus albus Zuiew, 1793 .............................................. 47
Hình 3.12. Cá rô đồng - Anabas testudineus (Bloch, 1792) .......................................... 48
Hình 3.13. Cá Rô phi đen - Oreochromis mossambicus (Peters, 1852) ........................ 49
Hình 3.14. Cá Rô phi vằn - Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) ........................... 50
Hình 3.15. Cá bã trầu - Trichopsis vitatus (Cuvier, 1831) ............................................ 51
Hình 3.16. Cá sặc bướm - Trichopodus trichopterus (Pallas, 1770) ............................. 52
Hình 3.17. Cá sặc điệp - Trichopodus microlepis (Gunther, 1861) ............................... 53
Hình 3.18. Cá lóc đen (cá Lóc đồng) - Channa striata (Bloch, 1793) .......................... 54
Hình 3.19. Cá bống chấm đen - Acentrgobius viridipunctatus (Valencienes, 1837) .......55
Hình 3.20. Các hình thức và ngư cụ khai thác thủy sản tại Hồ Tây ............................... 60
x


Hình 3.21. Tác giả và cộng sự thu mẫu cá tại Hồ Tây .................................................. 61
Hình 3.22. Vị trí khai thác giữa hồ ................................................................................ 62
Hình 3.23. Vị trí khai thác quanh hồ ............................................................................. 62
Hình 3.24. Phương tiện khai thác thủy sản tại Hồ Tây ...................................................................63

xi


DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1.1. Sự đa dạng cá nước ngọt Việt Nam qua hai thời kỳ .................................... 10
Đồ thị 3.1. Cấu trúc taxon bậc họ trong các bộ cá ........................................................ 37
Đồ thị 3.2. Cấu trúc taxon bậc giống trong các bộ cá ................................................... 37
Đồ thị 3.3. Cấu trúc taxon bậc loài trong các bộ cá ...................................................... 38

xii


thống phân loại của Eschmeyer (1998) và Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005), với hệ thống
cá nước ngọt gồm 9 tổng bộ, 19 bộ, 13 phân bộ, 85 họ và 26 phân họ.
* Kết quả thu được của đề tài
Về thành phần loài:
- Thành phần loài cá tại hồ chứa Hồ Tây Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông
kém phong phú. Bước đầu xác định được 18 loài, 15 giống, 11 họ, thuộc 06 bộ khác
nhau. Trong thành phần loài cá tại hồ chứa Hồ Tây, số loài phong phú nhất thuộc về bộ
cá Vược (Perciformes) với 05 họ (chiếm 46% tổng số họ), 05 bộ (chiếm 33% tổng số
bộ) và 08 loài (chiếm 43% tổng số loài). Họ cá chiếm ưu thế về loài là họ cá Chép
(Cyprinidae) với 05 loài (chiếm 28% tổng số loài). Họ cá Bảy màu (Poeciliidae) 01
loài (chiếm 6% tổng số loài), họ cá Lăng (Bagridae) 01 loài (chiếm 6% tổng số loài),
họ cá Trê (Clariidae) 01 (chiếm 6% tổng số loài), họ cá Lìm Kìm (Hemiramphidae) có
01 loài (chiếm 6% tổng số loài), họ cá Liền mang có 01 loài (chiếm 6% tổng số loài).
Trong 18 loài cá thu được, có 03 loài thường gặp nhất chiếm 17%, có 05 loài thường
gặp chiếm 28%, có 4 loài ít gặp chiếm 22%, có 6 loài hiếm gặp chiếm 33%.
xiii


- Các loài cá thu được có giá trị kinh tế khác nhau, có loài có giá trị cao như: cá
Lăng nha (Mystus wyckioides (Fang & Chaux, 1949)), cá Lóc đen (Channa striata
(Bloch, 1793)), cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella Valencienes, 1844)…Nhưng hầu
hết chúng đều có thể làm thực phẩm hoặc đem ra chợ bán thương phẩm đều được.
Về hiện trạng khai thác:
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện có 18 hộ (trong đó có 04 hộ khai thác cá là
nguồn thu nhập chính) đang có hoạt động khai thác cá trên Hồ Tây với 08 loại ngư cụ chủ
yếu, bao gồm: rớ, vó đèn, lưới bén, câu, ống trúm, câu giăng, đăng, rọ tôm. Ngoài ra, còn
có các phương tiện đánh bắt hủy diệt như: Kích điện, thuốc cá…
- Vấn đề khai thác nguồn lợi thủy sản nói chung và khai thác cá tại Hồ Tây nói
riêng, chưa được chính quyền địa phương quản lý chặt chẽ. Do nhiều nguyên nhân như:
khai thác quá mức, khai thác bằng các phương tiện mang tính chất hủy diệt, ô nhiễm môi

phát triển kinh tế cho đất nước.
“Việt Nam là nước có diện tích nước ngọt lớn với bề mặt 653.000 ha sông ngòi,
394.000 ha hồ chứa, 85.000 ha đầm phá ven biển, 3,8 triệu ha ruộng lúa nước”[29]. Vì
vậy nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú. Theo kết quả điều tra khoa học
hiện nay đã xác định được 1027 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam [12], “trong đó
có 138 loài cá trong các thuỷ vực Tây Nguyên”[13].
Tuy nhiên, việc khai thác và đánh bắt quá mức, ô nhiễm môi trường đã làm cho
trữ lượng cá ngày một giảm mạnh, nhiều loài cá bị tuyệt chủng, nguy cơ bị tuyệt chủng
được liệt kê vào Sách đỏ Việt Nam. Trước tình hình đó việc nghiên cứu và bảo tồn các
loài cá là việc cấp bách hiện nay.
Đắk Nông là một trong 05 tỉnh ở Tây Nguyên, tỉnh có nhiều hồ chứa và đập lớn
phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và thủy điện. Đặc biệt, các thủy vực này
có tiềm năng rất lớn để phát triển thủy sản. Tuy nhiên, các nghiên cứu về động vật
thủy sinh ở các hồ chứa tự nhiên nước ta nói chung và Tây Nguyên nói riêng còn rất
hạn chế (do nghiên cứu từ rất lâu hoặc chỉ nghiên cứu riêng lẻ ở một số hồ). Vì vậy,
nghiên cứu động vật thủy sinh, đặc biệt là cá ở hồ chứa tỉnh Đắk Nông là rất cần thiết.
Đây là cơ sở để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản; quản lý, bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản ở hồ chứa theo hướng bền vững.
Chính vì các lý do trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài khu hệ
1


cá, hiện trạng khai thác và giải pháp quản lý nguồn lợi cá tại hồ chứa Hồ Tây, tỉnh
Đắk Nông”.
Mục tiêu của đề tài
- Lập danh mục thành phần loài cá tại hồ chứa Hồ Tây, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk
Nông và đánh giá sự đa dạng về thành phần loài cá tại khu vực nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý các loài cá nhằm đề xuất các
giải pháp bảo tồn, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững nguồn lợi cá tại Hồ Tây.
Nội dung nghiên cứu

thiệu trên 12000 loài chiếm khoảng 50% loài cá sinh sống trong các thủy vực.
+ Ngày nay, ngư loại học đã đi sâu nghiên cứu chi tiết hơn và phân chia các
vùng nghiên cứu, các khu hệ và phân bố địa lý. Các nước, các Châu lục đều có các
nhà Ngư loại nghiên cứu. Điển hình: Pravdin, P. Bănărescu, Chu Xinluo, Chen
Yinrui, R. Tyson, Kottelat, Walter Rainboth, Mai Đình Yên,... Về sinh lý, sinh thái
cũng phát triển mạnh, nhiều công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo có giá trị
như Sinh lý cá của Brown (1957), Putrkov (1941), E. Hoar (1968), Sinh thái chủng
quần cá của G. V. Nicholxki, Hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1958)...[35].
+ Ở Trung Quốc có nhiều tác giả nghiên cứu về cá như Chu Nguyên Đỉnh,
Trương Xuân Lâm, nhưng đầy đủ nhất có lẻ là cuốn “Ngư loại phân loại học” của
Vương Dĩ Khang [16] biên soạn. Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra khóa phân loại
3


và mô tả hai lớp cá sụn và cá xương gồm 70 bộ, 239 họ, 679 giống và 1800 loài cá
phân bố ở các thủy vực nước ngọt và biển ở Trung Quốc. Walter J. Rainboth [59]
nghiên cứu khu hệ cá sông Mê Kông mô tả đến 500 loài. Tiếp sau đó còn nhiều tác giả
khác như: Kottelat (1998, 2000, 2001, 2003) và Robert tiếp tục nghiên cứu khu hệ cá
Đông Dương.
+ Cho đến nay, các hệ thống phân loại cá hiện sống được xem là đầy đủ, bao gồm
hệ thống phân loại của hai giáo sư người Nga T. S. Rass, G. U. Lindberg (1971). FAO
[41], [42], [43] đã công bố danh mục loài cá thế giới và những tra cứu thống nhất của
chúng trong 2.500 cuốc sách. Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học cá đầy
đủ nhất từ trước đến nay.
Công tác nghiên cứu để bổ sung về phân bố cá trên thế giới vẫn đang được tiến
hành. Trung tâm ICLARM cùng với FAO lập ra trang web http://www.fishbase.org/ cho
phép chúng ta tìm kiếm những thông tin về phân bố của cá trên thế giới với danh lục
25.000 loài và phân bố của chúng trên thế giới. Chúng ta cũng có thể tìm thấy thông tin
điện tử từ các tạp chí khoa học chuyên ngành sinh học như Biology, Fishery…
Tóm lại, tình hình nghiên cứu ngư loại có rất sớm và lâu đời, ở mỗi nước trên

năng suất của những hồ chứa có diện tích < 70 ha có thể đạt từ 750 – 3000 kg/ha/năm.
Trung Quốc với khoảng 86.000 hồ chứa, tổng diện tích NTTS hồ chứa chiếm khoảng
40% diện tích NTTS nước ngọt. Sản lượng cá khai thác từ hồ chứa năm 1998 là
1.294.000 tấn tương ứng với năng suất là 810 kg/ha/năm. Ở Srilanka, năng suất cá
trong những hồ chứa nhỏ dao động từ 118,5 – 2.303,5 kg/ha/vụ, năng suất trung bình
là 819,7 kg/ha/vụ (Chandrasoma và Kumarasiri, 1986). Năng suất trung bình của
1.486.557 hồ chứa nhỏ ở Ấn Độ là 49,9 kg/ha/năm [27].
1.1.3.2. Nuôi cá lồng hồ chứa
Nuôi cá lồng hồ chứa luôn được xem là chiến lược hợp lý để tăng sản lượng cá
nhằm luân chuyển lao động và xóa đói giảm nghèo tại các cộng đồng ở vùng nông
thôn. Tại Trung Quốc, nghề nuôi cá lồng phát triển ở qui mô công nghiệp, chủ yếu
nuôi loài cá Siniperca chuatsi có giá trị kinh tế cao [60]. Hiện nay việc ương nuôi cá
bột, cá hương lên cá giống bằng lồng cũng chưa được khai thác hiệu quả trong các hồ
chứa. Hầu hết các nước Châu Á vì thiếu cơ sở ương giống nên người nuôi chấp nhận
thả cá giống cỡ nhỏ hay cá bột vào hồ nuôi nên tỷ lệ sống thấp, lợi nhuận không cao.
Việc ương cá hương lên cá giống hoặc cá giống nhỏ lên cá giống lớn trong lồng ở
những hồ chứa có thể rất hiệu quả, nhất là đối với những nước có cơ sở có nghề cá
kém phát triển. Ở Trung Quốc, hình thức nuôi thâm canh được tiến hành ở những hồ
chứa vừa, nhỏ và eo ngách năng suất cao nhất có thể đạt là 7.500 kg/ha/năm. Việc
5


nuôi thâm canh cũng được tiến hành đối với hình thức nuôi cá lồng với hơn 20 loài cá
khác nhau như chép, rô phi, trắm cỏ, năng suất từ 50 – 200 kg/m3 [26].
1.1.4. Sinh kế cộng đồng cư dân quanh hồ chứa
Nghiên cứu vấn đề liên quan giữa nuôi trồng và nguồn lợi thủy sản với sinh kế
những cộng đồng dân cư khu vực quanh các hồ chứa không nhiều. Xét theo phạm vi
quốc tế, mới tìm thấy một vài công bố liên quan đến sinh kế của các cộng đồng dân cư
bao quanh hồ chứa, điển hình là dự án sinh kế vùng nông thôn và tiếp cận tài nguyên
liên quan đến các hồ chứa quy mô nhỏ lưu vực sông Preto ở Brazil được thực hiện và

được phát triển dựa trên phương pháp đánh giá nhanh hệ thống quản lý nghề cá (Pido và
cộng sự, 1996; dẫn theo Phounsavath, 1998). Xét theo khía cạnh sinh kế, cách tiếp cận
sinh kế bền vững được nhiều tác giả áp dụng trong nghiên cứu sinh kế cộng đồng. Theo
đó, khung sinh kế được phát triển kết hợp với các kỹ thuật nghiên cứu kinh tế truyền
thống. Các phần tử thiết yếu của khung sinh kế bao gồm: nguồn lực; bối cảnh tổn thương;
các chính sách, cơ quan, thể chế và tiến trình; chiến lược sinh kế; kết quả của sinh kế và
mong muốn. Thông thường, khung sinh kế bền vững được đề xuất bởi Bộ Phát triển Quốc
tế Vương quốc Anh được áp dụng trong thiết kế điều tra và phân tích dữ liệu.
1.2. Tình hình nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam
 Giai đoạn trước năm 1954
Các nghiên cứu phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam đã được tiến hành khá sớm
bởi các nhà khoa học nước ngoài, trong đó công trình nghiên cứu đầu tiên là của
H.E. Sauvage (1881): “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở
Đông Dương” trong công trình này tác giả đã thống kê 139 loài cá chung cho toàn
Đông Dương và mô tả 02 loài mới ở miền Bắc Việt Nam [36].
G.Tirant (1883) đã mô tả 70 loài cá nước ngọt ở sông Hương (Thừa Thiên
Huế) trong đó có 03 loài mới. Những năm tiếp theo, có nhiều công bố về thành phần
loài cá ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như: H.E.
Sauvage (1884) thu thập 10 loài ở Hà Nội trong đó có 07 loài mới; L.Vaillant (18911904) thu thập 0 6 loài, mô tả 0 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 01 loài mới ở sông
Kỳ Cùng (Lạng Sơn) [36].
Với công trình nghiên cứu khá tổng quát về cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam
góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam, P.Chevey & J.
Lemasson (1937) đã giới thiệu 98 loài thuộc 17 họ cá ở miền Bắc Việt Nam [36].
“Thời kỳ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 (năm 1945) do hầu hết các nghiên
cứu cá nước ngọt đều do người Pháp tiến hành nên các mẫu chuẩn hầu hết lưu giữ tại
các Bảo tàng tự nhiên Paris. Các nghiên cứu trong thời kỳ này mới chỉ dừng lại ở mức
mô tả thống kê thành phần loài” [36].
7



cứu khu hệ cá Sông Đà thuộc 2 tỉnh Lai Châu và Sơn La gồm 174 loài; Mai Đình
8


Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) công bố thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài),
Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông
Cái (25 loài); Nguyễn Thái Tự (1983) với khu hệ cá sông Lam (157 loài); Nguyễn
Thái Tự (1986), Đặc điểm khu hệ cá Nghệ Tĩnh; Nguyễn Thái Tự (1992) Khu hệ cá
Vũ Quang; Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994) đã xác định được thành phần
loài ở một số sông suối của Tây Nguyên (82 loài); Võ Văn Phú (1995) Thành phần
loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài); Nghiên cứu về đặc trưng phân bố
và đặc điểm địa động vật học của cá nước ngọt Việt Nam, có các tác giả: Võ Quý
(1966); Mai Đình Yên (1973, 1985, 1988); Nguyễn Thái Tự (1983, 2000, 2003);
Kottelat (1989), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) ... [32].
Năm 1998, Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức tại Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã có nhiều báo cáo có giá trị trong nghiên cứu
ứng dụng như: Mai Đình Yên (1998) Hiện trạng nguồn lợi thủy sản nước ngọt và đề
xuất chương trình bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi này; Trần Thanh Xuân
(1998) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long;
Nguyễn Thị Thu Hè [13] công bố Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá tự
nhiên ở sông suối Tây Nguyên và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong
vùng…. Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt
Nam có nghiên cứu của các tác giả như: Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự
(1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993,1998),
Nguyễn Hữu Dực (1995) [35].
Những năm gần đây đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học
nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều loài mới đã được phát hiện và mô tả: W.J.Rainboth
[59] với công trình nghiên cứu Các hệ thống phân loại học và địa lý động vật học của
một chi mới của ngành lớn (Pisces, Cyprinidae) từ các sông của Đông Nam Á” đã mô
tả 1 giống mới tại Quảng Trị; J. Freyhof & D.V. Serov [44] với Xem xét các chi


1027

1200
1000
800

544

số loài và phân loài

600
400
200
0
1996

2005

Biểu đồ 1.1. Sự đa dạng cá nước ngọt Việt Nam qua hai thời kỳ
 Nguồn gốc khu hệ và đặc trưng về phân bố địa lý khu hệ:
Khu hệ cá nước ngọt Việt Nam bao gồm khu vực Cao Lạng với 104 loài
(chiếm 10,13%), khu vực Việt Bắc với 226 loài (chiếm 22,01%), khu vực Tây Bắc
10


với 192 loài (chiếm 18,7%), khu vực Bắc Trung Bộ 372 loài (chiếm 36,22%), khu
vực Đồng bằng Bắc Bộ 316 loài (chiếm 30,77%), khu v ự c Tây Nguyên 189 loài
(chiếm 18,4%), khu v ự c Đông Nam Bộ với 277 loài (chiếm 26,97%), khu vực
ĐBSCL với 388 loài (chiếm 37,78%), khu v ự c Nam Trung Bộ với 251 loài (chiếm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status