SỞ GD&ĐT BẮC GIANG
KỲ THI HỌC SINH GIỎI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN
TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG
KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
LẦN THỨ VII
ĐỀ ĐỀ XUẤT
Đề thi gồm 01 trang
Môn: Ngữ văn lớp 11
( Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề )
Câu 1 (8 điểm)
Xung quanh vấn đề tự do, Ông Giản Tư Trung - Viện trưởng Viện nghiên cứu
và phát triển giáo dục IRED đã từng khẳng định:
“Tự do không có văn hoá là thứ tự do hoang dã”.
(Báo Lao Động, Thứ 5 ngày 17/07/2013)
Là một người trẻ tuổi, anh (chị) có suy nghĩ gì về câu nói trên?
Câu 2 (12 điểm)
Trong cuốn Không tưởng và thức tỉnh, Claudio Magris từng viết:
“Văn học giống như một tờ báo, và nhiều lúc, giống như một tờ báo lá cải về
cuộc sống, với những tính chất thường tình nhỏ nhặt và da diết của nó”.
Qua một số sáng tác của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, anh (chị)
hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
---------------HÕt---------------
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ và tên thí sinh.............................................................................................................
2.1. Mở bài
- Dẫn dắt vấn đề
1
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
2.2. Thân bài
2.2.1. Giải thích
-“Tự do”: Thoát khỏi/không bị ràng buộc, giải phóng cá nhân và xã hội 2
ra khỏi những khuôn khổ nhất định. Tiến trình phát triển của loài người
là đi từ tự do hoang dã tới tự do trong một xã hội văn minh.
-“Văn hoá”:
+ nghĩa hẹp: bản sắc,phong tục tập quán của một vùng, miền.
+ nghĩa rộng: hiểu biết về trật tự xã hội, ứng xử văn minh, làm cho
trí tuệ, tâm hồn con người trở nên đẹp hơn, xa rời cái tự nhiên hỗn
mang.
Câu nói trên dùng khái niệm theo nghĩa này, nhưng ở thể phủ định, để
nói đến vấn đề tự do nhưng không hiểu biết, không văn minh, không
làm cho mỗi cá nhân và xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- “Tự do hoang dã”: tự do thời nguyên thuỷ, hay là sự tự do của cái hỗn
mang trong nhận thức và tri thức.
→ Tóm lại, câu nói của ông Giản Tư Trung nhấn mạnh cách hiểu lệch
lạc về tự do khi tách nó xa khỏi những trật tự và ý thức văn hoá.
2.2.2 Bình luận
3
- Nhận định trên là đúng, bởi tự do cần hiểu và phân biệt theo hai khía
cạnh: Tự do có văn hoá và tự do không có văn hoá (hoang dã), trong đó:
+ Tự do có văn hoá: Niềm mơ ước, đích phấn đấu của loài người, là
tiêu chuẩn đề đánh giá sự tiến bộ của xã hội (loài người tạo ra máy móc
để giải phóng sức lao động, loài người đấu tranh dành tự do cho dân tộc,
cho mỗi cá nhân). Như thế, tự do có văn hoá là một giá trị lớn.
+ Tự do hoang dã: rũ bỏ mọi ràng buộc và giới hạn, trật tự. Nếu
làm đúng và làm tốt vị trí của mình.
1
2.3. Kết luận
Rút ra bài học, liên hệ bản thân.
Câu
2
1. Yêu cầu chung
- Nội dung: bàn về những đặc điểm cơ bản của lí luận văn học: đặc
(12
trưng văn học: phản ánh về cuộc sống con người trong tính đời
điểm)
thường sinh động, đi sâu vào những ngóc ngách của số phận cá
nhân; do đó văn học cần chọn lựa chi tiết nghệ thuật tiêu biểu và tinh
tế để tái hiện và tái tạo hình tượng đời sống trong tác phẩm.
- Thao tác: giải thích, phân tích, bình luận, tổng hợp.
2. Gợi ý dàn bài
2.1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề, trích dẫn quan điểm của C.Magris.
1
2.2. Thân bài
2.2.1. Giải thích vấn đề
- Văn học giống như một tờ báo: văn học phản ánh cuộc sống.
3
- Văn học giống như một tờ báo lá cải về cuộc sống với những tính
chất thường tình nhỏ nhặt và da diết của nó:
+ “Báo lá cải” là báo đưa tin vặt, những tin không chính thống song
lại có ý nghĩa mở rộng và nhìn vấn đề từ những chiều kích khác,
nhiều khi ở góc độ đời thường cá nhân.
+ Văn học là một tờ báo lá cải về cuộc sống với những tính chất nhỏ
nhặt thường tình da diết: văn học phán ánh cuộc sống con người
3
- Trên đây chỉ là những gợi ý cơ bản có tính định hướng, khi chấm bài giáo viên cần
vận dụng hướng dẫn chấm một cách linh hoạt.
- Khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo riêng của học sinh.
4
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT THI HSG ĐBBB VÀ DUYÊN HẢI
LẦN THỨ X, NĂM 2014
MÔN THI: NGỮ VĂN - LỚP: 11
(Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề)
Đề thi gồm 01 trang
Câu 1: (8,0 điểm)
Lấy chữ “Hỏi” làm luận đề, anh (chị ) hãy viết một bài văn nghị luận bàn về vai
trò của việc hỏi trong cuộc sống.
Câu 2. (12 điểm)
Có ý kiến cho rằng: Khi thơ ca viết về thiên nhiên, không chỉ có thiên nhiên mà
luôn có một người đang lặng lẽ ngắm nhìn, rung động, suy tư và gửi gắm bao niềm
tâm sự.
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua việc phân tích bức tranh thiên nhiên
trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến và bài thơ “Chiều tối” của Hồ
Chí Minh.
-----------------------Hết----------------------
-
Hỏi là khái niệm chỉ hoạt động của con người muốn tìm kiếm câu trả lời cho điều
mình đang quan tâm.
- Hỏi còn thể hiện nhu cầu nhận thức, muốn tìm hiểu, khám phá, nâng cao tầm hiểu
biết.
- Hỏi còn thể hiện sự quan tâm đến người khác hay nhằm thỏa mãn tính hiếu kì của
con người.
Hỏi là một hoạt động không thể thiếu của con người trong giao tiếp cộng đồng, là
nhu cầu tất yếu, là phương thức tồn tại, phát triển của xã hội loài người.
2. Bàn luận và mở rộng (4,0 đ)
- Cuộc sống muôn màu, đa dạng và phức tạp còn sự hiểu biết của con người là hữu
hạn. Vì thế có rất nhiều điều con người cần hỏỉ và muốn hỏi.
2
- Hỏi đóng vai trò quan trọng:
+ Hỏi là cách thức để khám phá thế giới tự nhiên và đời sống tâm hồn con người
+ Là con đường rèn luyện trí tuệ, phát triển tư duy.
+Bộc lộ hành vi đạo đức, thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ giữa con người với con người.
+ Là cách thức hữu hiệu góp phần cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội.
- Trong xã hội có người ham hỏi, có người ngại hỏi.
+ Người ham hỏi là người có chí tiến thủ, có ý thức tự nâng cao năng lực bản thân...từ
đó sẽ giúp hoàn thiện bản thân, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Người ngại hỏi là người mang tư tưởng an phận, không có khát vọng, lý tưởng sống,
thờ ơ với thế giới xung quanh, dần dần sẽ tụt hậu, không được mọi người quý trọng....
- Tuy nhiên hỏi phải xuất phát từ nhu cầu phát triển bản thân, chứ không phải hỏi
xong để đấy, hay hỏi chỉ để thỏa mãn tính hiếu kì, tò mò.
xúc của người viết không chỉ bằng những lời lẽ đơn thuần mà chủ yếu bằng những đối
tượng cảm tính (như hình ảnh tự nhiên, đồ vật, con người...)
Theo Lưu Hi Tái: tinh thần của núi không bút nào tả được, phải lấy sương khói mà
tả, tinh thần mùa xuân không tả được, lấy cỏ cây mà tả.
- Vì thế, trong thơ trữ tình, ta không chỉ bắt gặp những cảm xúc, tâm trạng trực tiếp
mà có khi chỉ thấy những hình ảnh, chi tiết đời sống. Khi đó nội dung trữ tình không nằm
ở bề ngoài sự việc, ngoại cảnh được miêu tả mà ẩn đằng sau những diều đó.
- Cảnh vật, sự kiện trong thơ trữ tình không đơn giản là cảnh vật, sự kiện khách quan
mà đã là “tâm cảnh, ý cảnh, ý tượng, tâm sự, ý sự”. Vì thế “không chỉ có thiên nhiên mà
luôn có một người đang lặng lẽ ngắm nhìn, rung động, suy tư và gởi gắm bao niềm tâm
sự.”
2. Phân tích hai tác phẩm để làm rõ ý kiến.(8,0đ)
2.1 Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Khi Nguyễn Khuyến là một ông hưu quan về
ở ẩn.
- Phân tích bài thơ làm nổi bật những ý cơ bản sau:
+ Nhờ việc lựa chọn những hình ảnh bình di, quen thuộc, cách gieo vần, từ láy, bút
pháp chấm phá…đã làm nổi bật vẻ đẹp của mùa thu thanh sơ, tĩnh lặng, trong trẻo, đượm
buồn.
+Hồn thơ rung động trước vẻ đẹp của cảnh thu nơi làng quê
+ Tâm trạng suy tư, trầm lắng, chất chứa nỗi niềm thầm kín về cảnh tình đất nước.
4
2.2 Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài “Chiều tối” của Nguyễn Ái QuốcHồ Chí Minh.
- Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Trên con đường chuyển lao.
- Phân tích bài thơ làm nổi bật những ý cơ bản sau:
+ Bác sử dụng bút pháp chấm phá, vẽ mây nẩy trăng, tạo những hình ảnh hàm
súc…vẽ nên bức tranh chiều tối nơi xứ người bát ngát, yên ả, thơ mộng, đượm buồn
KHU VỰC DUYÊN HẢI- ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
NĂM HỌC: 2013 – 2014
(ĐỀ GIỚI THIỆU)
MÔN NGỮ VĂN - LỚP 11
Thời gian làm bài: 180 phút
Câu 1 (8,0 điểm)
Chúng ta hãy cố gắng để chỉ chết một lần thôi
(Cantauzene)
Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Câu 2 (12,0 điểm)
Bàn về truyện ngắn, nhà văn Trung Quốc Trương Hiền Lương cho rằng: “Truyện ngắn
giống như nước hoa quả cô đặc”, còn nhà văn Mĩ Truman Capote khẳng định: “Đó là một tác
phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng lại không được dài”.
Anh chị hiểu như thế nào về những ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ thông qua một vài
truyện ngắn đã học trong chương trình Ngữ văn 11 Nâng cao.
--------------- Hết ---------------
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HƯỚNG DẪN CHẤM
HƯNG YÊN
2. Bình luận
- Sự cố gắng để “chỉ chết một lần thôi” là điều cần thiết đối với tất cả mọi người. Mỗi cá nhân
chỉ một lần được sống, vì vậy phải phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng để tạo nên cuộc đời có ý
nghĩa, một sự sống đích thực, khi nhắm mắt xuôi tay được thanh thản.
- Chết trong khi còn đang sống là điều đáng sợ và đáng tiếc, cuộc đời con người uổng phí, vô
nghĩa, bị xã hội chê cười, khinh bỉ.
- Lấy dẫn chứng về những con người đã “cố gắng để chỉ chết một lần thôi”, đã tạo nên một
cuộc sống có ý nghĩa, được xã hội tôn vinh, trân trọng, thậm chí họ đã bất tử sau cái chết
“một lần”.
- Câu nói trên là một ý kiến đúng đắn, tích cực, một lời khuyên bổ ích và là phương châm
sống cần ghi nhớ đối với những ai đã may mắn có mặt trong cõi đời này
- Liên hệ với thực tế xã hội hiện nay, phê phán những kẻ đã “chết trong khi còn đang sống”:
sống buông thả, trác táng, vô cảm, để phần con lấn át phần người, làm những điều vô đạo
đức, phi nhân tính…
3. Bài học
- Mỗi người cần biết trân trọng sự sống hiện tại của mình, cố gắng tạo dựng một cuộc đời có
ích, có ý nghĩa
- Muốn “chỉ chết một lần thôi” thì phải tích cực sống đẹp, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện,
lánh xa những điều xấu xa, bạc ác, mở rộng cửa trái tim để trao gửi yêu thương, có ý chí
vững vàng trước những chông gai, thử thách của dòng đời...
*Cách cho điểm:
- Điểm 8: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, luận giải sắc sảo, tri thức
phong phú.
- Điểm 6-7: Đáp ứng tương đối tốt yêu cầu về kỹ năng và kiến thức, mắc vài lỗi về chính tả,
diễn đạt
- Điểm 4-5: Đáp ứng được khoảng một nửa số ý cơ bản, ít mắc lỗi về chính tả, diễn đạt.
- Điểm 1-2-3: Chưa hiểu rõ vấn đề, bài viết sơ sài, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
+ Phản ánh được những “bề sâu” (Truman Capote): Bề sâu của đời sống, bề sâu tư
tưởng và tấm lòng của nhà văn (tư tưởng về hiện thực, tấm lòng nhân đạo); bề sâu về tài năng
của người nghệ sĩ ngôn từ (tài năng xây dựng tình huống truyện, tài năng kể chuyện, xây
dựng nhân vật, miêu tả tâm lí nhân vật, tạo dựng chi tiết nghệ thuật, sử dụng ngôn ngữ…).
Thể loại này đòi hỏi nhiều công phu sáng tạo của người cầm bút
- Cả hai ý kiến đều là những định nghĩa sâu sắc, độc đáo về truyện ngắn
2. Chứng minh:
- Thí sinh cần lấy được dẫn chứng và phân tích một cách thuyết phục để làm sáng tỏ những
điều đã giải thích ở trên.
3. Bàn luận mở rộng:
- Để mỗi truyện ngắn thực sự là một cốc “nước hoa quả cô đặc” tinh túy,“có bề sâu” cả về nội
dung và nghệ thuật, người cầm bút phải không ngừng mài giũa tài năng, khổ luyện trong lao
động chữ nghĩa, gắn bó sâu sắc với cuộc đời và con người.
- Độc giả để có thể tiếp nhận, khám phá được những bề sâu đó thì phải sống hết mình với tác
phẩm, tích cực đồng sáng tạo với nhà văn.
* Cách cho điểm:
- Điểm 12: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, tri thức phong phú, lập luận
sắc sảo.
- Điểm 10-11: Đáp ứng được hầu hết các ý cơ bản, mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả, diễn đạt.
- Điểm 8-9: Đáp ứng được phần lớn những ý cơ bản, mắc một số lỗi nhỏ về chính tả, diễn
đạt
- Điểm 6-7: Trình bày được khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức, mắc một số lỗi chính tả,
diễn đạt
- Điểm 4-5: Bài viết sơ sài, sa vào phân tích tác phẩm đơn thuần, mắc một số lỗi chính tả,
diễn đạt.
- Điểm 1-2-3: Chưa hiểu rõ vấn đề, kĩ năng làm văn đuối, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
* Lưu ý chung: Khi chấm bài, giám khảo vừa bám sát đáp án và biểu điểm, vừa linh hoạt,
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN 11 NĂM 2014
Câu 1 (8,0 điểm).
I.Yêu cầu chung:
1. Biết cách làm bài nghị luận xã hội, kết hợp linh hoạt các thao tác nghị luận cũng như các
phương thức biểu đạt hỗ trợ.
2.Hiểu đúng bản chất tâm sự của Osho: Vai trò quyết định của mỗi cá nhân trong việc tạo lập
một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn.
3.Biết huy động hợp lý, linh hoạt các loại kiến thức để giải quyết thuyết phục vấn đề cần nghị
luận. Trong đó, đặc biệt là những trải nghiệm sâu sắc, thấm thía và có ý nghĩa của bản thân
người viết.
II.Yêu cầu cụ thể:
Các ý cơ bản
1.Giải thích ngắn gọn.
- Cách hiểu khái niệm “thay đổi”? (“thay đổi” có nhiều chiều hướng: hoặc theo hướng
tích cực, tốt đẹp hơn hoặc theo hướng tiêu cực, xấu đi, tệ hơn,..Khái niệm “thay đổi”
trong lời tâm sự của Osho cần được hiểu là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, tốt
đẹp.)
-“Bạn không cần thiết phải thay đổi toàn bộ thế giới;” nghĩa là gì? Tại sao vậy?
-“ chỉ thay đổi chính bạn và bạn đã bắt đầu thay đổi toàn bộ thế giới, bởi vì bạn là một
phần của thế giới” nghĩa là thế nào?
=> Bản chất tâm sự của Osho: Sự thay đổi của mỗi cá nhân đóng vai trò quyết định đến
sự thay đổi của thế giới. Sâu sa, đó là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc tạo lập
một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn.
2.Làm sáng tỏ:
a. Tâm sự của Osho đã được thể hiện như thế nào trong thực tế đời sống? (Thí sinh cần
chọn và đưa được những d/c tiêu biểu về vai trò quyết định của sự thay đổi của mỗi cá
nhân đối với sự thay đổi tốt đẹp ngày càng tiến bộ, văn minh, công bằng hơn của thế
giới trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, hoạt động chính trị; hoạt động xã hội; hoạt
động nghệ thuật,....)
b. Trải nghiệm của bản thân người viết: cá nhân mình đã có những thay đổi nào có ý
dần có những thay đổi tốt đẹp hơn; nỗ lực không ngừng tự hoàn thiện mình bởi hiểu
rằng, đó là cách thiết thực và ý nghĩa nhất góp phần quyết định một thể giới hòa bình,
dân chủ, tiến bộ, văn minh.
Bài viết đảm bảo các yêu cầu về kỹ năng, trình bày mạch lạc, bố cục rõ ràng, diễn
đạt gãy gọn, trong sáng, có đoạn, câu hay
Câu 2 (12,0 điểm)
1,0
I.Yêu cầu chung:
1. Biết cách làm bài nghị luận văn học, kết hợp linh hoạt các thao tác nghị luận .
2.Hiểu đúng bản chất ý kiến của Lép Tôn-xtôi: Vai trò quan trọng của chi tiết nghệ thuật
trongviệc nhận biết tầm vóc sáng tạo của mỗi nhà văn.
3.Biết huy động hợp lý, linh hoạt các loại kiến thức LLVH về Nhà văn và quá trình sáng tạo;
Đặc trưng thể loại tự sự; Tiếp nhận văn học; Kinh nghiệm đọc-hiểu tác phẩm tự sự của bản thân
người viết để giải quyết thuyết phục vấn đề cần nghị luận.
II.Yêu cầu cụ thể:
Các ý cơ bản
1.Giải thích ngắn gọn:
-Chi tiết nghệ thuật là gì? (đơn vị nhỏ nhất tạo nên thế giới nghệ thuật của tác
phẩm; có nhiều loại chi tiết. Gắn với đặc trưng tác phẩm tự sự, có chi tiết về nhân
vật; có chi tiết về kết cấu tác phẩm; có chi tiết về cốt truyện,.... )
-“Chi tiết nhỏ”: quy mô nhỏ, có khi dễ bị người đọc bỏ qua, không hoặc ít chú ý
trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.
-“ làm nên tài năng lớn”: tài năng nghệ thuật của nhà văn không chỉ được thể hiện
hay khẳng định trong các yếu tố nghệ thuật ở cấp độ vĩ mô như xây dựng hình
tượng, lựa chọn kết cấu, cách kể,.. mà còn được bộc lộ ở cả những yếu tố nghệ
thuật ở cấp độ vi mô như chọn lọc chi tiết.
=> Cách nói nghịch lý đã khái quát cô đọng tầm quan trọng của chi tiết nghệ thuật
6,0
2,0
1,0
SỞ GD & ĐT QUẢNG TRỊ
KỲ THI CHỌN HSG KHU VỰC
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN
DUYÊN HẢI VÀ ĐBBB LẦN VII
Môn Ngữ văn lớp 11
ĐỀ THI ĐỀ NGHỊ
Câu 1 (8.0 điểm)
Trong một chuyến công tác nhằm thúc đẩy sản xuất tại bang Winconsin, Tổng
thống Barack Obama đã có phát biểu: Người lao động có thể làm ra nhiều tiền nhờ vào
việc sản xuất buôn bán lành nghề hơn là dựa vào một tấm bằng lịch sử mĩ thuật.
Và sau đó không lâu... ông đã viết thư tay gửi lời xin lỗi đến tập thể giáo viên mĩ
thuật bang Winconsin.
(theo New York Post, ngày 18 tháng 02 năm 2014)
Hành động đó của vị Tổng thống khiến em suy nghĩ gì?
Câu 2 (12.0 điểm)
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
ĐÁP ÁN
ĐỀ XUẤT ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI KHU VỰC DUYÊN HẢI - ĐBBB NĂM 2014
Môn Văn – Lớp 11
Câu 1
I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm bài nghị luận xã hội.
- Lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng.
- Văn viết trong sáng mạch lạc, có cảm xúc, sáng tạo, hạn chế tối đa các lỗi
về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
II. Yêu cầu về kiến thức:
Đây là dạng đề mở, có thể có những cách triển khai bài viết khác nhau, tuy
nhiên, về cơ bản, học sinh cần đáp ứng được một số ý chính sau:
1. Giải thích (2 điểm)
- Nói dối: lời nói, phát ngôn không đúng với sự thật, nhằm mục đích hướng người
tiếp nhận tin vào điều sai khác đó. Đây là hành vi được điều khiển bởi ý thức của
con người.
- Phía sau: sự khuất lấp, không hiển hiện trên bề mặt mà ẩn chứa ở bề sâu của lời
nói dối. Nó là động cơ, là nguyên nhân của lời nói dối. Nó bao gồm cả mặt tiêu
cực và tích cực.
→ Đặt ra yêu cầu về cách nhìn nhận nhiều chiều đối với một hiện tượng quen
thuộc trong đời sống.
2. Bình luận (5 điểm)
a) Phía sau lời nói dối là một cái tôi vị kỉ
Khi đó, nói dối là sự che đậy, giấu giếm thậm chí xuyên tạc sự thật khách quan
nhằm chuộc lợi cá nhân, lừa dối, gây tổn thương, tổn hại cho người khác. Khi sự
thật được phơi bày cũng là lúc lòng tin đổ vỡ cùng nhiều hậu quả khó lường (hành
động gian dối, làm xói mòn nhân phẩm, niềm tin giữa con người với nhau, gây bất
diễn đạt (>7 lỗi).
Câu 2
I. Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách làm bài nghị luận văn học
- Diễn đạt trong sáng, bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ.
II. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau. Về cơ bản, cần nêu
được các ý sau:
1. Giải thích ( 2 điểm)
- Tiếng thét khổ đau, niềm vui sướng hân hoan: sự phong phú và mãnh liệt của
cảm xúc.
- Đặt ra câu hỏi hay trả lời những câu hỏi: sự sâu sắc trong tư tưởng của tác phẩm
trong việc đưa ra và trả lời những câu hỏi trong cuộc sống.
=> Nhận định suy tư về sức sống và sự bất tử của tác phẩm văn học.
2. Bình luận ( 9 điểm)
a) Vì sao sức sống của tác phẩm văn học lại phụ thuộc vào sự mãnh liệt của cảm
xúc?
- Đối tượng phản ánh của văn học là toàn bộ thế giới. Nhưng trung tâm của nó,
mối quan tâm hàng đầu của nó vẫn là con người bởi “văn học là nhân học”
(M.Gorki). Khi quan tâm đến con người, văn học lại đặt trọng tâm vào thế giới
tâm hồn với đủ mọi cung bậc của nó.
→ Tác phẩm văn học là bách khoa toàn thư về thế giới tâm hồn con người. Chính
sự phong phú của cảm xúc giải thích vì sao tác phẩm văn học luôn là người bạn tri
âm với mỗi con người trong toàn bộ cuộc đời của mình. Nói cách khác, tác phẩm
văn học sống với buồn vui của con người và qua đó, văn học tìm thấy sức sống
của nó.
- Tác phẩm văn học trước tiên là sang tác, rung động của một cá nhân. Nhưng khi
những cảm xúc đó đạt đến giới hạn sâu xa nhất, đến cường độ mãnh liệt nhất
công phu, nỗ lực không ngừng trong hoạt động sáng tạo.
- Bạn đọc: tiếp nhận tác phẩm bằng toàn bộ thế giới tinh thần của mình trên tinh
thần đối thoại, đồng sáng tạo với nhà văn.
III. Biểu điểm:
- Điểm 11 - 12: đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài viết sâu sắc độc đáo,
diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm 8 - 10: Nội dung đầy đủ, có thể còn thiếu một vài ý nhỏ, bố cục rõ
ràng, diễn đạt trôi chảy, câu văn có hình ảnh, cảm xúc.
- Điểm 5 - 7: Bài làm còn thiếu ý. Văn chưa hay nhưng rõ ý. Mắc không
quá 7 lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.
- Điểm 3 - 4: Trình bày ý còn sơ sài, kết cấu không rõ ràng, còn nhiều lỗi
diễn đạt (>7 lỗi).
- Điểm 1 - 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi
diễn đạt.
Lưu ý: Giám khảo vận dụng linh hoạt biểu điểm. Có thể thưởng điểm cho
những bài viết có sáng tạo nếu điểm toàn bài chưa đạt tối đa. Điểm cho lẻ đến
0,25.