SKKN sáng kiến kinh ngiệm tích hợp giáo dục về biển đảo việt nam cho học sinh THPT trong giờ dạy học ngữ văn - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP GIÁO DỤC VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
CHO HỌC SINH THPT
TRONG GIỜ DẠY HỌC NGỮ VĂN

Người thực hiện: Trần Thị Minh Loan
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
.

THANH HÓA NĂM 2013
Trang 0


Trang
M ỤC L ỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................
I. Lí do chọn đề tài................................................................................
II. Phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu......................................
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ...................................................................
I.Cơ sở lí luận của việc tích hợp về biển đảo Việt Nam cho học sinh
THPT trong môn Ngữ Văn...................................................................
1. Tích hợp trong môn Ngữ Văn..........................................................
2. Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh THPT trong
các giờ dạy học Ngữ Văn.............................................................
II. Thực trạng của vấn đề tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho
học sinh THPT trong các giờ dạy học Ngữ Văn…........................

3
3
3
4
4
5
6
6
6
7
8
10
10
10
12
16
18
18
18
29
20
20
20

Trang 1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam

phú đời sống tâm hồn, hướng học sinh đến những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ. Ngữ
Văn còn rèn luyện cho các em những kỹ năng để trở thành những con người có ích
cho xã hội. Con đường giáo dục của Văn học là đi từ tình cảm, nhận thức đến hành
động. Vì vậy, nó dễ tác động và thấm sâu, thấm lâu trong lòng con người. Vì thế
tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh THPT trong giờ dạy học Ngữ
Văn là rất phù hợp và mang tính thực tiễn cao.
Trang 2


Từ những lý do trên cùng với kinh nghiệm thực tế của bản thân trong quá
trình dạy học môn Ngữ Văn tại trường THPT Triệu Sơn 2, tôi muốn chia sẻ với các
đồng nghiệm kinh nghiệm : Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học
sinh THPT trong giờ dạy học Ngữ Văn.
II.PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phạm vi đề tài.
- Tập trung vào đối tượng học sinh THPT.
- Chỉ chủ yếu đề cập đến những vấn đề về biển đảo Việt Nam có liên quan đến
chương trình Ngữ Văn THPT.
2. Phương pháp nghiện cứu.
- Điều tra.
- Thống kê, phân tích, tổng hợp.
- Thực nghiệm.
- Tích hợp, liên ngành.

Trang 3


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT
NAM CHO HỌC SINH THPT TRONG GIỜ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN.

b. Về tư tưởng, hành động.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh đối với đất nước.
- Từ đó các em tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động tìm hiểu về biển đảo...
2.2 Nội dung về vấn đề Biển đảo Việt Nam tích hợp trong giờ dạy học Ngữ Văn
THPT.

Trang 4


Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020” và những văn bản chỉ đạo, định hướng chiến lược khác, và các
hướng dẫn về nội dung tuyên truyền về biển đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước
ta trong thời gian gần đây;
Căn cứ vào nội dung cụ thể của chương trình Ngữ Văn THPT. Qua thực tế
dạy học Ngữ Văn của bản thân, tôi thấy có thể tích hợp nhiều nội dung khác nhau
về vấn đề biển đảo Việt Nam vào các tiết học. Trong đó tiêu biểu là các nội dung
sau:
- Về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển
đảo.
- Tuyên truyền các chủ trương của Đảng, các văn bản Pháp luật về biển đảo
của Nhà nước ta.
- Các văn bản liên quan đến vấn đề biển đảo, như: Công ước của Liên Hiệp
quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ửng xử các bên ở biển Đông (DOC)...
- Về chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tập quán sinh hoạt, văn hóa của ngư dân vùng biển, ven biển...
2.3 Nguyên tắc tích hợp.
Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam trong môn Ngữ Văn là phù hợp.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc tích hợp phát huy hiệu quả tối đa.
Muốn thế việc tích hợp phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ Văn.

Ở môn Ngữ văn: không có nội dung nào, bài nào, văn bản (kể cả các đoạn
văn, văn bản ví dụ) trực tiếp đề cập đến vấn đề biển đảo.
Vừa qua Bộ giáo dục và Đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo có mở lớp bồi
dưỡng chuyên đề Tuyên truyền về biển đảo và tích hợp vào các giờ học Ngoài giờ
lên lớp. Tuy nhiên trong thực tế việc thực hiện ở các trường còn nhiều hạn chế.
1.2.Thực trạng của việc tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh
THPT trong các giờ dạy học Ngữ Văn.
Trong những năm trước đây, do chương trình nhiều kiến thức và khi ấy chủ
quyền biển đảo chưa trở thành vấn đề nóng trong đời sống chính trị của đất nước
thì hầu như nội dung này không được tích hợp vào giờ dạy học Ngữ Văn.
Từ năm học 2012-2013, cùng với quá trình tuyên truyền rộng rãi của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, đoàn TNCS Hồ Chí Minh...về chủ quyền
biển đảo Việt Nam, nhiều giáo viên Ngữ Văn đã tích hợp nội dung này vào bài dạy
học.
Qua khảo sát tình hình cụ thể ở các trường THPT trên địa bàn huyện Triệu
Sơn, tôi thấy thực trạng vấn đề “Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học
sinh THPT trong giờ dạy học Ngữ Văn” nổi lên mấy điểm sau:
- Vì những kiến thức về vấn đề biển đảo không liên quan đến nội dung thi
Tốt nghiệp, Đại học, Cao đẳng nên nhiều giáo viên xem nhẹ.
- Nội dung, phương pháp tích hợp còn chưa phong phú.
- Việc tích hợp còn mang tính ngẫu hứng, tự phát chưa có mục tiêu, nội dung
mang tính hệ thống, liên tục.
- Cũng có khi cao hứng, giáo viên sa đà vào kiến thức mở rộng về chủ đề
biển đảo làm ảnh hưởng đến nội dung chính của bài học.
2. Kết quả của thực trạng.
Có thể thấy việc tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh THPT
nói chung và trong giờ dạy học Ngữ Văn nói riêng mới đang trong giai đoạn thử
nghiệm. Vì vậy, thực trạng ấy dẫn đến kết quả như sau:
Học sinh còn nhận thức lơ mơ về vấn đề biển đảo và chủ quyền biển đảo của
Tổ quốc. Cụ thể, khi hỏi nhiều em về biển, đảo của nước ta, đặc biệt là quần đảo

Văn bản

3

Trình bày
một vấn đề

4

Lập dàn ý
văn
bản
thuyết minh

5

Bạch Đằng

Địa chỉ tích hợp
Mục II.2 Con
người Việt Nam
trong quan hệ
quốc gia, dân
tộc.
Trong phần tìm
hiểu các ví dụ để
hình thành khái
niệm và đặc
điểm văn bản.


6

giang phú – về địa danh Bạch về vị trí địa lý của cửa biển Bạch Đằng;
Trương Hán Đằng ở phần những chiến công trong lịch sử chống
Siêu
Tiểu dẫn.
ngoại xâm của dân tộc ta trên sông
Bạch Đằng.GV nhận xét, bổ sung.
Viết bài số
Gv ra đề cho Hs thuyết minh biển Việt
5
(Văn
Nam.
thuyết
minh)

1.2. Chương trình Ngữ Văn 11
STT
Tên bài
1
Bài ca ngất
ngưởng

Nguyễn
Công Trứ

Địa chỉ tích hợp
Phần Tiểu dẫn
nói về cuộc đời,
sự nghiệp của

nhân dân ta. Ông có sáng kiến chiêu mộ
dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai
sinh
các
huyện Kim
Sơn (thuộc
tỉnh Ninh
Bình ngày
nay), Tiền
Hải (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vào
những năm cuối thập niên 1820. Ông
được nhân dân ở đây lập đền thờ ngay
khi còn sống.
GV gợi ý để học sinh nhớ lại những kiến
thức đã biết về Địa lí Việt Nam liên
quan đến khu vực biển miền Trung. Bờ
biển ở các tỉnh như Quảng Bình, quảng
Trị... có nhiều bãi cát trắng nối tiếp
nhau.Đó là nguồn tài nguyên khoáng sản
có giá trị kinh tế cao dùng để sản xuất
thủy tinh, pha lê, chất bán dẫn...
Ngoài các ví dụ trong SGK, GV có thể
sử dụng máy chiếu đưa thêm cho học
sinh 1 bài phóng sự về một chuyến ra
thăm đảo Trường Sa...đăng trên các báo.
- Gv cung cấp cho học sinh một số tin
tức thời sự về vấn đề biển đảo.

- Phần mục đích,
yêu cầu của bản


1.3. Chương trình Ngữ Văn 12.
STT
Tên bài
Địa chỉ tích hợp
1
Phát biểu theo Phần luyện tập
chủ đề

Nội dung và cách thức tích hợp
Gv cho HS chuẩn bị trước. Trên lớp
chia nhóm thảo luận phát biểu về chủ
đề “Góp đá xây Trường Sa”.
- Hai câu thơ : “ - GV mở rộng thêm về các điệu hò của
Đất là nơi con cư dân ven biển, một nét văn hóa đặc
chim
phượng sắc của vùng đất này.
hoàng bay về hòn
núi bạc/ Nước là
nơi con cá ngư
ông móng nước
- GV hỏi học sinh trả lời: Em biết gì
biển khơi”
- Các câu thơ có về các địa danh này?
nói đến các địa Từ đó GV mở rộng giới thiệu về các
danh ven biển: địa danh và đi đến kết luận: biển có
Hòn Trống mái, ảnh hưởng sâu sắc đến đặc điểm tự
Sông Cửu Long, nhiên của nước ta. Biển góp phần tạo
Vịnh Hạ Long...
nên những cảnh đẹp kì thú. Cái sâu

Người lái đó Hình tượng sông
sông Đà – Đà
Nguyễn Tuân

5

Bắt sấu rừng
U Minh Hạ Sơn Nam
Chiếc thuyền
ngoài xa –
Nguyễn Minh
Châu

6

Giới thiệu về rừng
U Minh Hạ ở
phần Tiểu dẫn
- Phát hiện về
cảnh đẹp thiên
nhiên thơ mộng
- Cuộc đời, số
phận của gia đình
người đàn bà
hàng chài.

7

Phát biểu tự Phần luyện tập
do

- GV gợi ý cho học sinh tìm hiểu thêm
về đời sống của ngư dân ở các làng
chài ven biển: mọi sinh hoạt đều trên
thuyền; đời sống khó khăn.Vì thế để
cải thiện đời sống cho họ cần phải có
một hệ thống giải pháp cụ thể.
GV dẫn dắt để HS tiến hành phát biểu
tự do về vấn đề: trách nhiệm của học
sinh đối với biển đảo quê hương.

bản Ngoài các ví dụ trong SGK, GV sử
dụng máy chiếu đưa ra cho học sinh
văn bản Luật biển Quốc tế năm 1982;
Tuyên bố về các bên liên quan ở biển
Đông (DOC).Sau đó khi hình thành
khái niệm,tìm hiểu các đặc trưng cần
chú ý để phân tích vào các ví dụ về
vấn đề biển đảo.
Trang 10


1.4. Nhận xét.
Qua phần thống kê tổng hợp trên có thể thấy:
- Số lượng bài có thể tích hợp nội dung giáo dục về biển đảo Việt Nam trong
chương trình NGữ Văn THPT chiếm tỉ lệ khá, 19 bài thống kê trên là những bài
điển hình.
- Ở phần Đọc văn: Số lượng bài có thể tích hợp nội dung giáo dục về biển
đảo Việt Nam là không nhiều. Địa chỉ để tiến hành tích hợp thường gắn với một chi
tiết, một hình ảnh, hoặc một hình tượng trong tác phẩm.Vì thế, khi tích hợp đòi hỏi
giáo viên phải rất khéo léo để không làm ảnh hưởng đến nội dung chính của bài.



- Cách lập dàn ý khi triển khai bài văn thuyết minh.
2. Kỹ năng
- Vận dụng những kiến thức đã họ về văn thuyết minh và kỹ năng lập
dàn ý để lập được một dàn ý cho bài văn thuyết minh có đề tài gần gũi, quen
thuộc.
- Thực hành lập dàn ý cho bài văn thuyết minh có đề tài gần gũi, quen
thuộc.
3. Mục tiêu tích hợp giáo dục về biển đảo: Hướng dẫn HS thực hành
thuyết minh về một địa danh thuộc chủ đề biển đảo.
I. PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
1. Phương tiện
- GV: SGK, SGV, Thiết kế bài dạy học; máy chiếu.
- HS: SGK, vở ghi, vở soạn, bút lông, giấy A4.
2. Phương pháp
Giáo viên tổ chức giờ học theo hình thức trao đổi, thảo luận trả lời các câu hỏi.
II. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới
Hoạt động của Thầy và trò
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: GV Hướng dẫn học sinh I. Dàn ý bài văn thuyết minh:
trả lời nhanh phần I.
Hoạt động 2: GV hướng dẫn học sinh
lập dàn ý thuyết minh về một danh
nhân.
GV chia nhóm thảo luận Làm dàn ý
cho bài văn thuyết minh về Đại thi hào

HS chuẩn bị trước ở nhà. GV cho Hs
hội ý và cho các nhóm trình bày bài thu
hoạch. GV nhận xét, đánh giá cho
điểm. (Tham khảo phần Phụ lục 1)

minh.
2. Thuyết minh về một danh lam thắng
cảnh
Ví dụ: Thuyết minh về biển Sầm Sơn.
a. Mở bài: Giới thiệu chung.
b. Thân bài:
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
- Các địa danh nổi tiếng
- Các câu chuyện truyền thuyết có liên
quan.
- Giá trị văn hóa, du lịch của Sầm Sơn.
c. Kết bài
- Đánh giá chung
III. Kết luận: (Ghi nhớ SGK)

Hoạt động 4: Theo em, phải làm gì để
việc lập dàn ý cho bài văn thuyết minh
đạt kết quả tốt? Cho Hs đọc phần Ghi
nhớ.
Hoạt động 5: GV hướng dẫn HS làm IV. Luyện tập:
phần luyện tập
1. Giới thiệu một tác giả văn học: Tác
Em hãy trình bày dàn ý giới thiệu về
giả Nguyễn Bỉnh Khiêm.
tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm.

bài học.
IV. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG:
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN-HỌC SINH

NỘI DUNG CẦN ĐẠT

Hoạt động 1: GV kiểm tra bài cũ:
Đọc thuộc bài thơ Bài ca ngất ngưởng
Bài thơ làm hiện lên con người NCT như thế
nào?
Hoạt động 2: GV hướng dẫn HS tìm hiểu
phần Tiểu dẫn
-Từ phần tiểu dẫn, nêu vài nét về tác giả Cao
Bá Quát?

I- TIỂU DẪN.
1. Tác giả
-Là nhà thơ có tài năng và bản lĩnh
-Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê
phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì
trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng
khai sáng có tính chất tự phát, phản
ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt
Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ
XIX
-Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?
2. Tác phẩm
-Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ được
Tích hợp giáo dục về biển đảo: GV giới hình thành trong khi ông đi thi Hội,
thiệu thêm về vùng biển miền Trung. Nhấn qua các tỉnh miền Trung đầy cát

có ý nghĩa tượng trưng.Ý kiến của em như
thế nào?
HS lựa chọn, phân tích, phát biểu
GV nhận xét, định hướng
Trước hết, đây là cảnh thực, việc người
đi trên cát cũng là thực-chính bản thân tác
giả đã nhiều lần đi qua những bãi cát trắng
mênh mông ở bờ biển Quảng Bình, Quảng
Trị để vào Huế thi Hội. Hình ảnh bãi cát
mênh mông, dường như bất tận, nóng
bỏng, trắng xoá là hình ảnh thiên nhiên
đẹp mà dữ dội, khắc nghiệt của miền
Trung nước ta.
Cảnh còn có ý nghĩa tượng trưng: bãi cát
dài là con đường phải vượt qua để vào kinh
thi Hội, để có thể mưu cầu sự nghiệp, công
danh

II- ĐỌC –HIỂU VĂN BẢN
1.Hình ảnh bãi cát dài và người đi
trên cát
-Không gian: bãi cát, lại bãi cát dài
Điệp từ gợi ra không gian mênh
mông cát trắng, hoang vắng đến rợn
người
-Thời gian: mặt trời lặn
-Con người: đi một bước lại lùi một
bước
Nước mắt rơi
điệp từ, đặt trong cách ngắt nhịp

(mồi danh lợi, bả công danh).CBQ đã nhắc
đến loại người này với sự chán ghét, khinh
bỉ.
-Hai câu tiếp cho em những hình dung gì?
(Hình ảnh về một quán rượu ngon, mọi
người say men rượu mà đổ xô đến)
-Cả 6 câu thơ cho thấy, CBQ đã nhận ra điều
gì về con đường công danh mà mình đang
theo đuổi

2. Tâm sự của người đi trên cát
-Không học được tiên ông phép ngủ
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi
Lời tự trách mình
-Xưa nay phường danh lợi Tất tả
trên đường đời
Niềm trăn trở của tác giả trước
hiện thực xã hội: công danh đã bị
biến tướng, gắn liền với danh lợi, và
người đời đua chen nhau vì danh
lợi.

CBQ đã nhận thấy tính chất vô
nghĩa của lối học khoa cử, của con
đường công danh theo lối cũ và tỏ
rõ thái độ chán ghét của mình, bộc
lộ cái nhìn tỉnh táo, sắc sảo trước
GV: Em hãy cho biết tác dụng của việc lặp hiện thực
lại hai từ “trường sa”?
3. Khúc ca về con đường cùng

Qua bài thơ này, hãy thử lí giải vì
sao CBQ đã khởi nghĩa chống lại
nhà Nguyễn
2.3. Giáo án thứ ba (Chương trình Ngữ Văn 12)
TIẾNG VIỆT: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ HÀNH CHÍNH
I.MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Nắm vững đặc điểm của ngôn ngữ dùng trong các văn bản hành chính
để phân biệt với các phong cách ngôn ngữ khác : chính luận khoa học và nghệ
thuật.
- Có kỹ năng hoàn chỉnh văn bản theo mẫu in sẵn của nhà nước, hoặc có
thể tự soạn thảo những văn bản thông dụng như : đơn từ, biên bản, .... khi cần thiết.
- Nội dung tích hợp về biển đảo Việt Nam: Các văn bản pháp lý của
Quốc tế và Việt Nam về vấn đề biển đảo.
II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
- Sách giáo khoa, sách giáo viên
- Thiết kế bài học.
- Máy chiếu.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Giáo viên tổ chức giờ học theo cách kết hợp gợi tìm, vấn đáp, trao đổi thảo
luận.
IV. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Kiểm tra bài cũ
2. Bài mới.
Hoạt động của GV-HS
Nội dung cần đạt
I. NGÔN NGỮ HÀNH CHÍNH LÀ GÌ?
Hoạt động 1: Tìm hiểu một
số văn bản
GV lần lượt chỉ định từng
1. Tìm hiểu văn bản

trong văn bản hành chính
GV yêu cầu HS tìm hiểu
ngôn ngữ được sử dụng trong
các văn bản trên (cần lưu ý
đến các văn bản về biển đảo)
a) Đặc điểm kết cấu, trình
bày.
b) Đặc điểm từ ngữ, câu văn.

+ Văn bản 2 là giấy chứng nhận của thủ trưởng
một cơ quan Nhà nước. Gần với giấy chứng nhận
là các loại băn bản như: văn bằng, chứng chỉ,
giấy khai sinh,…
+ Văn bản 3 là đơn của một công dân gửi một
cơ quan Nhà nước hay do Nhà nước quản lí. Gần
với đơn như: bản khai, báo cáo, biên bản,…
b) Điểm giống nhau và khác nhau giữa các văn
bản:
+ Giống nhau: Các văn bản đều có tính pháp
lí, là cơ sở để giải quyết những vấn đề mang tính
hành chính, công vụ.
+ Mỗi loại văn bản thuộc phạm vi, quyền hạn
khác nhau, đối tượng thực hiện khác nhau.
2. Ngôn ngữ hành chính trong văn bản
hành chính
+ Về trình bày, kết cấu: Các văn bản đều được
trình bày thống nhất. Mỗi văn bản thường gồm 3
phần theo một khuôn mẫu nhất định:
- Phần đầu: các tiêu mục của văn bản.
- Phần chính: nội dung văn bản.

Trang 18


Bài tập 1: Hãy kể tên một số
loại văn bản hành chính
thường liên quan đến công
việc học tập trong nhà trường
của anh (chị)
GV cho HS các nhóm thi xem
nhóm nào kể được nhiều và
đúng.
Hoạt động 5: Dặn dò
Chuẩn bị bài mới

Bài tập 1: Một số loại văn bản hành chính
thường liên quan đến công việc học tập trong
nhà trường: Đơn xin nghỉ học, Biên bản sinh
hoạt lớp, Đơn xin vào Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
Giấy chứng nhận, Sơ yếu lí lịch, Bằng tốt nghiệp
THCS, Giấy khai sinh, Học bạ, Giấy chứng nhận
trúng tuyển vào lớp 10, Bản cam kết…,

3. Những lưu ý khi thực hiện.
Để việc tích hợp phát huy hiệu quả tốt cần chú ý các vấn đề sau:
3.1. Về phía giáo viên.
- Bám sát nguyên tắc tích hợp.
- Có sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy học cả về thiết kế bài học và vận dụng các
thiết bị máy chiếu.
- Phát huy hiệu quả kỹ năng thực hành của học sinh bằng việc giao nhiệm vụ cho cá
nhân, nhóm.

Việt Nam, quan tâm đến tình hình thời sự của đất nước...
Để đánh giá sự chuyển biến của học sinh về vấn đề biển đảo Việt Nam, tôi
đã tiến hành kiểm nghiệm như sau:
- Đối với lớp 10: trong bài viết số 5 (gần cuối học kỳ 2), tôi cho học sinh
thuyết minh về một địa danh thuộc chủ đề biển đảo mà em yêu thích.
- Đối với lớp 11: Trong bài Luyện tập viết bản tin (Cuối kỳ 2), tôi tiến hành
kiểm tra 15 phút với đề bài: Viết bản tin ngắn đưa tin về khai mạc hè Sầm Sơn
2013.
- Đối với lớp 12: Trong bài ôn tập Làm văn, tôi cho học sinh lập dàn ý bài
văn nghị luận xã hội : Trách nhiệm của học sinh với biển đảo quê hương.
Kết quả thu được như sau:
Lớp
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
12C2
78%
16%
6%
0%
12C8
72%
15%
13%
0%
11A2
85%
11%
4%

Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra những kết luận sau:
Đóng góp của đề tài là ở chỗ: từ quan điểm tích hợp và thực tế từng bài trong
chương trình Ngữ Văn THPT người viết đã vận dụng giáo dục về biển đảo Việt
Nam với nội dung, liều lượng phù hợp và linh hoạt vào từng bài học cụ thể.
Tích hợp giáo dục về biển đảo Việt Nam cho học sinh THPT trong giờ dạy
học Ngữ Văn rất phù hợp và có tính thực tiễn cao. Việc tích hợp này không chỉ góp
phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho học sinh về biển đảo quê hương. Mà
thông qua các nội dung được tích hợp vào bài dạy học, giáo viên sẽ phát huy được
tính chủ động, tích cực của học sinh, làm cho Văn học gắn bó với cuộc sống, từ đó
tạo nên sự hấp dẫn cho giờ dạy học Ngữ Văn.
.
II. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT.
- Cần tăng cường tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về vấn đề biển đảo Việt Nam
không chỉ tới đối tượng học sinh mà là nhân dân cả nước đặc biệt là khu vực nông
thôn và vùng cao, vùng sâu.
- Khi biên soạn lại sách giáo khoa THPT cần tăng cường số tiết tìm hiểu về biển
đảo; đưa nội dung giáo dục về biển đảo tích hợp vào nhiều môn học.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
.............................................................................
.............................................................................
.............................................................................
.............................................................................

Thanh Hóa, ngày 08 tháng 05 năm 2013

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
tôi viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người thực hiện


Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn.
Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá
thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với những
thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách. Bãi biển
Sầm Sơn là một trong những bãi biển rộng và đẹp ở phía bắc.
Bãi biển Sầm Sơn chạy dài gần 6 km từ cửa Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ.
Bãi cát thoai thoải, sóng êm, nước trong xanh và nồng độ muối vừa phải rất phù
hợp với sức khoẻ con người.
Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn phú cho Sầm Sơn nhiều danh lam - thắng
cảnh nổi tiếng và lung linh sắc màu huyền thoại. Đó là dãy núi Trường Lệ chạy dài
theo mép nước bốn mùa thông reo, là hòn Trống Mái lãng mạn tình tứ, là đền Độc
Cước, Cô Tiên uy nghi cổ kính; là Vọng Hải đài- nơi du khách có thề ngắm cả một
vùng trời nước mênh mông. Các truyền thuyết còn kể lại rằng: Núi Trường lệ là
một thiếu nữ hóa thân để che chắn phong ba bão táp cho dân làng, hòn Trống Mái
được sinh ra từ một mối tình thuỷ chung của đôi vợ chồng trẻ còn Đền Độc Cước là
nơi thờ vị thần một chân, một anh hùng thần thoại đã tự xẻ thân làm hai nửa, một
trên bờ bảo vệ dân làng, một xuống nước diệt trừ Thuỷ quái.
Đền Độc Cước và Đền Cô Tiên đều là những kiến trúc được xây dựng từ cuối
đời Nhà Lê ( thế kỷ 17 ) ( đền Cô Tiên là nơi thờ vọng thần Độc Cước và Mẫu Liễu
Hạnh) theo lối kiến trúc cổ. Đó là những nơi mà du khách thường tới viếng thăm
mỗi khi đến Sầm Sơn.
Phía Nam dãy núi Trường Lệ còn có một bãi tắm rất đẹp, cảnh quan môi
trường còn rất nguyên sơ, nơi đây hứa hẹn một khu du lịch nghỉ dưỡng hiện đại
trong tương lai.
2. Giới thiệu về biển miền Trung.
Tại hội thảo Quốc gia với chủ đề “Khai thác tiềm năng biển, đảo vì sự phát triển
bền vững của Quảng Ngãi và miền Trung” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối
hợp với Ủy ban Nhân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức mới đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà
khoa học đã khẳng định miền Trung là vùng có điều kiện sinh thái đặc thù, có vị trí
địa lý, chính trị, kinh tế chiến lược quan trọng.

vực miền Trung, trước tiên phải khẳng định vị trí của vùng biển này, miền Trung
nằm gần một trong những tuyến đường hàng hải năng động nhất thế giới. Trên
tuyến đường chiến lược giao thông đường thủy quốc tế với 5/10 tuyến đường hàng
hải lớn nhất của hành tinh đi qua. Hàng năm, vận chuyển qua biển Đông khoảng
70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng
xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc.
Vị trí địa lý vùng biển này cùng với điều kiện địa lý đã cho miền Trung nhiều
cảng biển lớn như Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây, Tiên Sa, Dung Quất, Quy
Nhơn, Vũng Rô, Nhà Trang, Cam Ranh… trong đó có nhiều cảng nước sâu với
công suất hàng hóa thông qua cảng hàng chục triệu tấn/năm, tạo điều kiện tốt để
phát triển về vận tải biển và dịch vụ cảng biển.

Trang 24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status