Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và biện pháp phòng chống chúng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (luận văn tiến sĩ) - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

DƯƠNG TIẾN VIỆN

NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA NHỆN GIÉ STENEOTARSONEMUS SPINKI SMILEY
HẠI LÚA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG CHÚNG
Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số

: 62.62.10.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN VĂN ðĨNH

HÀ NỘI – 2012


i

LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực
và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận án ñã ñược
cảm ơn và các tài liệu trích dẫn trong luận án ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2012

MỤC LỤC
Lời cam ñoan

i

Lời cám ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

vi

Danh mục các bảng

vii

Danh mục các hình

x

MỞ ðẦU

1

1


5

1.1

Cơ sở khoa học của ñề tài

5

1.2

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

7

1.2.1 Những nghiên cứu về vị trí phân loại, tình hình phân bố, mức
ñộ gây hại của nhện gié hại lúa Steneotarsonemus spinki Smiley
1.2.2 ðặc

ñiểm

hình

thái



sinh

học

1.3.1 Những nghiên cứu về nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley

24
24


iv

1.3.2 Một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley

25

1.3.3 Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại của S. spinki

26

1.3.4 Thiên ñịch của nhện hại cây trồng nói chung, nhện gié nói riêng

26

Chương 2

THỜI GIAN, ðỊA ðIỂM, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1

Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu



2.4

Phương pháp nghiên cứu

30

2.4.1 Phương pháp xác ñịnh ñặc ñiểm hình thái, sinh học của nhện
gié Steneotarsonemus spinki Smiley

30

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ñặc ñiểm sinh thái học của nhện gié

35

2.4.3 Nghiên cứu biện pháp phòng chống nhện gié hại lúa

46

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

53

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1

55

ðặc ñiểm hình thái, sinh học của nhện gié Steneotarsonemus

3.2.3 Mức ñộ gây hại của nhện gié trên lúa cấy ở các chân ñất khác
nhau tại Cẩm Sơn – Cẩm Giàng – Hải Dương

92

3.2.4 Diễn biến mật ñộ nhện gié trên lúa ñược bón các mức ñạm
khác nhau

94

3.2.5 Mối liên hệ giữa ñặc ñiểm giải phẫu, hàm lượng si lic của các
giống lúa với sự xâm nhiễm gây hại của nhện gié

96

3.2.6 Ký chủ của nhện gié và sự phát tán của nhện gié trên ñồng ruộng 102
3.2.7 Thiên ñịch của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley
3.3

Biện pháp phòng chống nhện gié hại lúa

3.3.1 Xác ñịnh ngưỡng gây hại của nhện gié hại lúa

109
115
115

3.3.2 ðánh giá hiệu lực của thuốc trừ nhện và thời ñiểm phun thuốc
trừ nhện gié hiệu quả




1

MỞ ðẦU
1

Tính cấp thiết của ñề tài
Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới, với gần 70%

dân số thế giới dùng gạo trong bữa ăn hàng ngày. Ở Việt Nam, ñã từ lâu cây
lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa ñáng kể trong nền kinh tế
và xã hội của nước ta. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 sản xuất lúa ước ñạt
với diện tích khoảng 7,5 triệu ha và sản lượng gần 40 triệu tấn (chiếm khoảng
86,9% diện tích và 89,6% sản lượng trong nhóm cây lương thực có hạt) [19].
Nước ta có ñiều kiện khí hậu nhiệt ñới ẩm, thuận lợi cho cây trồng sinh
trưởng phát triển, ñồng thời ñây cũng là ñiều kiện tốt ñể sâu, bệnh (dịch hại)
phát triển. Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley (Tarsonemidae: Acarina)
hại lúa là một loài ít phổ biến ñã xuất hiện và gây hại ñược ghi nhận trong hơn
20 năm qua, ñặc biệt là trong một vài năm trở lại ñây nhện gié nổi lên như một
ñối tượng dịch hại nghiêm trọng. Sự gây hại của loài này có chiều hướng gia
tăng ở vùng Hà Nội, các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn ðĩnh
và Trần Thị Thu Phương, 2006) [10], (Nguyễn Văn ðĩnh và Vương Tiến Hùng,
2007) [12]. Tại một số diện tích hẹp ở Hải Dương, trên lúa mùa sớm nhện gié
ñã làm thiệt hại năng suất tới gần 60% (ðỗ Thị ðào và cs, 2008) [5].
Theo số liệu thống kê của phòng BVTV (Cục BVTV), năm 2010 nhện
gié ñã xuất hiện gây hại ở cả 3 vùng trồng lúa của nước ta (các tỉnh phía Bắc,
Bắc Trung bộ và các tỉnh phía Nam) với tổng diện tích nhiễm nhện gié là
64848 ha, nhiễm nặng 2113 ha và diện tích phòng trừ là 11360 ha.
Với kích thước cơ thể rất nhỏ bé, nhện gié lại có phương thức sống

2.2

Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài
Bổ xung dẫn liệu về hiệu lực của một số loại thuốc hóa học ñối với

nhện gié, thời ñiểm phòng trừ nhện gié hiệu quả. Những dẫn liệu của ñề tài
góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (IPM)
loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa ở một số tỉnh miền
Bắc Việt Nam.
3

Mục ñích và yêu cầu của ñề tài

3.1

Mục ñích của ñề tài
Nghiên cứu xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của loài nhện gié

Steneotarsonemus spinki Smiley và các biện pháp phòng chống chúng. Trên


3

cơ sở ñó, xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (IPM) nhện gié hại lúa áp dụng
cho một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
3.2

Yêu cầu của ñề tài
- Xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, sinh thái học của nhện gié hại lúa


Bổ sung một số dẫn liệu về ñặc ñiểm sinh vật học, sinh thái học của

loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa và thành phần ký chủ
của nhện gié ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
Xác ñịnh 4 loài thiên ñịch của nhện gié hại lúa, cung cấp một số dẫn


4

liệu về khả năng sử dụng loài nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius sp. phòng chống
loài nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley ở Việt Nam.
Lần ñầu tiên xây dựng quy trình quản lý tổng hợp loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa, triển khai thực hiện ñạt hiệu quả
kinh tế tại tỉnh Hải Dương và Hà Nam.


5

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1

Cơ sở khoa học của ñề tài
Lúa là cây lương thực chính ở nước ta, chiếm khoảng 80% diện tích và

72% sản lượng trong nhóm cây lương thực (lúa, ngô, khoai lang, sắn) [19].
Trong thời gian gần ñây, tổng sản lượng lương thực tăng nhanh, nhất là sản
lượng lúa, ñó là kết quả của việc áp dụng nhiều biện pháp canh tác mới như
gieo trồng các giống lúa mới, cấy với mật ñộ dầy, bón nhiều phân hóa học và
sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, tăng vụ, xen vụ,.. ñã ñược áp dụng rộng rãi.

nhện gié gây hại trong 2 năm 2007, 2008 là trên 5000 ha. Có nhiều tỉnh như
Thái Nguyên, Phú Thọ diện tích lúa mùa bị hại nặng lên tới trên 500 ha, toàn
thân cây lúa chuyến sang màu xám nâu hơi ñen, mất màu vàng ñặc trưng khi
lúa chín, năng suất giảm ñáng kể. Các tỉnh miền núi cao như ðiện Biên, Sơn La
và ở ñồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Ninh Bình, Bắc Ninh,… cũng ñã
ghi nhận sự gây hại của nhện gié [20]. Vụ mùa năm 2009, nhện gié gây hại và
phân bố rộng hơn năm trước, hại nặng cục bộ ở một số tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Giang, Hoà Bình, ðiện Biên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên… Diện tích
nhiễm hơn 2.000 ha, nhiễm nặng 115 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2009)
[21]. Năm 2010, nhện gié xuất hiện ở cả 2 vụ nhưng hại chủ yếu ở vụ mùa,
diện phân bố rộng hơn, mức ñộ gây hại nặng hơn vụ mùa năm trước. Diện
tích nhiễm gần 10.000 ha, nhiễm nặng 1.000 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc,
2010) [22].
Trong vòng 5 năm trở lại ñây có sự gia tăng rõ rệt mức ñộ gây hại của
nhện gié ở ðồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn
ðĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007) [12]; (ðỗ Thị ðào và cs, 2008) [5].
Một số tỉnh ở miền Bắc như Hà Nam, Hải Dương, Ninh Bình, ðiện


7

Biên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Yên Bái, Lai Châu, năm 2011 từ
ñầu tháng 9 ñến ñầu tháng 10, tỷ lệ hại của nhện gié phổ biến từ 3-7%, cao từ
20-40% và cục bộ tới 60% số dảnh bị hại. Tổng diện tích nhiễm nhện gié là
1.871 ha, nhiễm nặng 270 ha, diện tích phòng trừ phòng trừ 62 ha (Trung tâm
BVTV phía Bắc, 2011) [23].
Như vậy, nghiên cứu ñể phòng chống thành công loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa cần phải tiến hành từ nghiên cứu cơ
bản như xác ñịnh ñặc ñiểm sinh học, quy luật phát sinh gây hại, mức ñộ gây
hại và khả năng phát tán, kí chủ của nhện gié cũng như ảnh hưởng của giống

S. spinki như là một dịch hại của cây lúa là từ miền Nam Trung Quốc năm 1968
(Ou et al., 1977) [78]. Tiếp theo là báo cáo ghi nhận nhện gié ở Ấn ðộ vào tháng
11 năm 1975 (Rao et al., 1977) [86], ở ðài Loan, Kenya và Philippines năm
1977 (Lo et al., 1977) [67], (Rao et al., 1977) [86], (Sogawa, 1977) [93],
(Smiley et al., 1993) [92] và tại Nhật Bản, nhện gié ñã xâm nhiễm vào cây mạ
trồng trong nhà kính năm 1984 (Shikata et al., 1984) [90].
Năm 1999, nhện gié S.spinki ñã ñược tìm thấy tại Hàn Quốc, Thái Lan
và Sri Lanka (Cheng et al., 1999) [48], (Cho et al., 1999) [49], (Cabrera et al.,
2002b) [42].
Các báo cáo ñầu tiên về nhện gié S. spinki như là một dịch hại lúa của
châu Mỹ là ở Cu Ba vào năm 1997 (Ramos et al., 1998) [80]. Sau ñó nhện gié
S. spinki nhanh chóng lan rộng khắp vùng Caribe và Trung Mỹ, tại Cộng hòa
Dominica vào năm 1999 (Ramos et al., 2001) [82], Panama (Almaguel et al.,
2005) [34], Haiti (Herrera, 2005) [58] và Costa Rica vào năm 2004 (Sanabria
et al., 2005) [88].
Nhện gié S. spinki ñược ngăn chặn và sau ñó loại trừ từ nhà kính vào
năm 2004 tại Ohio, Hoa Kỳ (R. Ochoa,). Năm 2005, nhện gié S. spinki ñã
ñược ghi nhận ở Colombia (Instituto Colombiano Agropecuario, 2005) [62],
Guatemala, Honduras (Castro et al., 2006) [45], Nicaragua và Venezuela
(Aguilar et al., 2008) [28]. Năm 2006, nhện gié S. spinki ñã ñược báo cáo từ
thị trấn Palizada, bang Campeche, Mexico (Arriaga, 2007) [35].
Về mức ñộ gây hại, nhện gié là loài dịch hại nguy hiểm ở các vùng


9

trồng lúa ở châu Á như Trung Quốc, Ấn ðộ, ðài Loan, Hàn Quốc, Philipin và
Thái Lan từ những năm 1930 (Lo et al., 1979) [69], (Xu et al., 2001) [95].
Những năm 1970, Trung Quốc và ðài Loan ñã công bố thiệt hại do nhện gié
gây ra làm giảm năng suất trung bình 5-20%, một số nơi bị hại nặng lên ñến

tháng 8), Louisiana (20 tháng 8) và tại Arkansas (ngày 07 tháng 9) và New
York (14 tháng 9). Nhện gié ñược coi là một dịch hại lúa nghiêm trọng và có
thể gây ra thiệt hại mùa màng ñáng kể. Thiệt hại năng suất có thể dao ñộng
30-90% (NAPPO, 2007) [76].
Năm 1997, vùng sản xuất lúa ở Cu Ba bị thiệt hại nặng do nhện gié gây
nên, mật ñộ lên ñến 200 con/m2, làm thiệt hại 15 - 20% năng suất do cả nhện
và nấm gây ra. Các loài nấm gây hại bao gồm: Pyricularia, Rhychosporium,
Rhizoctonia tổng hợp gây ra. Nhện gié còn là trung gian truyền các bệnh nấm
và vi khuẩn cho cây lúa như Fusarium moniliform, Currvularia lunata,
Alternaria padwickii, Pseudomonas glumae. Nhện gié ñược coi là loài mới
xuất hiện trở lại ở Mỹ vào năm 2007 (Hummel et al., 2009 dẫn) [61].
1.2.2 ðặc ñiểm hình thái và sinh học của nhện gié Steneotarsonemus
spinki Smiley
Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học của loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki cho thấy, nhện gồm các pha phát dục: trứng, nhện
non tuổi 1, nhện non tuổi 2 và nhện trưởng thành (Lindquist, 1986) [66],
(Ramos et al., 2000) [81], (Xu et al., 2001) [95].
Trứng có màu trắng trong, ñược ñẻ rải rác từng quả, chúng thường dính
lại với nhau. Nhện non di ñộng và nhện non không di ñộng có màu trắng ñục
với 3 ñôi chân.
Theo Dossmann (2005) [51] nhện gié có 4 pha phát dục: trứng, nhện
non di ñộng, nhện non không di ñộng và trưởng thành. Trứng có màu trắng
trong, hình ôvan dài, kích thước của trứng 110 × 74µm. Nhện non có 3 ñôi
chân, cơ thể màu trắng sáng, kích thước (147 - 186) × (73 - 110)µm. Nhện


11

trưởng thành và nhện non không di ñộng có kích thước tương ñối bằng nhau
250 × 110µm.

khoảng 20 - 29oC (Almaguel et al., 2003) [32]. Cabrera (1998) [41] cho biết
vòng ñời nhện gié thay ñổi theo nhiệt ñộ. Ở 15oC, chúng chết gần như hoàn
toàn, ở 16oC chúng giảm mọi hoạt ñộng, ngừng phát triển và sinh sản, tỷ lệ chết
cao. Thời gian hoàn thành vòng ñời là 11 ngày ở 20oC, 8 ngày ở 24 - 28oC và 3 4 ngày ở 28 - 29oC.
Trong ñiều kiện phòng thí nghiệm, vòng ñời của nhện gié tại các nhiệt
ñộ 20, 24, và 30ºC tương ứng là 11; 7 và 3 ngày (Navia et al., 2006) [75].
Nhiệt ñộ tăng kết quả thời gian 1 thế hệ ngắn hơn: 11,3 ngày ở 20oC,
7,8 ngày ở 23,9oC, và 4,9 ngày ở 33,9oC và S. spinki có thể sinh sản 48-55
thế hệ /năm trong ñiều kiện khí hậu lý tưởng (Castro et al, 2006) [45]. Như
vậy, một quần thể lớn của S. spinki có thể phát triển rất nhanh chóng trong
một vụ lúa trong một mùa.
Những nghiên cứu tiến hành tại Cu Ba (Santos et al., 1998) [89] cho
thấy thời gian từ trứng ñến trưởng thành ngắn nhất là 3 ngày ở 30oC và 20
ngày ở 20oC. Theo Chen et al., (1979) [46] nhện gié S. spinki hoàn thành giai
ñoạn phát triển từ trứng ñến trưởng thành là 2,75 và 17,4 ngày ở các nhiệt ñộ
tương ứng 25oC, 28oC và 30oC. Tại 25-28oC, trưởng thành cái và trưởng thành
ñực sống tương ứng 15±1,0 ngày và 7,6±0,4 ngày. Nhiệt ñộ 30oC, trưởng
thành cái và ñực sống chỉ ñược 5 ngày. Thời gian trước ñẻ trứng từ 2-5 ngày,
và thời gian ñẻ trứng khác nhau từ 2 ngày ở 30oC và 7 ngày ở 28oC tới 13
ngày ở 25oC. Trưởng thành cái có khả năng ñẻ trứng cao, số trứng ñẻ của một
con cái lên tới 78 quả, trung bình 30,8±3,4 trứng.
Ở Trung Quốc, thời gian phát triển của một thế hệ phụ thuộc nhiệt ñộ.
Ở các ngưỡng nhiệt ñộ 30oC, 28oC và 25oC tương ứng là 8,5 ngày, 9,9 ngày
và 13,6 ngày (Xu et al., 2001) [95].


13

Thời gian sống của trưởng thành, ở Cu Ba tại ngưỡng nhiệt ñộ 25oC là
15 ± 1,09 ngày và 28oC là 7,6 ± 0,4 ngày. Ở Trung Quốc, thời gian sống của

này ñã tăng lên trong các giai ñoạn làm ñòng và trỗ bông (Cabrera et al.,
2003) [43].
Theo nghiên cứu của Fang (1980) [52] cho thấy, tỷ lệ cao nhất của nhện
gié phù hợp ñối với nhiệt ñộ cao, lượng mưa giảm, liều lượng cao của phân bón
ni tơ và quản lý yếu kém của phân bón nói chung. ðối với các nước châu Á,
nhện phát triển ñạt mức ñộ tối ña từ tháng tám ñến tháng mười, trùng hợp với
ñiều kiện có nhiệt ñộ cao và ñộ ẩm thấp.
Trong thời vụ cây trồng, nhiệt ñộ thấp hơn hoặc cao hơn 24oC, lượng
mưa lớn hơn 60 mm trong 10 ngày và kẻ thù tự nhiên là những yếu tố liên
quan ñến sự phát triển của nhện gié (Almaguel et al., 2002) [31].
Nghiên cứu biến ñộng quần thể của nhện gié S. spinki trong khu vực
phía Nam của ðài Nam và Bình ðông ở ðài Loan và tài liệu một ổ dịch xảy
ra trong thời gian 1977-1978, Tseng (1984) [94] cho thấy, trong vụ ñầu tiên
ñược trồng từ tháng Giêng ñến tháng Năm, quần thể của nhện gié ñạt ñỉnh
trong tháng 5 với mật ñộ quần thể từ 10-100 nhện mỗi dảnh. Trong khi ở vụ
thứ hai ñã ñược gieo trồng từ giữa tháng Năm - tháng Mười, mật ñộ quẩn thể
nhện gié ñạt ñỉnh ñiểm giữa tháng Tám và tháng Mười từ 600-1100 nhện mỗi
dảnh, sau ñó quần thể nhện bị giảm. Sự tăng và giảm của quần thể này có thể
liên quan ñến nhu cầu nhiệt ñộ ấm áp và ñộ ẩm cao của nhện gié.
Tại Trung Quốc, Lo et al., (1977) [67] ñã ghi nhận rằng nhện gié ñược
tìm thấy trên cây lúa giai ñoạn trỗ, chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn và
mật ñộ của nhện gié S. spinki khác nhau giữa các giai ñoạn sinh trưởng của
cây lúa.
Sau ba năm nghiên cứu, Jiang et al., (1994) [64] thấy rằng trong giai
ñoạn ñầu phát triển của cây lúa, nhện gié ñã có mặt trên lá thấp hơn và mật ñộ
của nhện dần dần tăng lên. Mật ñộ vụ lúa muộn là cao hơn so với vụ lúa sớm.


15



hành tại Cu Ba, Ramos et al., (2001) [82] ñánh giá biến ñộng mật ñộ nhện gié
và cho rằng mật ñộ nhện gié là thấp trong giai ñoạn ñẻ nhánh, mật ñộ tăng
nhanh ở giai ñoạn trỗ. Mật ñộ ñạt tối ña vào giai ñoạn chín sữa và sau ñó giảm
xuống ở giai ñoạn chín sáp, chín hoàn toàn.
Nhện gié ưa thích phá hại hạt ở giai ñoạn lúa chín sữa hơn giai ñoạn
chín sáp và chín hoàn toàn. Nhện ñược phát hiện chủ yếu ở trong bẹ lá nơi mà
ta dễ dàng bắt gặp quần thể nhện cao ở pha nhện non và trưởng thành. Nhện
cũng dễ thấy ở phần trong hạt lúa. ðôi khi chúng rất khó phát hiện trên cánh
ñồng vì cơ thể trong suốt không màu, kích thước cơ thể nhỏ bé và vị trí sống
ở trong bẹ lá (Fernando, 2007) [53].
Những nghiên cứu ở Cộng hoà ðôminica cho thấy, nhện gié có khả năng
qua ñông ở gốc rạ khi gặt lúa còn sót lại, những gốc rạ này vẫn còn dinh dưỡng
ñể phát triển lên thành cây lúa mới (lúa chét), tuy nhiên nhện gié tồn tại trong
ñó và trong những mẩu thân gẫy rơi rụng trên ñồng ruộng xâm nhập vào lúa
chét, tồn tại trên cây lúa này cho ñến khi nó gặp ký chủ khác.
Trong ñiều kiện nhiệt ñộ phòng, nhện gié có khả năng chịu ngập trong
ñiều kiện không có thức ăn, nhện trưởng thành và nhện non sống sót trong
khoảng thời gian tương ứng là 23 và 25 ngày. Trưởng thành cái chịu ñựng
ngập nước hơn so với trưởng thành ñực và nhện non chịu ñựng ngập nước
hơn so với trưởng thành.
Nhện gié có thể tồn tại khi tiếp xúc với nhiệt ñộ cao ở 37oC, 39oC, và
41oC. Ở nhiệt ñộ 37oC, sau 36 giờ xử lý nhện không bị chết, sau 48 giờ, tỷ lệ
chết là 21,1% và sau 96 giờ thì tỉ lệ chết là 97,7%.
Ở 39oC, tỉ lệ chết sau 24 giờ là 15,57%, tỷ lệ chết tăng sau 36 giờ và
sau 72 giờ, tỷ lệ chết 100%.
Ở 41oC, sau 36 giờ tỷ lệ chết là 50%, sau 60 giờ tỷ lệ chết là 100%.
Nhện trưởng thành cái có sự chịu ñựng ñối với nhiệt ñộ cao hơn so với




18

2009 dẫn) [61] gồm: Alopecurus aequalis Sobol, Bamboo, Zizania
caduciflora, Coix lacryma-jobi L., Cynodon dactylon (L.) Pers., Digitaria
sanguinalis (L.) Scop., Echinochloa colona (L.) Link (cỏ lồng vực cạn),
Echinochloa crusgalli (L.) Beauv. (cỏ lồng vực nước), Eleusine indica (L.)
Gaertn., Ischaemum rugosum Sablisb, Leptochloa filiformis L (Pers.), Oryza
latifolia (lúa dại, lúa ma), Panicum repens L., Phragmites australis (Cav.) Trin.
ex Steud.

Họ

Polygonaceae

có 1 loài Polygonum hydropiper L., họ

Caryophyllaceae có 1 loài Stellaria spp., họ Cyperaceae có 2 loài là Cyperus iria
L., và Schoenoplectus articulatus (L.) Pallla.
1.2.4 Một số nghiên cứu về thành phần thiên ñịch bắt mồi nhện gié
Các nghiên cứu về thành phần thiên ñịch bắt mồi nhện gié cho thấy ở các
vùng nhiệt ñới có ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhện bắt mồi thuộc họ
Phytoseiidae, ñây sẽ là biện pháp sinh học hiệu quả trong phòng chống nhện gié
nếu tỷ lệ nhện bắt mồi/mật ñộ nhện hại thích hợp. Các loài nhện trong họ
Phytoseiidae, Ascidae, bộ ve bét Acarina có khả năng khống chế ñược nhện gié
S. spinki bao gồm cả Amblyseius taiwanicus Ehara (Acari: Phytoseiidae) và
Lasioseius parberlesei Bhattacharyya (Acari: Ascidae) (Lo et al., 1979) [68].
Các loài khác ăn thịt nhện ñã ñược tìm thấy gắn với nhện gié bao gồm
Cheiroseius serratus (Halbert) và Cheiroseius napalensis (Evans & Hyatt)
(Acari: Ascidae) (Tseng, 1984) [94].


asternalis,

Asca

pineta,

Hypoaspis

sp.,

Proctolaelaps bickleyi, Galendrminus alveolaris, Galendromus longipilus,
Galendromus sp., Neoseiulus parabensis, N, baraki, N. paspalivorus,
P.roprioseiopsis asetus, Typholodromus sp.
1.2.5 Phòng trừ nhện gié
Phòng trừ nhện gié ở các vùng trồng lúa hiện nay gặp khá nhiều khó
khăn vì cơ thể nhện nhỏ bé, không màu lại sống ở trong bẹ lá hay hạt lúa.
Biện pháp canh tác:
Lo et al., (1980) [70] ñã cho thấy rằng mật ñộ cao của S. spinki có liên
quan ñến mật ñộ cấy cao và ñộ ẩm tương ñối cao.
Biện pháp canh tác là một tập hợp các quy trình canh tác ñã ñược thiết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status