[Type text]
[Type text]
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh ảm đạm của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế thế giới vẫn chưa
phục hồi, các đơn hàng xuất khẩu giảm sút nhưng theo dự đoán của giới chuyên gia,
Mỹ vẫn là một thị trường xuất nhập khẩu lý tưởng cho các quốc gia. Hoạt động thương
mại nông sản của Mỹ chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại nông sản thế giới, do đó Mỹ
là một trong những đối tác quan trọng đồng thời là thị trường mơ ước của các doanh
nghiệp xuất khẩu nông sản , trong đó không loại trừ các doanh nghiệp Việt Nam.
Xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ là một thế mạnh của Việt Nam trong hơn
chục năm qua nhưng điều đó dường như đã thay đổi khi thị trường nước này ngày càng
có nhiều quy định, đòi hỏi nhà xuất khẩu phải vượt qua, nói cách khác là những rào cản
của thị trường này ngày một tăng.
Một trong những trở ngại khiến xuất khẩu nông sản của Việt Nam khó vào thị
trường Mỹ đó là các rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa. Theo đánh giá chung, Mỹ được
cho là quốc gia có hệ thống luật pháp phức tạp và nhiều rào cản kỹ thuật đối với
thương mại.
Trước những thực tế đó, mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu nông sản vào thị trường
Mỹ đòi hỏi phải có sự nhìn nhận toàn diện về những rào cản kỹ thuật tại thị trường này
mà mặt hàng nông sản Việt Nam có thể gặp phải trong quá trình xuất khẩu. Chỉ trên cơ
sở nắm rõ các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật mà thị trường Mỹ đối với hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam ta mới có cơ sở rõ ràng trong đàm phán, yêu cầu đối tác mở
cửa thị trường, đồng thời xây dựng được hệ thống các giải pháp thích hợp để vượt rào
cản, nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
mỏ, hàng dệt và may mặc, giày dép. Ngoài ra còn là những sản phẩm chế tạo như thiết
bị điện tử, ô tô, phụ tùng ô tô, thiết bị điện, hóa chất…
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ chiếm 50% GDP thế giới, 1/3 buôn bán
quốc tế. Tỷ trọng của nền kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới tuy giảm song hiện nay
vẫn giữ ở mức 22% GDP thế giới (năm 2011 GDP của Mỹ đạt gần 13.860 tỷ USD).
Với diện tích khoảng 9,4 triệu km2 và dân số trên 311,6 triệu người, Mỹ thực sự
trở thành một cường quốc kinh tế với sức mua lớn nhất thế giới. Các “con Rồng” Châu
Á đã phát triển nhanh nhờ vào việc chiếm lĩnh được thị phần khá lớn tại thị trường này.
Điều này có thể khẳng định rằng tất cả các quốc gia trên thế giới đều mong muốn thiết
lập quan hệ thương mại với Mỹ, vì Mỹ là một thị trường có sức mua lớn và một nền
tảng khoa học công nghệ cao.
5
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ 1991 - 2011
Nguồn: Congressional Research Servicewith data from U.S. Department of
Commerce, Bureau of Economic Analysic
Mỹ là một quốc gia chi phối gần như tuyệt đối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc
tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ
Quốc tế (IMF)… bởi Mỹ có tiềm lực tài chính đóng góp nhiều và theo đó quyền phủ
quyết áp đảo trong các tổ chức này rất lớn. Bên cạnh đó đồng USD có vai trò thống trị
thế giới. Với 24 nước gắn trực tiếp đồng tiền của họ vào đồng USD, trên 55 nước “neo
giá” vào đồng USD để thị trường tự do ổn định tỷ giá, các nước còn lại ở nhiều mức độ
khác nhau vẫn sử dụng hệ thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán
giá trị đồng tiền của mình. Và đặc biệt với một thị trường chứng khoán chi phối hàng
năm khoảng 8000 tỷ USD (trong khi các thị trường chứng khoán Nhật chỉ vào khoảng
3800 tỷ USD, thị trường EU khoảng 4000 tỷ USD), mọi sự biến động của đồng USD
và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của nền tài chính
8604
7658
7677
Thực phẩm
6133
6433
6372
6129
Bảo hiểm cá nhân
5336
5605
5471
5373
Sức khỏe
2853
2976
3126
3157
Giải trí
2698
2835
2693
2504
Quần áo
1881
1801
1725
1700
Bia và thuốc lá
780
cho nước ngoài làm. Thậm chí những sản phẩm được xem là công nghệ cao như máy
tính xách tay hiện nay họ cũng không còn sản xuất nữa.
7
Với đặc điểm cơ cấu kinh tế nói trên, để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng năm,
Mỹ phải nhập khẩu một lượng hàng hóa cực lớn. Do ảnh hưởng của khủng hoảng, kim
ngạch nhập khẩu sáu tháng đầu 2009 có giảm nhưng nhờ sáu quý tăng trường liên tực
nên nhập khẩu đã tăng trở lại sau đó. Tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ vào năm
2011 đạt 2263 tỉ USD. Trong đó, những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn là máy
móc thiết bị điện tử: 283,3 tỉ USD ; quần áo: 43.3 tỉ USD; đồ gỗ nội thất: 43 tỉ USD; …
Biểu đồ 1.2: Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu của Mỹ
Nguồn: www.worldsrichestcountries.com/top_us_imports.html
1.2 Tổng quan về các rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với hàng nông sản
Trong giai đoạn hiện nay, khi xu thế tự do hóa thương mại ngày càng phát triển
mạnh mẽ, Mỹ là thị trường nhập khẩu nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam song
dường như Mỹ đã và đang cố tình tìm cách gây khó khăn cho Việt Nam. Đặc biệt, từ
cuối năm 2011 trở lại đây, nhóm mặt hàng nông sản khi vào thị trường này gặp ngày
càng nhiều trắc trở, khó khăn.
1.2.1 Những rào cản kỹ thuật chung đối với mặt hàng nông sản tại thị trường
Mỹ.
Mỹ đã sử dụng một loạt các biện pháp có tính chất rào cản thương mại nhằm
hạn chế sản phẩm nông sản từ thị trường nước ta khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ.
Những rào cản kĩ thuật này chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng của Mỹ, mặt khác Mỹ đã và đang cố tình tìm cách gây khó
khăn cho hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
1.2.1.1 Tiêu chuẩn về kỹ thuật, chất lượng:
khẩu nông sản sang thị trường Mỹ, quy định về an toàn thực phẩm bảo vệ người tiêu
dùng của FDA, quy định về hiện đại hóa an toàn thực phẩm của FDA, những thay đổi
chủ yếu so với các quy định trước đây và ảnh hưởng của luật tới các việc sản xuất xuất
9
khẩu sang Hoa Kỳ. Các quy định này đề ra các mức độ nhiễm tối đa cho phép của các
thành phẩm trong vật liệu nhựa,chất bảo quản vào thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe và
an toàn của con người.
1.2.1.3 Quy định về nhãn mác, đóng gói và bao bì :
Tất cả các loại bao gói, nhãn mác, bao bì đều phải được dán nhãn thích hợp, đáp
ứng các yêu cầu của Quy định với hàng nông sản. Tất cả các thông tin trên về nhãn
mác, bao bì hàng nông sản phải chính xác và không sai lệch hoặc dễ gây nhầm lẫn và
không được ghi sai về chất lượng, số lượng, thành phần cấu tạo, bản chất, tính an toàn,
giá trị, xuất xứ hoặc các nội dung khác.
Các thông tin ghi trên bao bì,nhãn mác phải bao gồm : tên thông thường của sản
phẩm, số lượng hàng hóa, nhận dạng nơi kinh doanh chính của người hoặc cho người
sản xuất ra sản phẩm hoặc đóng gói sản phẩm để bán lại, tên nước xuất xứ của sản
phẩm, hoặc từ ngữ khác biểu thị một cách rõ ràng về nước mà ở đó sản phẩm được
gieo trồng ( đối với sản phẩm nhập khẩu,..)
Quy định đối với một số mặt hàng nông sản như thực phẩm, nhiên liệu, nguyên
vật liệu, dược phẩm không được chứa thành phẩm bổ sung.
FDA còn đưa ra yêu cầu phải ghi rõ thành phần, giá trị dinh dưỡng.
Chất liệu bao bì đóng gói giới hạn trong một số chất cho phép, có thể tái sinh và
tái sử dụng. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu không đáp ứng được thì doanh nghiệp nhập
khẩu phải đóng gói lại, hao phí đóng gói lại khiến doanh nghiệp nhập khẩu không
muốn mua hàng từ người xuất khẩu cũ nữa.
Bao bì nhựa phải đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, việc tiếp
xúc giữa sản phẩm và chất nhựa của bao bì không gây ra bất cứ phản ứng và nguy hại
điều quan trọng nữa là các doanh nghiệp cần cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản
xuất khi sản xuất sản phẩm để có thể tạo ra sản phẩm, hàng hóa đạt chất lượng cao, tiêu
chuẩn tốt.
11
1.2.2 Ảnh hưởng của các rào cản kỹ thuật của Mỹ tới nông sản xuất khẩu
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần
thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng và là công cụ trực tiếp bảo hộ
sản xuất trong nước. Đây cũng là rào cản hợp lý hạn chế nhập khẩu những hàng hóa
không đạt tiêu chuẩn ảnh hưởng xấu tới môi trường, sức khỏe con người, động thực vật
1.2.2.1 Tác động tích cực
- Khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu trong thương mại quốc tế.
Để thâm nhập vào được một thị trường thì hàng hóa từ bên ngoài phải đáp ứng
được đầy đủ các yêu cầu của thị trường nước nhập khẩu. Mặc dù tuân thủ các yêu cầu
này không phải là bắt buộc nhưng ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay. Nên rào
cản kỹ thuật là động lực giúp các nhà xuất khẩu tìm mọi cách để vượt qua, đáp ứng
những yêu cầu dù khắt khe tới đâu. Do đó, họ phải chủ động cải tiến, trang bị máy móc
thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời áp dụng các hệ thống quản
lý chất lượng quốc tế vào sản xuất, quy trình chế biến của doanh nghiệp, bồi dưỡng
năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ. Kết quả là năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm, của doanh nghiệp tại nước xuất khẩu ngày càng được nâng cao và khẳng định
trên thị trường thế giới.
-
Bảo vệ môi trường sống
trình độ đáp ứng của nước xuất khẩu là các nước đang phát triển. Các rào cản này thực
sự đã trở thành những thách thức lớn đối với các nước có trình độ thấp hơn. Sự hạn chế
về năng lực, kinh nghiệm cũng như trình độ khoa học công nghệ… của các nước xuất
khẩu sẽ khiến họ khó có thể vượt qua các rào cản này.
13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA HÀNG
NÔNG SẢN VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG MỸ
2.1 Tình hình xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường Mỹ của các doanh nghiệp
Việt Nam (giai đoạn 2001-2011)
Kim ngạch xuất khẩu của VN vào Mỹ liên tục tăng nhanh trong những năm qua,
đặc biệt từ sau Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ vào cuối năm 2001. Nếu như trước
năm 2001, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ chưa đến 1 tỷ USD thì đến năm 2011 con số
này đã lên đến 17 tỷ USD. Trong cùng xu thế đó, xuất khẩu nông sản cũng gặp nhiều
thuận lợi và tăng nhanh.
Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam như tiêu, cà phê… có nhiều thuận lợi
khi xuất khẩu vào các thị trường như Mỹ. Sở dĩ như vậy vì đây không phải là các mặt
hàng truyền thống của họ, không bị gây khó khăn bởi nhà sản xuất nước sở tại. Về
cạnh tranh, các mặt hàng nông sản của Việt Nam có nhiều lợi thế do giá rẻ hơn so với
các nước xuất khẩu khác cùng đi vào thị trường này. Vì vậy nhiều năm qua Mỹ là một
trong những thị trường XK chủ lực các mặt hàng nông sản của nước ta. Đối với các
mặt hàng nông sản, xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ gần như là luôn luôn xuất
siêu.
14
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng xuất khẩu, mặt hàng nông sản Việt Nam cũng
Hàng rau
21.677.217
quả
Hạt điều
Cà phê
Chè
2010
53.195
255.224.12
2
128.05
196.674.15
0
2
5.353
5.730.482
1
4.506
4.937.160
15
Hạt tiêu
14.848
Gạo
43.615.122
_
Cao su
18.742
28.520.644
Tổng kim
545.711.25
ngạch
873.438.52
3
XK
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Hàng rau quả:
Tính đến thời điểm này, đã có 36 loại rau của Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường Hoa Kỳ với tổng kim ngạch đạt 2,1 triệu USD năm 2009 và tăng lên 2,8 triệu
USD năm 2011. Trong số 36 loại này, nấm rơm muối, nấm rơm đóng lon đạt kim
ngạch cao nhất.
Đứng thứ hai là mặt hàng ngô non đóng lon, ngô luộc. Ngoài rau, các loại khoai
lang, hành củ, tỏi, gừng, nghệ... cũng được người Mỹ ưa dùng.
Thay đổi rõ nét nhất là Hoa Kỳ đã tăng nhập khẩu cho các sản phẩm rau, quả
tươi và giảm dần các sản phẩm rau, quả đóng hộp.
Tuy nhiên, thời gian tới, nông sản Việt Nam cần phải vượt qua rào cản cao hơn
khi Hoa Kỳ thực hiện kiểm tra chất lượng các mặt hàng nông sản nhập khẩu theo quy
định của nước này. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ thực hiện quy trình kiểm tra ngặt nghèo đối
với các sản phẩm hàng hóa của các nước khi xuất khẩu vào thị trường nước này. Bộ
Nông nghiệp Hoa Kỳ có quyền ra lệnh kiểm tra hoặc thu hồi sản phẩm xuất khẩu vào
16
Hoa Kỳ nếu không đảm bảo chất lượng và tính phí cho chủ hàng xuất khẩu sản phẩm
đó.
Cà phê hạt
Thị trường Mỹ vẫn là một trong số những thị trường tiêu thụ cà phê lớn của
nước ta. Trong năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam là 1,2 triệu
tấn thì xuất khẩu sang Mỹ là nhiều nhất chiếm 11,55% ( hơn 138 nghìn tấn).
Mặt hàng
NK từ Việt Nam
NK từ các nước
khác
(Đơn vị: triệu USD)
2009
Hàn
Gạo
g rau
Chè
phê
21,7
2406
Cà
2010
_
196,7
634,
4,9
541,9
Tỷ lệ NK từ Việt
Nam của Mỹ so
với tổng trị giá
0,9%
4,7%
1,23% 1%
NK mặt hàng
1,35
%
4,9%
0,9%
này
Nguồn: Dựa trên số liệu thống kê của UN Comtrade
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Việt Nam không lớn
nhưng phần lớn là do các rào cản kỹ thuật tại Mỹ ngày càng khắt khe hơn các quốc gia
khác.Đặc biệt, từ cuối năm 2011 trở lại đây, nhóm mặt hàng nông sản khi vào thị
19
giá của giới chuyên gia, mặc dù dư lượng chất này ở mật ong xuất khẩu của ta thấp hơn
rất nhiều so với quy định của CODEX và Liên minh châu Âu (EU) song Mỹ vẫn cố
tình khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn. Kết cục là, sau sự việc 600 tấn
mật ong của Việt Nam bị Mỹ trả lại, đến nay sản phẩm mật ong hầu như khó có thể
xuất khẩu được. Song, điều quan trọng là, động thái này của Mỹ đã khiến 35.000 người
nuôi ong của Việt Nam rơi vào tình thế “dở khóc dở cười”. Bởi từ khi trở thành mặt
hàng xuất khẩu có thế mạnh, nhiều người dân Việt Nam đã chuyển hẳn sang làm nghề
nuôi ong lấy mật. Do đó, có thể trông thấy ngay sự ảnh hưởng lớn đến đời sống của
nhiều người nông dân Việt Nam.
2.2 Các biện pháp vượt rào kỹ thuật, thúc đẩy xuất khẩu nông sản sang thị
trường Mỹ của Việt Nam hiện nay
Trước những khó khăn phải đối mặt trong việc xuất khẩu nông sản vào thị
trường Mỹ, Chính phủ Việt Nam đã và đang sử dụng những biện pháp nhất định để hỗ
trợ các doanh nghiệp tiến vào thị trường màu mỡ và đầy tiềm năng này.
2.2.1 Các chính sách tài chính- tín dụng hỗ trợ, đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu hàng nông sản:
Thực hiện định hướng đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng nông sản
vốn là thế mạnh của chúng ta, theo nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/06/2000 về
một số chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp,
Chính phủ đã có một số điều chỉnh mà trong đó có miễn thu thuế buôn chuyển về hàng
hóa nông nghiệp, định hướng xem xét miễn giảm thuế khi gặp rủi ro về thị trường và
giá cả, tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà
nước thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại gắn với xuất khẩu nông sản, mở rộng cam
kết song phương và đa phương. Sau đó, năm 2001, Nghị Quyết số 05/2001/NQ-CP
ngày 24/05/2001 của Chính phủ và Quyết định số 908/QĐ-TTG ngày 20/07/2001 của
Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ nông sản và
21
nghiệp. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2012, trung tâm xúc
tiến Thương mại Nông nghiệp đã xây dựng kế hoạch tổ chức và tham gia nhiều hội chợ
triển lãm trong và ngoài nước như:
- Hội chợ Nông nghiệp kết hợp Diễn đàn xúc tiến đầu tư nông nghiệp công nghệ
cao khu vực Đồng bằng sông Hồng (tháng 6 ở Hải Dương).
- Hội chợ nông nghiệp Quốc tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (tháng 7 ở
Cà Mau)
- Hội chợ Giống, Vật tư Nông nghiệp và Thương mại Khu vực phía Bắc 2012
(tháng 8 ở Bắc Giang)
- Hội chợ hàng Nông sản và thủ công mỹ nghệ khu vực phía Bắc 2012 (tháng 9
ở Hà Nội
- Hội chợ Thực phẩm và đồ uống Foodex Japan (tháng 3 ở Tokyo, Nhật Bản).
- Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế lần thứ 9 tại Liêu Ninh, Trung Quốc (tháng 9 ở
Liêu Ninh, Trung Quốc).
- Hội chợ Thực phẩm và Đồ uống SIAL Paris 2012 (tháng 10 ở Paris, Pháp)
- Chương trình Quảng bá Nông lâm thủy sản Việt Nam tại thị trường
Campuchia (tháng 12 tại Phnom Penh, Campuchia).
Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khi tham gia các chương trình:
- Đối với chương trình Hội chợ Triển lãm được tổ chức trong nước các doanh
nghiệp tham gia sẽ được hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng.
- Đối với chương trình Hội chợ Triển lãm được tổ chức ở nước ngoài các doanh
nghiệp tham gia sẽ được hỗ trợ 100% chi phí thuê gian hàng, tuyên truyền, quảng cáo.
2.2.3 Tăng cường công tác quản lý chất lượng:
22
Một vấn đề nữa khi xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Mỹ đó là phải
Ở Việt Nam vẫn còn thiếu rất nhiều các tiêu chuẩn và phương pháp thử xác định chất
lượng của sản phẩm gây khó khăn không nhỏ cho việc tiếp cận và thỏa mãn yêu cầu
của các thị trường nhập khẩu mà trong đó tiêu biểu là Mỹ.
2.2.4 Đào tạo và phát triển nguồn lực:
Thực hiện Nghị quết lần thứ bảy (khóa X) của Trung ương Đảng về nông
nghiệp, nông dân và nông thôn, ngày 27/11/2009 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết
định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến
năm 2020” (gọi tắt là đề án 1956) với mục tiêu tổng quát: “Bình quân hàng năm đào
tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000
lượt cán bộ, công chức xã. Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo
việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động
và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn…”.
Để thực hiện mục tiêu trên đề án đưa ra 3 nhóm chính sách, 5 nhóm giải pháp, 8
nhóm hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn và 4 nhóm hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức xã. Kinh phí thực hiện toàn bộ dự án ước tính là 25.980 tỷ
đồng (bình quân mỗi năm là 2.363 tỷ đồng; giai đoạn 2009-2011đã được bố trí khoảng
2.800 tỷ đồng). Dự án đã có nhiều thành tựu khả quan như năm 2010 đã tiến hành dạy
nghề được cho khoảng 345.000 lao động nông thôn. Dự án tuy còn nhiều bất cấp cần
gỡ bỏ, rắc rối phải xử lí gấp để sao cho có thể đi vào thực tế cơ sở gắn với nhân dân
nhưng đó cũng thể hiện được quan điểm và định hướng phát triển của nhà nước vào
ngành nông nhiệp trong tương lai.
24
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG ỨNG
PHÓ VỚI RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG NÔNG SẢN
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
3.1 Giải pháp đối với Chính phủ
môi trường sinh thái), đôi khi có thể được công bố dưới hình thức chương trình hiệu
chuẩn.
ISO/CD 14204: nhãn môi trường và sự công bố nhãn môi trường kiểu I:
Các nguyên tắc hướng dẫn và quy trình thủ tục (dự thảo): chương trình thực
hành bên thứ 3 dựa trên cơ sở đã chuẩn cứ một cách tự nguyện nhằm cấp nhãn môi
trường có yêu cầu về sự ưu tiên dựa trên chu trình sống của sản phẩm. Theo đánh giá
của nhiều chuyên gia, ISO 14024 thể hiện nhiều sự lựa chọn hạn chế đối với chương
trình nhãn sinh thái vì nó chưa phù hợp với các điều kiện của các nước đang phát
triển khi phải bỏ ra chi phí lớn và thường xuyên thử nghiệm và kiểm tra.
Mặc dù quy định trên còn đang tiếp tục thảo luận nhưng Việt Nam đã ủng hộ
sáng kiến nhãn mác môi trường kiểu II và cần triển khái thêm dự án tiến hành điều
tra, nghiên cứu cơ sở khoa học kỹ thuật và thực tiễn cho việc ban hành cơ chế cấp
nhãn sinh thái ở Việt Nam.
3.1.2 Tích cực tham gia các Hiệp hội đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể:
Việt Nam cũng cần nhanh chóng đẩy mạnh hơn nữa quá trình tham gia các
hiệp hội thế giới và khu vực với từng mặt hàng nông sản như đã từng tham gia Hiệp
hội Cà phê, Hiệp hội chè thế giới, Hiệp hội các nước xuất khẩu gạo,… Đây là việc
làm hết sức cần thiết bởi:
Thứ nhất, các hiệp hội là tập hợp của các thành viên có cùng quyền lợi và có
nhiều điểm chung về thế mạnh xuất khẩu, do đó, phương hướng và hành động của
mỗi tổ chức sẽ vì quyền lợi của quốc gia thành viên,
Thứ hai, việc tham gia vào một tổ chức các quốc gia có cùng thế mạnh như
mình có thể giúp Việt Nam học tập kinh nghiệm từ bạn bè quốc tế, để khắc phục