TÀI LIỆU THAM KHẢO - VẬN DỤNG NHỮNG QUAN điểm mỹ học Mác - LÊ NIN vào QUẢN lý văn hóa - Pdf 40

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM MỸ HỌC MÁC – LÊ NIN VÀO QUẢN LÝ VĂN
HÓA
Để nâng cao chất lượng sống, cần quan tâm không chỉ đến lĩnh vực sản xuất
vật chất mà còn phải quan tâm thích đáng đến lĩnh vực sản xuất tinh thần. Làm cho
văn hoá văn nghệ phát triển sẽ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của con
người. Bởi trong đời sống con người, văn hoá văn nghệ là nhu cầu không thể thiếu.
Xã hội càng tiến lên, nhu cầu văn hoá của con người càng phát triển.
Từ ngày có Đảng và sau đó, từ khi có chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn
luôn coi Văn hoá văn nghệ là một bộ phận khăng khít của cách mạng, đồng thời
bằng tác động lãnh đạo và quản lý luôn tạo điều kiện cho văn hoá văn nghệ phát
triển.
Từ năn 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta
chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường. Công cuộc đổi mới này làm biến đổi
nhiều mặt trong đời sống xã hội, tác động mạnh mẽ đến văn hoá văn nghệ, làm nảy
sinh nhiều vấn đề mới về lãnh đạo và quản lý trên lĩnh vực này.
Những nhận thức lý luận về lãnh đạo và quản lý văn hoá văn nghệ vốn có đã
bộc lộ những điều không còn hoàn toàn phù hợp trước tình hình mới, không đáp
ứng thoả đáng những yêu cầu mới. Việc điều chỉnh, bổ sung nhận thức lý luận về
văn hoá văn nghệ, về lãnh đạo và quản lý văn hoá văn nghệ đang được đặt ra như
một nhu cầu bức thiết.
Đi sâu vào đời sống văn hoá văn nghệ nước ta trong những năm từ sau Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay có thể thấy rằng: với đường lối đổi mới của
Đảng, các nguồn lực, các tiềm năng văn hoá văn nghệ đã và đang được khai thác,
thúc đẩy và phát triển, đã và đang làm biến đổi mạnh mẽ hoạt động sáng tạo và
hưởng thụ văn hoá nghệ thuật.
Trong đời sống văn nghệ nước ta, bên cạnh những chuyển biến mới vẫn còn
nhiều tồn tại, các nguồn lực văn hoá văn nghệ đang đòi hỏi cơ chế, chính sách
thích hợp hơn để tiếp tục phát huy tiềm năng sáng tạo, đáp ứng nhu cầu văn hoá
tinh thần không ngừng phát triển.




chuyển biến lớn lao thì lực lượng tiên phong lại càng coi trọng vai trò của văn hoá.
Các chính đảng có sứ mệnh lãnh đạo xã hội xưa nay đều sử dụng văn hoá văn nghệ
như là một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Dù
công khai hay che giấu việc sử dụng văn hoá văn nghệ như là lợi khí đều được các
lực lượng chính trị sử dụng một cách có ý thức, có tổ chức.
Điều này có căn rễ sâu xa từ bản chất và chức năng của văn hoá văn nghệ :
trong xã hội có giai cấp, văn hoá văn nghệ tất có tính giai cấp. Văn hoá văn nghệ
không phụ thuộc vào chính trị của giai cấp này sẽ phụ thuộc vào chính trị của giai
cấp khác.
Lịch sử cũng cho ta kinh nghiệm: giao lưu văn hoá giữa các nước là con
đường tốt nhất để tăng cường hiểu biết, tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị giữa
các dân tộc, làm phong phú lẫn nhau giữa các nền văn hoá. Ngược lại, kẻ xâm lược
cũng có thể thực hiện các cuộc xâm lăng bắt đầu từ văn hoá.
Trong suốt nghìn năm đô hộ nước ta, phong kiến phương Bắc một mặt tìm
cách tiêu huỷ văn hoá Việt Nam (bằng cách đốt sách, đục bia, phá hoại các định
hướng xã hội chủ nghĩa tích lịch sử, nghệ thuật...), mặt khác tìm cách áp đặt văn
hoá Trung Hoa vào nước ta trên nhiều lĩnh vực (tổ chức xã hội, phong tục tập
quán..), nhằm "đem thi thư để biến tục nước, lấy lễ nhạc để sửa lòng người"; nhằm
đồng hoá cả con người và nền văn hoá Việt Nam.
Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta đã truyền bá văn hoá Pháp sang Việt
Nam nhằm gây ảnh hưởng về tinh thần, nắm lấy trí thức và thanh niên; lợi dụng
phong tục, tập quán lạc hậu ở nước ta để áp bức, bóc lột, kìm hãm bước tiến của
nhân dân ta.
Nhảy vào Đông Dương, phát xít Nhật cũng lợi dụng văn hoá để tuyên truyền
chủ nghĩa Đại Đông Á, lôi kéo trí thức, văn nghệ sĩ nước ta phục Nhật, theo Nhật,
sử dụng mọi phương tiện văn hoá để phục vụ cho chế độ thống trị của chúng.
Xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ sử dụng mọi hình thức văn hoá để tô vẽ cho
bộ mặt quốc gia giả hiệu và bè lũ tay sai, ru ngủ và nô dịch nhân dân, phá hoại tâm
hồn, tình cảm của thanh niên, hướng thanh niên vào con đường sống không đạo


Sau khi Tây và Đông Đức sát nhập "sách của CHDC Đức bị nghiền nát hàng
tấn vứt vào đống rác... Các quảng trường và đường phố mang tên chién sĩ chống
phát xít hay những người cộng sản có công lao đều bị đổi tên..."(100).
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã cho chúng
ta những bài học sâu sắc về nhận thức và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, và
cảnh giác cách mạng trước những thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội. Còn chủ
nghĩa đế quốc, đương nhiên đã có thể bổ sung những kinh nghiệm chiến lược "diễn
biến hoà bình" , tiếp tục tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Các trung tâm phá hoại tư tưởng từ các đế quốc vẫn sử dụng hàng trăm tờ
báo, tạp chí, đưa vào nước ta hàng chục ngàn ấn phẩm có nội dung chống cộng,
chống chủ nghĩa xã hội lại việc truyền bá những sản phẩm văn hoá để bảo vệ
những gì là nhân bản, nhân văn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của mình . Ở Xy
Ry, Bộ văn hoá đã cấm quảng cáo không mang tính văn hoá, tuyên truyền cho bạo
lực, tình dục. Ở Xrilanca, bộ văn hoá cấm sản xuất hoặc nhập các phim ảnh, băng
hình có nội dung kích động tình dục, bạo lực. Trên đất nước này, người ta đã hiểu
rằng nhiều vụ án hình sử xảy ra mà nguyên nhân chính là do những sản phẩm phi
văn hoá.
Ở Philipin, thị trưởng thành phố Maiia (A.Lin) cùng cựu tổng thống Philoppin
(C.Aquinô) và tổng giám mục nhà thời Thiên Chúa giáo (J.Sin) đã châm lửa đốt
hàng nghìn cuốn sách tạp chí, băng nhạc, băng hình có nội dung phản văn hoá.
Nhật Bản và Singapo tẩy chay cuốn sách "Sex" của Mađôn là cuốn sách bán
chạy nhất trong năm 1922 ở Mỹ. Theo luật kiểm duyệt, Singapo còn cấm lưu hành
nhạc khiêu dâm Mỹ, cấm Anbum nhạc "U se your LLLusion 2" vì lời nhạc có tính
chất buông thả và khêu gợi nhục dục; các ca sĩ còn bị cấm hát bài "Erotica" là bài
"tủ" của Madona vì có nội dung kích động tình dục.

Ở Nam Triều Tiên một hãng truyền hình (SBS) bị cảnh cáo vì đã đưa lên màn
hình những phim dâm loạn, bị xem là "phá họai nền văn hoá lâu đời của dân tộc".




nghệ. Trên ý nghĩa ấy văn nghệ và chính trị cùng chung mục đích vì hạnh phúc con
người.
Ở nước ta từ ngày có Đảng, văn nghệ đã thực sự trở thành một bộ phận khăng
khí của cách mạng, trở thành vũ khí đắc lực trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập,
tự do, dân chủ. Gắn bó với cách mạng, văn hoá văn nghệ Việt Nam, ở mọi thời kỳ
đều đạt được thành tựu.
Lịch sử cũng cho ta bài học về tiếng nói nghệ thuật phải được bảo đảm bằng
bản lĩnh chính trị. Trong một nền văn nghệ của chúng ta đã từng có những tên tuổi
tài năng mà trong một lúc nào đó không tỉnh táo và không đủ sức nhận đường đã
vấp váp và có những sai lầm lệch lạc.
Khi đưa ra "Đề cương văn hoá" 1943 Đảng ta đã chủ trương giải phóng văn
nghệ khỏi sự kiểm chế của hệ tư tưởng thống trị của chủ nghĩa thực, đưa văn nghệ
trở về bản chất và lẽ sống của nó. Bởi "dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự
do. văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng" (7, tr.63).
Khi chưa biết cách mạng, chưa hiểu cách mạng, nhiều nghệ sĩ có tài, yêu
nước mà vẫn không biết làm gì hơn là giấu mình trong những dòng thơ buồn khổ,
với nỗi đau siêu hình. Chỉ sau quá trình đi theo cách mạng, sống cuộc sống chiến
đấu của nhân dân, những nhà thơ, nhà văn ấy mới đi từ "chân trời của một người
đến chân trời tất cả", tìm lại được niềm vui chân chính trong sáng tạo; tìm thấy sự
thống nhất giữa trách nhiệm trước cuộc đời với mong ước của bản thân.
Trước Cách mạng 1945, Chế Lan Viên đã bỏ không làm thơ văn, chán, nhà
thơ lần lượt yêu Kinh Thánh, Phật nhưng vẫn không tìm ra lối thoát. Có cách
mạng, anh tham gia vào cuộc sống dân tộc, anh vui lại và làm thơ lại. "Chính nhờ
chính trị mà làm thơ lại. Và khi đã làm thơ thì không phải chỉ làm thơ chính trị mà
cả thơ tình"(41). Chính Cách mạng, chính Bác Hồ - người chủ trương đưa chính trị
vào văn nghệ- đã thay đổi đời anh, thay đổi thơ anh.
Ngày nay xã hội vận động theo hướng dân chủ hoá, thực tiễn cuộc sống vô
cùng đa dạng và phức tạp; bối cảnh quốc tế diễn biến đan xen hợp tác và đấu tranh,

Ngày nay, bản thân việc chạy trốn khỏi chính trị bắt đầu được xem xét như một sự


lựa chọn: muốn hay không muốn, người nghệ sĩ cũng bị lôi vào cuộc" (150, tr.
515).
Những thành tựu văn hoá mang tính toàn nhân loại vốn có từ trước khi xã hội
phân chia thành giai cấp vẫn in dấu ấn trong nền văn hoá của thời đại ngày nay.
Khi xã hội hết phân chia giai cấp, văn hoá vẫn phát triển. Nhưng trong bối cảnh
quốc tế hiện nay, trong tính phức tạp và đa dạng của các lực lượng xã hội trong
mỗi nước và trong từng khu vực, vấn đề giai cấp, vấn đề hệ tư tưởng vẫn đang
nóng bỏng. Điều đó biểu hiện rất rõ trong văn nghệ, một bộ phận cấu thành quan
trọng, một thành tố có tính đặc thù và có tính tiêu biểu của văn hoá.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nới: "Cán bộ văn hoá nói riêng cũng như tất cả
các cán bộ ta nói chung phải rèn luyện tư tưởng, chính trị, ý chí phấn đấu và tinh
thần trách nhiệm… Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa
bài, người phát hành, v.v…) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải
làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì việc khác mới đúng được". (7, tr,37,43).
Sự nhận thức, hay nói đúng hơn, sự tự ý thức về tính tất yếu của mối quan hệ
giữa chính trị và văn nghệ với tính chất là một phạm trù lịch sử sẽ giúp văn nghệ sĩ
thấy tự do trong sáng tạo, sẽ là tác nhân quan trọng tăng cường hiệu lực lãnh đạo
của Đảng với văn hoá văn nghệ.
Mỗi xã hội đều có nền văn hoá của mình. Mỗi nền văn hoá được hiểu và đánh
giá bằng những quan niệm và thước đo của chính nó. Lãnh đạo, định hướng cho sự
phát triển và tiếp nhận văn hoá chính là để đảm bảo cho văn hoá, cho mọi thành tố
cấu thành của nó, trong đó có bộ phận đặc biệt nhạy cảm là văn hoá nghệ thuật
phát triển phù hợp với truyền thống dân tộc, phát huy được bản sắc dân tộc, Nếu
bản sắc dân tộc là một quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá và tái tạo;
nếu truyền thống của một dân tộc luôn luôn là sự bảo tồn và chắt lọc, kế thừa và
phát triển, giữ gìn và tiếp biên thông qua hiện tại, thì sự lãnh đạo, định hướng là
cần thiết để qua đó bản sắc truyền thống không chỉ là sự vận động theo quán tính

kháng chiến anh hùng chống thực dân Pháp.
Trong giai đoạn lịch sử này, ngay trong điều kiện kháng chiến, Đảng vẫn
không ngừng cụ thể hóa đường lối văn hoá văn nghệ, nêu ra và giải quyết nhiều
vấn đề rất cơ bản của lý luận văn nghệ: vấn đề tự do và quy luật trong sáng tạo


nghệ thuật, vấn đề quan điểm đối với văn hoá cổ và văn hoá nước ngoài, vấn đề
đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc là
nhiệm vụ của văn hoá, vấn đề nhận thức sâu sắc hơn về quan điểm dân tộc, khoa
học, đại chúng trong Đề cương văn hoá trước yêu cầu mới, vấn đề học tập lý luận
Mác- Lênin để tạo bước chuyển căn bản trong thế giới quan và tâm hồn văn nghệ
sĩ,.. (1) Chính trong giai đoạn này, Hồ Chủ Tịch đã phát biểu luận điểm cơ bản của
Đảng về văn hoá văn nghệ trong bức thư Người gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm
hội hoạ năm 1951: "Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến
sĩ trên mặt trận ấy" (6, tr.349).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình được lập lại, nửa nước được giải
phóng, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhân dân ta phải gánh vác hai
nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và vĩ đại: Chiến đấu chống một kẻ thù lớn mạnh và
hung hãn là đế quốc Mỹ và chuẩn bị bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội trên nửa
nước.
Trong giai đoạn này, trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ đặt ra một số vấn đề mới
và xuất hiện những khó khăn nhất định. Đảng lại kịp thời đưa ra những giải đáp lý
luận giúp quyết những vấn đề tư tưởng và nghệ thuật (vấn đề Nhân văn, Giai
phẩm, vấn đề mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, về chủ nghĩa nhân đạo mới,
về công tác lãnh đạo của Đảng với văn nghệ, vấn đề miêu tả sự thật và phê bình
xây dựng, v.v…
Những phương hướng sáng suốt và kịp thời của Đảng nêu ra trong thời kỳ này
đã giúp văn nghệ sĩ tránh được những sai lầm, vấp váp, xác định rõ nhiệm vụ của
văn nghệ sĩ, lôi cuốn, cổ vũ các nhà văn nghệ ở miền Bắc cũng như miền Nam "ra
sức xây dựng một nền văn nghệ dân tộc, phong phú, tích cực góp phần xây dựng

nhân cách và bản lĩnh các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã
hội" (17, tr.130).
Thực hiện "quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách
mạng và khoa học' (17, tr.209) của Đại hội VI, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về
"Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hoá
phát triển lên một bước mới" (Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 28-11-1987). Nghị
quyết đã đánh giá một cách toàn diện, đúng đắn về tình hình văn nghệ từ sau Cách
mạng tháng Tám đến 1987 và các thành tựu, thiếu sót trên các mặt lãnh đạo, quản


lý, sáng tác, lý luận phê bình… Nghị quết đã làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận về
vai trò, bản chất, nhiệm vụ của văn hoá văn nghệ trong giai đoạn cách mạng mới.
Những phương hướng chỉ đạo có tính chiến lược, những chính sách lớn được nêu
ra trong nghị quyết, trong đó có việc đề ra phương hướng và một số biện pháp cụ
thể khắc phục những nhược điểm thiếu sót trong lãnh đạo và quản lý văn hoá văn
nghệ, "đã tạo điều kiện cho văn hoá, văn nghệ đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một
phần nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào
sự nghiệp đổi mới" (19, tr.51).
Kế thừa và phát triển đường lối văn nghệ nhiều năm trước, Đại hội VIII tiếp
tục xác định "xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp,
phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ. Phát huy vai trò văn
hoá, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam" (11, tr.9).
Sau 6 năm thực hiện nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, gần 2 năm thực hiện nghị
quyết Đại hội VII, Đảng lại có nghị quyết "Về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ
những năm trước mắt" (số 04, ngày 14-1-1993). Nghị quyết trong khi khẳng định
những quan điểm đổi mới có tính nguyên tắc của Đảng trên lĩnh vực văn hoá văn
nghệ đã chỉ ra một số nhược điểm của nghị quyết 05, những thiếu sót chung quanh
việc phổ biến và thực hiện nghị quyết 05. Những tư tưởng chỉ đạo và những biện
pháp thực hiện đối với văn hoá văn nghệ nước nhà trong tình hình mới đang được
nghiên cứu triển khai trong thực tế.

đập, hơi thở, tthành mệnh lệnh đối với tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Cả
nước hoạt động dưới sự chi phối khắc nghiệt của quy luật chiến tranh. Cái bất bình
thường của chiến tranh được chấp nhận cả trong đời sống thường ngày cũng như
trong sản xuất và công tác. Khi "cả nước lên đường xao xuyến bờ tre hồi trống
giục", khi toàn dân lao vào cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù để giữ nước và giành
lại toàn vẹn đất nước thì độc lập dân tộc là đỉnh cao nhất định hướng cho mọi hoạt
động sáng tạo. Sáng tác về cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc đã là cảm
hứng chủ dạo của mọi nghệ sĩ - chiến sĩ. Nhu cầu lớn nhất lúc đó là cổ vũ con
người vượt qua trăm ngàn khó khăn để chiến đấu và giành chiến thắng. Phản ánh,


tái tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp nhằm cổ vũ quân dân ta trong cuộc
kháng chiến, đó là nhiệm vụ lịch sử cũng là nhu cầu, là lương tâm, tình cảm của
người nghệ sĩ gắn bó tha thiết và hiểu biết sâu sắc cuộc sống chiến đấu và sản xuất
của nhân dân. "Với thành tựu đã đạt được chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc
kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào
hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc trong thời
đại ngày nay" (9, tr.121.
Vị trí tiên phong của nền văn học nghệ thuật mà Đảng ta đánh giá, trước hết là
sự đánh giá về tính chiến đấu, tinh thần cách mạng, ý thức về nghĩa vụ, trách
nhiệm và lương tâm của các thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam, những người đã góp
phần phản ánh chân thật và hùng hồn chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân
Việt Nam trong kháng chiến. Quý giá biết bao những nghệ sĩ tài năng ý thức sâu
sắc về trách nhiệm của mình có mặt ở các mũi nhọn của cuộc đấu tranh… Lịch sử
nên văn nghệ sĩ Việt Nam mãi mãi khắc ghi những chiến công - sáng tạo của
những văn nghệ sĩ - chiến sĩ hào hứng ra mặt trận, có người đã anh dũng hy sinh
như một người lính chân chính; mãi mãi không quên những xưởng nghệ thuật sơn
mài lập ngay trong căn cứ cách mạng, những đoàn kịch nhỏ, những đội văn công,
chiếu bóng phục vụ lưu động trên trận địa, trong chiến hào, dưới địa đạo…, và cả
những cuốn sách được mang trong ba lô chiến sĩ ra tuyến đầu Tổ quốc đến với giải

cách giản đơn, thô cứng đã làm cho văn nghệ chỉ tập trung khai thác những vấn đề
trực tiếp liên quan đến nhiệm vụ trước mắt, đến việc tuyên truyền các chủ trương
chính sách một cách khô khan, công thức, đến việc ca ngợi một chiều và thuyết
minh giản đơn cho một tư tưởng vô hình trung đã tầm thường hoá văn nghệ, đã
làm nghèo đi bức tranh nghệ thuật, làm văn hoá nghệ thuật thiếu sức sống tự nhiên
của nó.
Từ Đại hội VI, chúng ta đã thấy xuất hiện trong văn kiện những dòng "Văn học
nghệ thuật phải không ngừng nâng cao tính đảng và tính nhân dân, gắn bó với hai
nhiệm vụ chiến lược"(17, tr.130).


Không nói văn nghệ phục vụ chính trị mà nói văn nghệ gắn bó với hai nhiệm
vụ chiến lược, với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
vừa tránh tạo nên sự nhìn nhận giản đơn văn nghệ chỉ là công cụ của công tác tư
tưởng, coi văn nghệ chỉ như là vũ khí tuyên truyền của chính trị, không thấy hết
những đặc trưng phản ánh và tham gia vào đời sống xã hội của nghệ thuật, vừa vẫn
thống nhất với việc Đảng và Nhà nước ta xem văn nghệ là bộ phận khăng khít của
cách mạng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới.
2. Nâng cao trình dộ thẩm mỹ và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của
nhân dân.
Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người luôn có nhu cầu hướng tới cái đẹp.
Đúng là nhân tố hàng đầu của văn hoá là sự hiểu biết song lịch sử cũng cho thấy
mỗi bước tiến của xã hội là một bước con người vươn tới cái đep, "nhào nặn hiện
thực theo quy luật của cái đẹp" (Mác). Chính nhu cầu và khả năng vươn tới cái đẹp
là một trong những động lực giúp con người tạo nên những tiến bộ về vật chất và
tinh thần trong cuộc sống, cũng như phát triển nhận thức và trí tuệ là một động lực
quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.
Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta luôn luôn thể hiện sự coi trọng bản
chất xã hội và đặc trưng của nghệ thuật, tôn trọng tính tư tưởng cũng như tính nghệ
thuật, chú trọng đến chức năng giáo dục, nhận thức cũng như chức năng thẩm mỹ.

hoá và năng lực cảm thụ nghệ thuật của công chúng văn nghệ và thự sự cần thiết
thích ứng với nhu cầu đó. Người nói: "Chớ viết khô khan quá.Phải viết cho văn
chương. Vì ngày trước khác, người đọc chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây
giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì
mới thích đọc"(7, tr.47).
Trước đây, khi thì vì kháng chiến, khi thì vì đời sống còn nhiều khó khăn về
vật chất, cũng có khi vì giao lưu quốc tế chưa mở rộng, hoặc vì tình trạng bao cấp
trong văn hoá… mà công chúng không đòi hỏi nhiều hơn những gì mà nhà nước
làm cho dân. Ngày nay, tình hình xã hội, tình hình trong nước và trên thế giới đã
đổi khác, không thể chỉ áp dụng mãi một cách đưa văn hoá về cho quần chúng với


tư cách là giáo dục họ. Quan niệm rằng một số loại hình nghệ thuật chỉ là nơi răn
dạy thuần tuý đã bị lịch sử vượt qua. Ngày nay, trong khi đưa văn hoá về cho quần
chúng nhằm phổ biến tư tưởng, giáo dục về lối sống, tạo ra một nhu cầu văn hoá
lành mạnh còn phải ý thức đầy đủ rằng: khi người ta tìm đến và tiếp nhận một hình
thức văn hoá nào đó là người ta phải thấy có lợi, có ích hoặc tìm thấy cái điều khả
dĩ có thể làm người ta thích thú.
Các nhà sáng tác, các nhà xuất bản, các xưởng phim, các nhà hát, các cá nhân,
các đơn vị kinh doanh, dịch vụ văn hoá, các doanh nhân văn hoá đều phải coi công
chúng là một phạm trù thao tác trong hoạt động văn hoá văn nghệ - nghiên cứu
công chúng với những nhu cầu đa dạng của họ. Không thể áp đặt món ăn tinh thần
mà phải nghiên cứu cấp ứng nhu cầu thẩm mỹ của công chúng.
Chính trong các văn kiện Đại hội của Đảng thể hiện nhận thức có bước phát
triển và sự quan tâm ngày một thoả đáng hơn của Đảng ta đối với việc đáp ứng nhu
cầu văn hoá của quần chúng. Nếu như trong văn kiện Đại hội III, công tác văn hoá
nghệ thuật được nhấn mạnh ở mặt "phục vụ đắc lực cho đường lối và chính sách
cách mạng của Đảng, góp phần tích cực vào công việc giáo dục tư tưởng, tình cảm
và cải tạo con người theo chủ nghĩa xã hội…" (16, tr.123), đến "thoả mãn nhu
cầu văn hoá to lớn và ngày càng tăng" (Đại hội V) (13, tr.35). Những điều chỉnh

trong hoạt động văn hoá văn nghệ.
Do tác động từ nhiều phía mà trong thực tiễn nhu cầu và thị hiếu văn hoá của
công chúng rất phức tạp. Có thị hiếu lành mạnh và có cả thị hiếu không lành mạnh.
Có những ham muốn nhân bản mà cũng có cả những ham muốn làm tha hoá con
người. Do đó, trong lãnh đạo và quản lý văn nghệ cần "dùng nhiều hình thức sinh
động giáo dục lý tưởng, trau dồi đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn và thẩm
mỹ, nâng cao trình độ hiểu biết và hưởng thụ văn hoá của nhân dân, ngăn chặn văn
hoá phẩm và hoạt động nghệ thuật gây độc hại" (12, tr.37).
Đứng trước nhu cầu đa dạng, trước tình thế là kỹ thuật tiên tiến kết hợp đầy
hiệu lực với văn hoá, một người đã có điều kiện dễ dàng tiếp thu nhiều nền văn hoá
khác nhau, giao lưu văn hoá trở thành tất yếu, không còn sự độc quyền văn hoá thì
phương pháp lãnh đạo và quản lý thích hợp nhất là dùng ngay chính văn hoá, dùng


các phương tiện của nó để tạo nên một văn hoá có bản sắc dân tộc, hoà nhập với
văn hoá thế giới. Không chỉ quan tâm đến nhu cầu nhận thức, giáo dục, còn phải
quan tâm đến nhu cầu thông tin, nhu cầu giải trí vốn là nhu cầu phổ biến ở hầu hết
các tầng lớp công chúng. Nhu cầu giải trí thẩm mỹ bằng các món ăn tinh thần là
chính đáng và ngày càng tăng; nó nằm trong quy luật phát triển của đời sống tinh
thần của con người. Việc đáp ứng nhu cầu đa dạng, nhu cầu nhân bản của con
người ở đây được phân biệt với việc lợi dụng sự đa dạng để đưa lối sống thấp hèn,
truỵ lạc, độc ác, phi nhân tính vào đời sống tinh thần của con người, trái với phong
tục tốt đẹp của dân tộc. Một sự đáp ứng nhu cầu đa dạng được hướng dẫn sẽ có đủ
tỉnh táo để phân biệt giữa nghệ thuật ca ngợi vẻ đẹp cơ thể con người với "sex",
giữa miêu tả tình yêu và gợi dục, giữa nghệ thuật thượng võ nhân đạo và lối dặc tà
bạo lực khát máu… Đáp ứng nhu cầu đa dạng ở đây phải là sự đáp ứng những nhu
cầu phù hợp với mục tiêu xây dựng "một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân
chính và phẩm giá con người"(11, tr.10).
Đứng trên quan điểm tiến bộ để lãnh đạo và quản lý văn hoá sẽ tạo điều kiện
cho văn hoá phát triển. Giáo dục thẩm mỹ, bồi dưỡng nâng tầm văn hoá cho công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status